26. NÂNG CAO GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO PHẬT PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ sáu - 06/12/2019 08:13
NÂNG CAO GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO PHẬT PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
 
ĐĐ. Thích Minh Tn
 
  1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HIỆN TẠI CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Nghiên cứu này tập trung vào tình hình hiện tại của Hệ thống Giáo dục Đào tạo Phật giáo Việt Nam thể dẫn đến hiệu quả trong hội nhập phát triển toàn cầu Phật giáo Việt Nam.
Mục tiêu của nghiên cứu này Hệ thống Giáo dục Đào tạo Phật giáo Việt Nam sở được chọn Học viện Phật giáo Việt Nam (sau đây gọi VBU) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay, Học viện Phật giáo Việt Nam (VBU) tại Thành phố Hồ Chí Minh một trường đại học chuyên về Cử nhân Phật giáo cho các thành viên Tăng đoàn sinh viên. Đã một số khóa học





*. Nghiên cứu sinh Đại học European International University (Pháp), Uỷ Viên Phân ban hướng dẫn Phật tử Trung ương, Trưởng ban quản chúng Tổ đình Chùa Bửu Quang, Trụ trì chùa Đại Thọ Phần Lan.
**. Phó viện trưởng – Viện Đào tạo Phát triển Doanh nhân Việt Nam (VIETD), Giáo tại Apollos University (USA), Giáo tại Đại học Khoa học Công nghệ Malaysia (MUST), Giảng viên tại một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, Nghiên cứu viên tự do.
 

thạcvề Phật giáo cho các sinh viên sinh viên Tăng đoàn, đã các khoá học thạc bằng tiếnvề Phật giáo (giảng dạy bằng tiếng Anh) cho các thành viên Tăng đoàn sinh viên quốc tế.
Quá trình phát triển của trường đại học liên tục chuyển đổi sửa đổi để áp dụng các phương pháp tiếp cận mới nhất cho các chiến lược giáo dục nhằm tăng cường chất lượng giảng dạy học tập tại VBU. Do đó, nghiên cứu này kịp thời cung cấp động lực để xem xét sự liên quan sự phù hợp của thực tiễn giảng dạy, học tập hiện tại với mối quan hệ gắn với sự hài lòng của sinh viên.
Chính sách hiện tại của VBU nếu không phù hợp, cản trở hoặc họ không thích, không đi đúng vào hệ thống đào tạo của Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam hoặc hệ thống giáo dục thế giới sẽ dần dần bị loại bỏ. Thực tiễn chiến lược cho việc dạy học, thực hành chiến lược sẽ thay thế phương pháp truyền thống đã được sử dụng trước đây.
Nghiên cứu này rất quan trọng để tìm ra các giải pháp biện pháp phù hợp để được nguồn nhân lực tốt nhất để họ thể đóng góp phần của mình nhằm tăng cường các nhiệm vụ hội nhập phát triển toàn cầu của Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu chính như sau:
    1. Xác định các yếu tố dạy học chính sẽ dẫn đến kết quả học tập cao hơn của sinh viên tại VBU.
    2. Xác định dịch vụ hỗ trợ sẽ dẫn đến thành tích học tập cao hơn cho sinh viên tại VBU.
    3. Xác định những đóng góp của sinh viên tốt nghiệp từ VBU cho các nhiệm vụ hội nhập phát triển toàn cầu của Phật giáo Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu khoa học này thực hiện các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đào tạo để lấy ý kiến phân tích.
Giáo dục đại học tại Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển quan
 

trọng. Các cải cách mới về quản lý chính sách, giáo dục đầu tư mới để cải thiện chất lượng vẫn vấn đề chính cần được giải quyết.
Tiếp tục những điểm yếu nghiêm trọng về chất lượng sở hạ tầng và các tổ chức, bao gồm giáo dụcđào tạo đại học. Hệ thống giáo dục đại học chịu chất lượng dưới tiêu chuẩn trong giảng dạy nghiên cứu, trình độ của nhân viên đại học thấp, năng lực R & D đầunghiên cứu thấp, tăng bằng chứng về tắc nghẽn kỹ năng phân phối hội không công bằng. Nói cách khác, hệ thống giáo dục đại học chưa các công cụ cần thiết để thích ứng với nhu cầu ngày càng tăng thay đổi của một nền kinh tế ngày càng năng động.
Hướng tới một hệ thống giáo dục đại học hiệu suất cao hạng nhất sẽ đòi hỏi một loạt các cải cách tạo ra một hệ thống linh hoạt đa dạng hơn, trong số các đặc điểm khác, khung quản trị quy định mới, tăng đáng kể tài trợ với sự tham gia của khu vựcnhân nhiều hơn lớn hơn nhấn mạnh vào nghiên cứu với sự phát triển tiềm năng của các trung tâm xuất sắc. Phát triển môi trường chính sách cung cấp cho các trường đại học cao đẳng nguồn lực đầy đủ, tự chủ đầy đủ khuyến khích phù hợp điều cần thiết để cung cấp các hoạt động nghiên cứu giảng dạy theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Điều này đòi hỏi những cải cách bản, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị, tài chính đảm bảo chất lượng.
Bộ Giáo dục Đào tạo, nơi quản điều chỉnh hệ thống giáo dục đại học trong nước, đã xây dựng các mục tiêu này trong Chương trình nghị sự cải cách giáo dục đại học, 2006-2020. Chương trình cải cách thúc đẩy một chương trình nghị sự hướng tới chiến lược phát triển một hệ thống giáo dục đại học tính cạnh tranh cao với năng lực nghiên cứu giảng dạy tiên tiến như động lực cho nền kinh tế dựa trên tri thức. Mục tiêu chính của chiến lược (i) tăng đáng kể tỷ lệ tham gia vào các trường đại học, (ii) đồng thời tăng cường chất lượng hiệu quả của hệ thống giáo dục đại học, (iii) tăng cường năng lực nghiên cứu trong các trường đại học để nâng cao chất lượng giảng dạy để cung cấp một sở nghiên cứu cho sự phát triển của ngành công nghiệp doanh nghiệp, (iv) cải
 

thiện quản trị của hệ thống giáo dục đại học. Bộ Giáo dục Đào tạo đối mặt với những thách thức to lớn, tuy nhiên, trong việc đáp ứng các mục tiêu cụ thể trong chương trình cải cách giáo dục đại học, bao gồm (i) phát triển các trường đại học trọng điểm thành trung tâm khoa học lớn cho cả nước bằng cách tăng thu nhập từ các hoạt động khoa học công nghệ (dịch vụ sản phẩm) lên 15% trong tổng doanh thu của các tổ chức vào năm 2010 đến 25% vào năm 2020; (ii) tăng tuyển sinh lên 200 sinh viên trên 10.000 dân vào năm 2010 lên 450 sinh viên trên 10.000 dân vào năm 2020;
(iii) nâng tỷ lệ nhân viên giảng dạy đại học với trình độ thạclên 40% vào năm 2010 lên 60% vào năm 2020; (iv) nâng tỷ lệ nhân viên giảng dạy đại học trình độ tiếnlên 25% vào năm 2010 lên 35% vào năm 2020; (v) giảm tỷ lệ sinh viên đại học trong đội ngũ giảng viên xuống 20:1 vào năm 2020.
Thách thức chính của Chính phủ vận hành các mục tiêu chiến lược này bằng cách thay đổi quản trị tài chính cấp hệ thống trong khi thúc đẩy hiện đại hóa cấp độ tổ chức. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi mô hình trong quảnngành, thay đổi từ mức độ kiểm soát trung tâm cao hiện nay đối với các vấn đề vận hành chuyển sang mô hình management quản lý bị phá hủy. Quảnchuyên nghiệp sẽ thấy Bộ Giáo dục Đào tạo hướng dẫn hệ thống bằng cách thiết lập khung chính sách quảntài chính để tạo thuận lợi cho kết quả giáo dục kết quả giám sát đối với trách nhiệm công cộng trong khi các trường đại học tự trị chịu trách nhiệm về chất lượng kết quả học tập, báo cáo cho Chính phủ về kết quả.
Chính phủ đang nhận được khoản vay đáng kể từ Ngân hàng Thế giới để hỗ trợ sự phát triển của ngành, thông qua hai chương trình cho vay hiện tại: Dự án Giáo dục Đại học thứ hai Hoạt động Chính sách Phát triển Giáo dục Đại học số 1 (Công cụ cho vay Chính sách Phát triển). Những cải cách này nhằm đưa ra các quy định hiện đại về quản trị hệ thống, tài chính đảm bảo chất lượng. Mô hình mới NMU (Trường đại học kiu mới) slà nơi để thiết lập thử nghiệm tính chất, phạm vi mức độ của các cải
 

cách đó để phục vụ như các trường đại học trình diễn hỗ trợ Chính phủ xác định cách mở rộng tốt nhất các cải cách cho toàn hệ thống. Để hiệu quả như các trường đại học hình mới, NMU sẽ cần được cung cấp các chế quản lý mới về quản trị, tài chính đảm bảo chất lượng để làm cho chúng hoàn toàn hiệu quả, tự chủ cạnh tranh.
Những thay đổi về quy định được lên kế hoạch để thực hiện HERA (Chương trình cải cách giáo dục đại học) trong những năm tới đến năm 2020 sẽ đòi hỏi những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực quản trị, (i) về mặt lựa chọn lãnh đạo trường đại học, tuyển dụng, bồi thường quản lý học thuật nhân viên hành chính, tuyển sinh, lựa chọn chương trình học bằng cấp, lựa chọn các chủ đề nghiên cứu; (ii) tài chính, bao gồm học phí chương trình cho vay sinh viên, chương trình tài trợ nghiên cứu cạnh tranh khuyến khích tài trợ ngoài công lập lớn hơn; (iii) phát triển đảm bảo chất lượng nội bộ, bao gồm các nguồn lực bổ sung liên quan đến tiêu chuẩn hiệu suất cao hơn, trách nhiệm giải trình thông qua kiểm toán tài chính, học thuật các nguồn lực để đáp ứng một cách thích hợp với hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài của Chính phủ các quan kiểm định độc lập. Đầu tư lớn vào các sở hiện đại, phòng thí nghiệm nghiên cứu tiên tiến nắm giữ thư viện mạnh mẽ cũng được yêu cầu để mang lại sự cải thiện cần thiết về chất lượng, tính phù hợp khả năng cạnh tranh.
  1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM - TRIỂN VỌNG CHO GIÁO DỤC VIỆT NAM (BÁO CÁO VỀ PHƯƠNG HƯỚNGNHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM GIAI ĐOẠN 2016-2020, (2015))
Bài học đầu tiên rút ra từ sự phát triển thực tế của giáo dục Việt Nam, đặc biệt hơn 20 năm cải cách, là: Chính phủ phải luôn quyết tâm nhất quán trong các hành động nhận thức của mình, phải liên tục coi giáo dục đào tạo, cùng với khoa học công nghệ, như chính sách quốc gia hàng đầu. Quan điểm này cần được thể hiện thông qua một loạt các quyết định quan trọng, từ việc thiết lập môi trường pháp(ban hành luật, nghị định quy định), để
 

tăng cường các điều kiện hoạt động cho hệ thống giáo dục (chính sách liên quan đến tài chính, nhân viên giảng dạy, thể chất trường học các sở, v.v…), cũng như việc đánh giá các hoạt động giáo dục, làm cho khả năng đáp ứng của hệ thống đối với sự phát triển kinh tế hội một yêu cầu bản. Xuất phát từ quan điểm này, nhận thức về giáo dục ngày càng tăng, giáo dục đã thực sự trở thành nguyên nhân của cả nhà nước Việt Nam nhân dân Việt Nam.
Bài học thứ hai để phát triển, hệ thống giáo dục Việt Nam phải được đổi mới căn bản toàn diện để đi theo các hướng dân chủ hóa, hội hóa, đa dạng hóa, tiêu chuẩn hóa hiện đại hóa.
a) Liên quan đến dân chủ hóa, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực xây dựng một hệ thống giáo dục của mọi người, của mọi người của mọi người; chuyển đổi từ mệnh lệnh sang phong cách dân chủ với phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, thiết lập liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi ích của người học, giáo viên phụ huynh; tăng dần quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của tổ chức; và để thực hiện phân cấp thích hợp trong quảngiáo dục. b) Về hội hóa (hỗ trợ trực tiếp từ người học gia đình họ), hệ thống giáo dục Việt Nam đã trải qua những thay đổi bản: tất cả các nguồn lực hội đã được huy động; giáo dục phi chính quy đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ với nhiều tổ chức ngoài công lập được thành lập các chế độ giáo dục khác nhau được áp dụng để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người. Hiện nay, nhu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế tri thức đòi hỏi hệ thống giáo dục Việt Nam phải tăng cường hơn nữa quá trình hội hóa, phát huy thế mạnh thông qua sự hợp tác của nhà nước nhân dân, tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời để xây dựng một hội học tập. c) Liên quan đến đa dạng hóa, giáo dục Việt Nam đã được chuyển đổi từ hệ thống đơn điu, thiếu skhác bit giữa tính đng nht và tính độc đáo sang phong cách tổ chức hoạt động đa dạng, dẫn đến mở rộnghội học tập tăng khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người. d) Về tiêu chuẩn hóa, hệ thống giáo dục Việt Nam đang cố gắng chuyển từ các quy định chung sang các quy định cụ thể chi
 

tiết để trong bối cảnh tiếp tục mở rộng định lượng, việc đo lường hiệu suất chất lượng thể diễn ra củng cố đảm bảo chất lượng. Điều này bắt đầu với sự phát triển của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực giáo dục, đồng thời việc thiết lập chương trình / chứng nhận chương trình cũng như các điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục. Các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam hy vọng rằng hệ thống giáo dục Việt Nam sẽ thể, về tiêu chuẩn hóa, đạt được sự nhất quán trong đa dạng hóa đẩy nhanh quá trình hội nhập, hợp tác cạnh tranh với các hệ thống giáo dục tiên tiến khác trong khu vực quốc tế. e) Liên quan đến hiện đại hóa, các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam kỳ vọng sẽ đưa hệ thống giáo dục của chúng ta đến cấp độ khu vực quốc tế. Điều này đòi hỏi các tiêu chuẩn cao trong hệ thống tiêu chuẩn giáo dục quốc gia. Trong bi cnh của một quốc gia nghèo như Vit Nam, đây một thách thức lớn đòi hỏi các nhà giáo dục phải tích cực tìm cách thu hẹp nhanh chóng các lỗ hổng với các hệ thống giáo dục tiên tiến khác nhau trên thế giới.
Bài học thứ ba là, để mang lại những thay đổi bản toàn diện cho hệ thống giáo dục Việt Nam phản ánh các mục tiêu tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội hóa dân chủ hóa, các nhà hoạch định và quản lý chính sách giáo dục Việt Nam tin rằng cần phải đổi mới cách suy nghĩ, để thoát khỏi cái gọi cách suy nghĩ làm việc truyền thống, đặc biệt để tránh một phong cách quảntừng phần. Nhiệm vụ khó khăn nhất trong khi đổi mới cách suy nghĩ hiện tại trong giáo dục thiết lập một tầm nhìn tổng thể về giáo dục phù hợp với sự phát triển kinh tế hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế tri thức. Đồng thời, một phong cách làm việc mới cần được thiết lập cho tất cả các cán bộ giảng dạy quảngiáo dục, tập trung vào chất lượng hiệu quả làm sở để đánh giá. Hơn nữa, giáo dục một lĩnh vực rất nhạy cảm, đổi mới cách suy nghĩ của các nhà hoạch định quản lý chính sách giáo dục phải được chuyển thành đổi mới cách suy nghĩ của toàn hội. Để đạt được điều này, tất cả các thay đổi phải xuất phát từ nhu
 

cầu thực tế phục vụ lợi ích lợi ích lâu dài của mọi người; do đó, công khai minh bạch phải được coi yếu tố quan trọng nhất trong phong cách quản hoạch định chính sách giáo dục.đây, một thách thức lớn cần được giải quyết, đó mối quan hệ giữa đổi mới ổn định. Nhằm duy trì sự ổn định cần thiết trong giáo dục, mọi thay đổi phải tuân theo một lộ trình phù hợp, được tất cả các cán bộ giảng dạy quảngiáo dục hiểu được phụ huynh hội đồng ý, một trong những điều đó dẫn đến việc giữ gìn trật tự trong quá trình cải cách giáo dục.
Mục tiêu quan trọng cho sự phát triển kinh tế hội của Việt Nam trong những năm tới là: Từ đó đặt nền móng cho việc thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển nền kinh tế tri thức. Đó là, liên tục tăng nội dung tri thức trong tất cả các hoạt động phát triển kinh tế hội, mang lại những thay đổi bản trong giáo dục đào tạo. Từ quốc gia thực tế những bài học kinh ng- hiệmcác nước khác, nhiều nhà hoạch định quản lý chính sách giáo dục Việt Nam tin rằng hệ thống giáo dục Việt Nam mong đợi phải một hệ thống giáo dục mở mọi người đều thể tiếp cận dễ dàng; một hệ thống giáo dục nuôi dưỡng thúc đẩy sự sáng tạo của những người trẻ tuổi, với các tổ chức giáo dục - nhất các trường đại học - như những cái nôi của đổi mới khoa học công nghệ; một hệ thống giáo dục gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin viễn thông, để liên tục đổi mới nhưng giữ gìn sự ổn định; một hệ thống giáo dục thúc đẩy cạnh tranh giữa các sở giáo dục khác nhau để nâng cao chất lượng, dần dần nâng cao, thông qua hợp tác cạnh tranh với các tổ chức giáo dục nước ngoài, tình trạng khu vực quốc tế của Việt Nam. Hướng tới một hệ thống giáo dục như vậy không chỉ là thách thức còn hội cho Việt Nam; thành công trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự nhạy cảm của nhà hoạch định chính sách đối với các yếu tố mới khả năng thực hiện đổi mới trong bối cảnh hiện tại, cũng như những nỗ lực của đội ngũ giảng viên, quảngiáo dục, phụ huynh, người học toàn hội.
 
 
  1. Những vấn đề hội chính đối với Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo dục đại học sự kiểm soát của Chính phủ
Th nhất, Giáo dục Đại học Phật giáo một phần của Giáo dục Đại học Việt Nam. Hệ thống đại học Việt Nam cho đến nay đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi hệ thống học thuật của Liên Xô, trong đó các trường đại học chủ yếu các tổ chức giảng dạy, trong khi nghiên cứu được thực hiện bởi các viện nghiên cứu. Chính phủ Việt Nam đang cố gắng thúc đẩy các nhiệm vụ nghiên cứu đại học. Thật không may, những nỗ lực này đã gặp rất ít thành công.
Những vấn đề Việt Nam phải đối mặt trong giáo dục đại học ngày nay một phần hậu quả của chiến tranh kéo dài. Chính phủ Pháp cai trị Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1945 đầu rất ít vào giáo dục đại học. Do đó, chúng ta đã bỏ lỡ làn sóng đổi mới trong giáo dục đại học đi qua phần lớn châu Á trong đầu thế kXX (Valley &Wikinson, 2008).
Chất lượng giáo dục đại học kém một hàm ý khác: trái ngược với các đồng nghiệp Ấn Độ Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh cho các vị trí trong các chương trình sau đại học ưu Mỹ châu Âu (Valley &Wikinson, 2008).
Hiện nay, bốn Học viện Phật giáo: tại Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh Đại học Phật giáo Nguyên thủyCần Thơ dành cho các nhà Phật giáo Nguyên thủy. Viện nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thành lập năm 1984 một đơn vị riêng biệt với hệ thống đại học thuộc Hội đồng Tăng đoàn Phật giáo.
Trình độ đào to của các Học vin Pht giáo Vit Nam bgiới hạncác trường đại học, cao đẳng chuyên ngành. Các chương trình giáo dục được pha trộn giữa các văn bản kinh điển cũng như các môn khoa họchội (Thích Thanh Từ, 2001). Mục đích để cải thiện kiến thức thế tục cho các thành viên Tăng đoàn, để họ dễ dàng đóng góp thiết thực cho hội.
 
 
  1. Phật giáo được dạy như thế nào?
Trong giáo dục, nhng đim chính là phương pp đào to của các giảng viên thái độ học tập của sinh viên cả trong ngoài lớp. Hiện nay trên thế giới, ba hình thức giáo dục hiện đại được áp dụng
- Giảng viên làm trung tâm; Phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm Phương pháp tương tác.
Phương pháp truyền thống đã được sử dụng rộng rãi trong đó đặt học sinh vào thế bị động chứ không phải vai trò tích cực khuyến khích giao tiếp một chiều. Do đó, các giảng viên cố gắng nỗ lực để nhận thức được sự hiểu biết của sinh viên không bất kỳ phản hồi nào. Giải thích chung cho sự thụ động những nét văn hóa của văn hóa di sản Nho giáo được khẳng định định hình phong cách học tập của học sinh ở Việt Nam.
  1. sở vật chất kinh phí
Các Học viện Phật giáo tại Việt Nam đang phải đối mặt với một số vấn đề với các sở. Lớp học, thư viện không được trang bị tốt. Máy vi tính, túc xá, đa phương tiện nghiên cứu không sẵn cho sinh viên.
Việc xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam hiện đại mới trên khu đất rộng 23,8 ha tại Thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn hoàn thành đầu tiên thật khó để dự đoán hoàn thành do vấn đề kinh phí. Chỉ 83 tỷ đồng (khoảng 3,8 triệu đô la) trong số
2.000 tỷ đồng (khoảng 93 triệu đô la) - cho đến nay chỉ cần 4% yêu cầu về vốn (Tin tức của Học viện Phật giáo Việt Nam).
Học phí vai trò quan trọng. sẽ được sử dụng để tái đầuvào các trường đại học để liên tục cải thiện sở vật chất. Phí liên quan đến chất lượng giảng dạy học tập. Dưới đây bảng so sánh học phí của bậc cử nhân. Bảng dưới đây cho thấy sự bất hợp lý về học phí của các Học viện Phật giáo tại Việt Nam:
Đơn vị: USD
 
 
  Đại học Công Đại học Tư Đại học Quốc tế Học viện Phật giáo
Học phí  Trung bình 1 năm cho 1 năm học, năm 2014 >$400 >$1,000 >$4,000 >$145

Nguồn: Nguyễn Quý Hoàng (2015).
Đơn vị: USD
  Đại học Công Đại học Tư Đại học Quốc tế Học viện Phật giáo
Học phí trung bình cho 1 năm học, năm 2016 >$400 >$1,000 >$4,000 >$145

Nguồn: Các tác giả thu lượm (2016).
Về lâu dài, Hội đồng Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam cần những chính sách phù hợp để VBU thể thu nhập ổn định bằng cách tự kinh doanh. nhiều tranh luận về chủ đề này của các học giả Phật giáo bởi lối sống tu sĩ được lý tưởng hóa bởi Phật giáo rất tối giản về kinh tế (Thích Tâm Đức, 2016).
  1. Những vấn đề hội then chốt đối với Phật giáo Việt Nam
Trong lĩnh vực nghiên cứu Pht giáo, Pht giáo Vit Nam đã nhận được sự quan tâm không đầy đủ từ các học giả trong môi trường Euro-American. Một phần của điều này xuất phát từ những thành kiến học thuật ủng hộ Phật giáo tập trung vào văn bản hơn những biểu hiện đạo đức của thực tiễn Phật giáo. Sự thiên vị như vậy sở trong các cách tiếp cận cũ hơn đối với học bổng đặc quyền các văn bản nhất định và, từ quan điểm đó, xây dựng một bức tranh về tôn giáo trong khi chủ yếu bỏ qua các đại diện miêu tả
 

của cácnhân nền văn hóa tương ứng của họ. Văn hóa văn học Phật giáo Việt Nam đã không phát triển đến mức tương tự nhưcác địa phương Phật giáo khác sau đó đã được chú ý ít học thuật hơn. Ngoài ra, những trở ngại vẫn còn đối với những người hoàn thành nghiên cứu về tôn giáoViệt Nam, dưới chế độ cầm quyền, vẫn một chủ đề nhạy cảm. dụ, việc định vị truy cập các đối tượng để phỏng vấn xửcác tài liệu lưu trữ quan liêu nặng nề thể một thách thức hơn so với khi được thực hiệncác quốc gia đa số Phật giáo khác. Mặccòn nhiều hạn chế, công việc xuất sắc đã được thực hiệnViệt Nam, chiếu sáng một số lĩnh vực nhất định của lịch sử Phật giáo thực tiễn đương đại, nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong một số lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu Phật giáo Việt Nam.
Các ấn phẩm hấp dẫn, như McDaniel (2011), Kitiarsa (2012) Soucy (2012) đã giúp đẩy Phật giáo ra khỏi một phiên bản Phật giáo cũ, lý tưởng hóa, tập trung vào giáo luật, vào các hình thức biểu hiện tôn giáo phổ biến.
Liên quan đến một chủ đề đặc biệt trong Phật giáo vai trò của nó trong lịch sử Việt Nam, McHale (2004) DeVido (2007) đã làm sáng tỏ cuộc phục hưng Phật giáo thế kỷ XX tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều công việc vẫn còn trên di sản của phong trào này. Tóm lại, Phục hưng đã tìm cách củng cố biến đổi Phật giáo tại Việt Nam đưa nó trở lại thời kỳ hoàng kim của Phật giáo.
Hơn nữa, các văn bản Phật giáo mới đã được dịch đưa ra tình trạng quan trọng về thần học trong khi các học viên được khuyên nên đọc, nghiên cứu và hiểu chúng hơndựa vào việc đọc thuộc lòng không kiến thức về nội dung. Những người phục hưng Việt Nam tập trung vào sự tham gia với hội, thiết lập trường học, phòng khám, tổ chức và các phương tiện tiếp cận hội khác - nhiều trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
Phong trào Phật giáo hòa bình ở miền Nam Việt Nam một phần quan trọng của lịch sử gắn liền với cuộc Phục hưng vốn m đim chú ý của các học giả trong nhng m gn đây. Taylor
 

(2013) Miller (2013, 2015), đều những diễn giải bằng văn bản (thường khác biệt nhau) về phong trào này các nhân vật chủ chốt của nó.
Kể về niềm đam mê học tiếng Anh của sinh viên tại VBU, Thích Tâm Đức (2016) cũng trích dẫn rằng các sinh viên đăng các khóa học tiếng Anh cho Phật giáo là: (1) 40 sinh viên năm 2009; (2) 33
sinh viên 2011; (3) 30 sinh viên năm 2013; (4) 28 sinh viên năm 2015. Điều này nói lên rằng tinh thần thụ động của sinh viên trong việc học tiếng Anh.
  1. BÀI HỌC TỪ CÁC QUỐC GIA KHÁC
    1. Các trường đại học dựa trên Phật giáo tại Hoa Kỳ
Các trường đại học dựa trên Phật giáo tại Hoa Kỳ cung cấp giáo dục về nghệ thuật tự do các lĩnh vực chuyên nghiệp, trong khi sử dụng các phương pháp thử nghiệm thời gian của phạm truyền thống Phật giáo. Bởi những trường đại học này thường không được công chúng biết đến, nên cần cung cấp thông tin về lịch sử, chương trình học thuật thành công giáo dục được tạo ra trong khuôn viên của họ. Các trường đại học này phục vụ như một mô hình giáo dục đại học thành côngnhiều cấp độ khác nhau mang lại kết quả khả quan cho cả những người cung cấp những người nhận được giáo dục đại học.
Phật pháp đã lan truyền ở Hoa Kỳ theo nhiều cách khác nhau. Một cách quan trọng đã thấm thành công ý thức của công chúng rộng lớn hơn thông qua các tổ chức giáo dục. Điều này phù hợp với bản chất của Phật giáo. Ở mỗi quốc gia nó được truyền trong lịch sử,đã tạo ra các trường học, trường đại học các trung tâm khác nhau để học tập, thiền định thực hành đạo đức. Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu điu tra một loại tổ chức giáo dục Phật giáo đặc biệt, họ gọi một trường “đại học dựa trên nền tảng Phật giáo” (Storch, 2013).
    1. Phật giáocác nước khác
Trong Pht giáo, tầm quan trng của các chui hiu ứng do
 

nguyên nhân gây ra, với sự phân nhánh vượt xa mục tiêu chính của hành động khởi tạo (và thường trở lại với tác nhân ban đầu), được liên kết chặt chẽ với các khái niệm trung tâm về hiệu ứng lan tỏa bên trong hoặc bên ngoài (Daniels, 2003).
Trên khắp lĩnh vực rộng lớn của lý thuyết hội, những giải thích về động cơ, lựa chọn hành vi của con người thường tập trung vào cuộc tranh luận của cấu trúc quan (Hay, 2001).
Trong Pht giáo, dường như có một vai trò mạnh mẽ được quy cho quan về khả năng thay đổi động ý định cá nhân mặcđiều kiện cuộc sống nghiệp chướng tích lũy ảnh hưởng đến một tình trạng khó khăn bất cứ lúc nào. Động lực mong muốn nằm dưới sự kiểm soát của cá nhân mặccác lực lượng văn hóa cấu trúc (hoặc ít nhất bên ngoài) ý nghĩa xác định định hình vai trò, động địa vị của kinh tế hội rộng lớn hơn. Một loạt các yếu tố sẽ hoạt độngđây bao gồm các phương tiện truyền thông, nhà nước, hệ thống tài chính các cấu trúc kinh tế thể chế khác, quán tính công nghệ sở hạ tầng xu hướng củng cố guồng quay của sản xuất,tiêu dùng. Điều này được tăng cường bởi sự khao khát các kích thích niềm vui dựa trên tiêu dùng để lấp đầy khoảng trống do hội quy mô lớn, sự bất thường mất liên kết cộng đồng.
3.3. Tạo ra các hệ thống kinh tế bền vững - Đóng góp từ quan điểm thế giới Phật giáo
Các đặc điểm chính của hệ thống kinh tế bền vững được lấy cảm hứng từ trí tuệ của thế giới Phật giáo. bao gồm một cuộc thảo luận song song về bản chất của những thay đổi phù hợp cần thiết. Một hệ thống kinh tế của thành phố khác được mô tảđây sự sắp xếp của con người giao diện với môi trường vật chất để được phúc lợi từ các nguồn nguyên liệu cuối cùng nguồn gốc từ thiên nhiên. Phúc lợi cũng thể được cung cấp từ các nguồn hội tình cảm (và tinh thần) và, trong khi đó chắc chắn những ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kinh tế, theo định nghĩa, chúng xu hướng nằm ngoài cốt lõi của kinh tế.
 

3.4. Những hỗ trợ thay đổi kinh tế khác
Một lựa chọn các thay đổi khác sẽ thúc đẩy các nền kinh tế bền vững lấy cảm hứng từ Phật giáo (BISE) đáng chú ý. Một tính năng bổ sung của BISE sẽ vai trò mở rộng của các doanh nghiệp tổ chức sản xuất hội sản xuất hàng hóa từ bi trực tiếp - sản lượng kinh tế giảm thiểu xáo trộn môi trường bị ảnh hưởng bởi các tác động lan tỏa tích cực đến hội để cải thiện đời sống làng quê ở Sri Lanka (Loy & Watts 1998).
Để hỗ trợ nhu cầu thông tin của nhiều thay đổi sản xuất tiêu dùng, việc mở rộng đáng kể giáo dục phát triển nguồn nhân lực cần thiết cho các kỹ năng kiến thức để hiểu giảm thiểu xáo trộn kinh tế qua ba cõi. Sự liên kết nội tại của sự tồn tại đòi hỏi các nghiên cứu liên ngành thể liên quan đến kiến thức sinh thái, kinh tế, tâm tâm linh. Các qui luật khác của kinh tế sinh thái dường như một bước trong hướng này.
  1. GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NÂNG CAO CỦA VBU THỂ ĐÓNG GÓP VÀO THÀNH TÍCH HỘI NHẬP PHÁT TRIỂN TOÀN CẦU CỦA TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Các nhà nghiên cứu thể thực hiện các cuộc phỏng vấn với những người được hỏi liên quan nhận được những phát hiện về các cách thức nâng cao giáo dục đào tạo VBU như sau:
(1) VBU thể cung cấp cho Tăng đoàn Phật giáo các sinh viên tốt nghiệp chất lượng để họ không những góp phần vào công cuộc phát triển tại Việt Nam, còn vào hội nhập toàn cầu phát triển Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam. (2) Với cải cách hệ thống giáo dục đào tạo, Ban hội của VBU thể đóng góp các nhiệm vụ nâng cấp nguồn nhân lực cho cả người Việt Nam Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam trong các nhiệm vụ nâng cao điều kiện sống giảm thiểu tệ nạn. Việc tiến hành các hoạt động từ thiện; (3) Với sự đa dạng hóa của các khoa và sinh viên, VBU có thể mở rộng quy môbằng cấp về giáo dụcđào tạo, nhưng trên hết, VBU có thể nhận được ngân sách (nhận được từ trường học) cho sự tồn tại phát triển của mình để thể giành chiến thắng những mục tiêu
 

nêu trên, thể thoát khỏi những trở ngại gánh nặng lớn đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  1. CÁC GIẢI PHÁP BIỆN PHÁP NÂNG CAO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trong VBU, do đó cần kế hoạch sau:
  1. Yêu cầu Hội đồng quản trị VBU tập trung vào việc tăng cường sở vật chất sở hạ tầng để nâng cao thành tích của sinh viên. Trng m là các cơ scơ bn như lớp học, chỗ ở, cơ sở thể thao, cũng như cung cấp thư viện điện tử (elibrary) để cho phép các tu sĩ nam nữ làm quen với các nguồn bài báo trên internet;
  2. Tập trung vào việc tăng cường đội ngũ giảng dạy học tập tại VBU để nâng cao:
    1. Kiến thức, kỹ năng năng lực về phương pháp dạy học, đặc biệt những phương pháp liên quan đến sử dụng công nghệ
    2. Kiến thức thông tin bằng cách gửi cho họ tham dự các chương trình cung cấp trình độ cao hơn, chẳng hạn như chương trình cấp thạchoặc tiếntrong cả nghiên cứu Phật giáo cũng như các chương trình dựa trên thôngnhư MBA; DBA; MSC hoặc các tiếnkhác;
  3. Các tiện ích internet - để tăng cường củng cố các sở internet cho sinh viên học tập tại VBU nhằm cho phép các sở dịch vụ hỗ trợ trực tuyến kết nối nhiều hơn để cải thiện thành tích của sinh viên.
  4. Thiếu ngân sách cho việc xây dựng khuôn viên mới của VBU tại Minh Xuân. Việc xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam hiện đại mới trên khu đất rộng 23,8 ha tại Thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn hoàn thành đầu tiên thật khó để dự đoán hoàn thành do vấn đề kinh phí. Chỉ 83 tỷ đồng (khoảng 3,8 triệu đô la) trong số 2.000 tỷ đồng (khoảng 93 triệu đô la) - cho đến nay chỉ cần 4% yêu cầu về vốn (Thông tin của Học viện Phật giáo Việt Nam).
 

Thông qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp qua điện thoại (hoặc trực tiếp) một số chuyên gia, nhà giáo dục, giảng viên thực hiện khảo sát thông qua câu hỏi với người trả lời, các tác giả của nghiên cứu này đưa ra kết luận về Đại học Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
  1. Đội ngũ Giáo thọ, nói chung không đủ số lượng tại VBU (đối với việc phân bổ giáo thọ không đồng đều: ở một số khoa, rất phong phú, ở một số khoa còn thiếu), kinh nghiệm giảng dạy thấp, không hệ thống giáo thọ hữu của khoa;
  2. Nhìn chung, danh hiệu học thuậtkiến thức môn học của giảng viên tương đối thấp;
  3. VBU không tuyển dụng giảng viên giỏi chế thiếu nguồn tài chính;
  4. VBU không xây dựng đủ sở vật chất để phục vụ cho giáo dục đào tạo thiếu kinh phí;
  5. VBU không xây dựng hệ thống phòng ban, nhân viên chuyên môn thành tích phù hợp chuyên môn ảnh hưởng đến nhu cầu của sinh viên.
Tuy nhiên, đổi mới đáng kể cần thiết để cải thiện giáo dục đại học Phật giáo. Nếu được thực hiện đúng cách, Giáo dục đại học Phật giáo tại Việt Nam thể đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, hoàn thành nhiệm vụ quan trọng hơn thể vượt qua lĩnh vực học thuật thuần túy. Rốt cuộc, mục đích của Giáo dục Phật giáocấp độ cao hơn dạy cho con người đạt được sự giải thoátnhân bằng cách thực hành giáo lý Đức Phật trong cả cuộc đời. Trên hết, giáo dục này phải mang lại cho sinh viên thỏa mãn bản thân thực sự hiểu Phật giáo.
  1. KHUYẾN NGHỊ
    1. Gợi ý về chất lượng giảng dạy đào tạo
Quan điểm về “chất lượng giảng dạy đào tạo” rất phức tạp mở ra cho một loạt các định nghĩa diễn giải. Do đó, việc đánh
 

giá này đã áp dụng một cách tiếp cận thực tế, dựa trên cách tổ chức xác định chất lượng trong hoàn cảnh của chính họ.
Những thay đổi trong hồ sinh viên yêu cầu học tập trong những thập kỷ gần đây đã tác động quyết định đến nội dung chương trình giảng dạy phương pháp giảng dạy. Do đó, chất lượng giảng dạy phải được coi năng động, như một chức năng của sự thay đổi theo ngữ cảnh trong môi trường giáo dục đại học, như quốc tế hóa các nghiên cứu các nhiệm vụ bổ sung giáo dục đang được yêu cầu thực hiện (đổi mới, phát triển đời sống công dân phát triển khu vực), cung cấp một lực lượng lao động kỹ năng phù hợp để đáp ứng những thách thức của thế kỷ XXI.
Giới thiệu một chính sách thể chế hiệu quả cho chất lượng giảng dạy liên quan đến việc khai thác sức mạnh tổng hợp giữa hai nhóm yếu tố: (1) Các yếu tố bên ngoài các tổ chức,cấp quốc gia trong nhiều trường hợp quốc tế: chúng nhân tố hỗ trợ hoặc chất xúc tác, thúc đẩy khí hậu chung để công nhận chất lượng giảng dạy ưu tiên hàng đầu; (2) Các yếu tố thể chế bên trong: bối cảnh thể chế hoàn cảnh cụ thể khả năng ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của các sáng kiến giảng dạy chất lượng. Trên khắp các tổ chức các lớp chồng chéo (tổ chức, bộ phận, ngành học, chương trình) ít nhiều mở ra cho các sáng kiến giảng dạy chất lượng ảnh hưởng của chúng thay đổi theo thời gian. Phần lớn các sáng kiến được thực hiện bởi các tổ chức để nâng cao chất lượng giảng dạy (ví dụ đánh giá chương trình hoặc đào tạo giảng viên) theo kinh nghiệm giải quyết các nhu cầu cụ thể của họ tại một thời điểm nhất định. Các sáng kiến lấy cảm hứng từ văn học hàn lâm nghiên cứu về chủ đề này rất hiếm. Đối với một trường đại học để củng cố các sáng kiến này một cách mạch lạc theo một chính sách thể chế vẫn một nỗ lực lâu dài chịu nhiều ràng buộc. Không mô hình để làm theo, một loạt các điều kiện phải được đáp ứng. Các tổ chức nên nhận thức rằng đó môi trường địa phương của trường đại học, chủ yếu định hình mức độ cam kết của nó đối với chất lượng giảng dạy cam kết bền vững của lãnh đạo cấp cao của trường đại
 

học cần thiết để thành công trong giảng dạy chất lượng. Khuyến khích các sáng kiến từ dưới lên, từ các giảng viên, đặt chúng vào một môi trường học tập giảng dạy thuận lợi, hỗ trợ hiệu quả kích thích sự phản ánh về vai trò của việc dạy học trong quá trình học tập đều góp phần vào chất lượng giảng dạy.
Các tổ chức tiên tiến nhất trong các sáng kiến nhằm thúc đẩy chất lượng giảng dạy đã quy định ràng vai trò nhiệm vụ của nhà giáo dục trong quá trình học tập họ biết cách giải thích niềm tin của mình rằng chất lượng giảng dạy một lĩnh vực quan trọng để phát triển. Cả quy mô tính đặc thù của một tổ chức đều gây trở ngại lớn cho sự phát triển của các chính sách thể chế miễn sự tham gia của quản lý, của tổ chức ràng lâu dài, nguồn tài chính đầy đủ sở vật chất đầy đủ được dành cho chất lượng giảng dạy.
Cam kết về phía tất cả các bên liên quan của trường đại học, trên hết bởi cộng đồng học thuật, yếu tố quyết định thành công của bất kỳ chính sách nào nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy. Sự tham gia thúc đẩy sự cống hiến động lực của các giảng viên khi nó bắt đầu từ chính quan niệm về một hành động hoặc một chính sách trong đó chức năng giáo dục của họ được đưa ra tuyên bố ràng. Sự tham gia của các trưởng khoa cũng rất quan trọng khi các trưởng khoa, ở ngãđường giữa các quan ra quyết định của một tổ chức và các giảng viên trong công việc, khuyến khích sự thụ tinh chéo của các phương pháp chiến lược, xây dựng hỗ trợ các cộng đồng thực hành nuôi dưỡng sự đổi mới trong thực tiễn hàng ngày trong lớp học.
Việc triển khai các chính sách cho chất lượng giảng dạy cũng dựa trên năng lực của một tổ chức để đạt được sự cân bằng giữa các khía cạnh kỹ thuật của hỗ trợ chất lượng (ví dụ: phát triển các câu hỏi đánh giá khóa học) các vấn đề bản được nêu ra (ví dụ: đánh giá giá trị gia tăng của các sáng kiến giảng dạy trong việc đạt được mục tiêu chương trình giảng dạy). ràng, các mục tiêu liên quan đến chất lượng giảng dạy thể không bị giảm xuống, cũng không
 

đạt được thông qua, chỉ đơn thuần cải tiến kỹ thuật hoặc mở rộng các chế hiện có. Ngược lại, những vấn đề bản này sẽ mất đi sự liên quan nếu chúng không được hỗ trợ bởi các hành động cụ thể được coi hữu ích của cộng đồng học thuật. Tất cả chỉ vấn đề cân bằng, được thiết kế riêng cho văn hóa phương thức hoạt động của mỗi tổ chức.
Các sáng kiến giảng dạy chất lượng đã nhấn mạnh vai trò của giảng dạy trong quá trình chuyển đổi giáo dục, đã tinh chỉnh sự tương tác giữa nghiên cứu giảng dạy nuôi dưỡng văn hóa chất lượng trong cộng đồng học thuật.
Tuy nhiên, các tổ chức cần phát triển các phương pháp đánh giá sáng tạo để đo lường tác động của sự hỗ trợ của họ đối với chất lượng giảng dạy. Ngành giáo dục đại học vẫn đang vật lộn để hiểu mối liên hệ nhân quả giữa sự tham gia vào giảng dạy chất lượng kết quả học tập. do cho điều này nằmsự khác biệt trong cách tiếp cận giữa công việc giảng viên các hoạt động học tập, khiến cho bất kỳ mối liên hệ nhân quả nào giữa đầu vào kết quả đều khó đo lường, mặccác liên kết đó chắc chắn tồn tại. Các tổ chức xu hướng giám sát các sáng kiến của họ về bản thông qua các chỉ số hoạt động tài nguyên (ví dụ: cấu trúc chương trình giảng dạy, sử dụng công nghệ giáo dục số liệu tuyển sinh), trong khi kết quả học tập được hình thành bởi nhiều yếu tố xuất phát từ các biến phụ thuộc vào ngữ cảnh (ví dụ: sinh viên đặc điểm giảng viên), từ bối cảnh học tập xảy ra (ví dụ như giảng dạy, phạm, phương tiện học tập) từ kinh nghiệm học tập trước đây của học sinh. Một thămvề mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào, quá trình kết quả của giáo dục đại học đòi hỏi các phương pháp công cụ đánh giá tiên phong chuyên sâu.
Sự hỗ trợ cho chất lượng giảng dạy thường tạo ra nhận thức về trách nhiệm của các giảng viên trong quá trình học tập biện minh cho nhu cầu thể chế để giúp họ hoàn thành nhiệm vụ.
    1. Đối với Giáo thọ
Các sáng kiến giảng dạy chất lượng cung cấp một dịp để các
 

giảng viên suy nghĩ về vai trò của chính họ trong việc nâng cao chất lượng: những sáng kiến này giúp họ giảng dạy tốt hơn. Đạt được giảng viên cam kết thực hành phản xạ thích ứng hệ quả rất quan trọng:
  1. Dạy học dựa trên công nghệ (ví dụ: nền tảng học tập điện tử), mạng nội bộ diễn đàn thảo luận các công cụ phạm thể cải thiện sự tương tác giữa sinh viên với giảng viên đánh giá tiến bộ của sinh viên;
  2. Điều quan trọng liên kết thực tiễn công cụ với chính sách giảng dạy chất lượng của tổ chức liên kết kỳ vọng của giảng viên với kỳ vọng của tổ chức về kết quả học tập;
  3. Giảng viên tác nhân trung tâm cho sự phản ánh về các tiêu chí đánh giá của chất lượng giảng dạy: Những khía cạnh nào phải được giải quyết những thay đổi nào phải được đưa vào thực tế? Hợp tác với các đơn vị chất lượng trong thiết kế thực hiện chương trình giảng dạy thể một điểm khởi đầu tốt;
  4. Định nghĩa về chất lượng giảng dạy liên quan đến từng giá trị, năng khiếu thái độ của giảng viên: giảng dạy một hoạt động năng động, các khía cạnh chủ quan mạnh mẽ phụ thuộc vào triết lý giá trịnhân tập thể;
  5. Sự phát triển nghề nghiệp của giảng viên thể bị ảnh hưởng bởi thực tế các vấn đề giảng dạy chất lượng đang trở nên quan trọng các tổ chức đang tìm cách khen thưởng các giảng viên cam kết giảng dạy chất lượng;
  6. Đặt mức độ giáo dục trình độ cao hơn trong giáo dục, chẳng hạn như trình độ thạc tiến sĩ để phù hợp (nếu thể);
  7. Tìm kiếm hỗ trợ tài chính từ Chính phủ,nhân các tổ chức hội quan tâm đến giáo dục.
    1. Đối với sinh viên
Sinh viên, những người hưởng lợi chính của các sáng kiến giảng dạy chất lượng, đang ngày càng trở thành một lực lượng thúc đẩy chất lượng giảng dạy:
 
 
      1. Sinh viên thể hợp tác với các giảng viên nhà lãnh đạo trong định nghĩa của sáng kiến (và của chính khái niệm giảng dạy chất lượng), giữ cho sự tương tác tồn tại làm tăng mối quan tâm về việc giảng dạy, môi trường học tập, chất lượng nội dung thái độ của giảng viên. Họ thể đóng góp tốt nhất nếu được mời phục vụ trong các quan quản hoặc được sử dụng như các chuyên gia đánh giá ngang bằng với các nhà đánh giá học thuật; (2) Các nhóm sinh viên thể đưa ra những ý tưởng mới ảnh hưởng đến chính sách của tổ chức về chất lượng giảng dạy bằng cách đưa ra các cuộc thảo luận nêu vấn đề (Alves & Ra- poso, 2009).
    1. Các đề xuất cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Một trong những giải pháp biện pháp thể được sử dụng như gợi ý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam như sau:
Cải cách giáo dục đại học Phật giáo (Thích Nhật Từ, 2012)
a) Trình độ và thời gian đào to
a1. Nghiên cứu Phật giáo cao hơn: Từ hai đến ba năm, đối với nhng người tốt nghip (Tăng ni) từ Trung cp Pht học.
a2. Cử nhân Khoa học về Phật học: Bốn năm cho các Tăng ni, nhng người tốt nghip trung học, và từ Trung cp Pht giáo, hoặc từ hai năm đến hai năm rưỡi để lấy bằng Cao học Phật giáo, theo khóa đào tạo chung.
a3. Thạcnghiên cứu Phật học: Từ hai đến ba năm học cho những người bằng Cử nhân Phật học hoặc tương đương.
a4. Tiếnvề nghiên cứu Phật giáo: Từ hai đến năm năm học cho những người bằng ThạcPhật học hoặc tương đương.
  1. Phương pháp đào tạo: Phương pháp đào tạo để học đại học Phật giáo tôn trọng kiến thức phương pháp, học cách tự giác, rèn luyện thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo, giúp sinh viên Tăng nhân trở thành nhà nghiên cứu giỏi, thực hành ứng dụng tốt cam kết như một sự truyền Phật giáo hiệu quả.
 
 
  1. Quy định về chương trình khung: Các trường cao đẳng Phật học độc lậpcác tỉnh hoặc VBU cần tuân thủ chương trình khung do Ban giáo dục Tăng đoàn Trung ương Pht giáo Vit Nam ban nh cho các chương trình đào tạo riêngcác trường Cao đẳng Phật học, Cử nhân Khoa học Phật học, Thạc TiếnPhật học, bao gồm cả cấu trúc của nội dung khóa học, thời gian đào tạo, tỷ lệ thời gian đào tạo được phân bổ giữa các môn học. Dựa trên chương trình khung trên, Trường Cao đng Nghiên cứu Pht học và VBU có thể mở rộng mức giảm tối đa 20% cho các môn học phù hợp đặc điểm cụ thể của trường.
  2. Chương trình Đào tạo: những điểm tương đồng, tăng tới 80-90% so với chương trình Cao đẳng Đại học đã đề cậptrên áp dụng cho hai m học đu tiên. Trong m học thba và thứ tư, VBU thể đào tạo chuyên ngành bao gồm: (1) Khoa Pāli; (2) Khoa nghiên cứu tiếng Phạn và tiếng Tây Tng của Pht giáo; (3) Khoa Pht giáo Trung Quốc; (4) Khoa Pht giáo Vit Nam; (5) Khoa Lịch sPht giáo; (6) Khoa Triết học Pht giáo; (7) Khoa Pht pp tiếng Anh; (8) Khoa Trung n Pht giáo; (9) Khoa Hoằng Pháp; (10) Bộ môn Học từ xa. VBU không đủ giảng viên để tnh lp các khoa độc lp có thể chọn Khoa Triết học Pht giáo cho nội dung đào tạo năm học thứ ba thứ(Thích Nhật Từ, 2012). Hơn nữa, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên đề nghị Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam hợp tác nhiều với các tổ chức Phật giáo quốc tế để tổ chức các hội nghị khoa học về Phật giáo nhằm giảm chi phí trong việc tạo ra các sự kiện tại Việt Nam.
    1. Các đề xuất khác
Các đề xuất khác cho VBU như sau: VBUs nên đề xuất:
      1. Chiến lược đổi mới đa dạng hóa các khóa học, sinh viên;
      2. Sự mở rộng của tất cả các khoa để họ thể cung cấp tất cả các hỗ trợ về nguồn nhân lực, giảng viên cho các yêu cầu đổi mới của hệ thống giáo dục đào tạo;
 
 
      1. Việc tăng học phí để VBU thể ngân sách mời các giảng viên thỉnh giảng xuất sắc.
Các đề xuất với Giáo hội Phật giáo Việt Nam như sau:
  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần đề xuất các tổ chức liên quan của Chính phủ để được sự chấp thuận cấp phép cho các chương trình đổi mới của VBU;
  2. Thiết lập sự đa dạng hóa về các loại sinh viên, các loại chương trình hệ thống đào tạo;
  3. Các nhà lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần phải tham gia các khóa học tiếng Anh để thể giao tiếp với các đại biểu Phật giáo quốc tế trong các hội nghị cũng như dễ dàng nắm vững xu hướng phát triển Phật giáo trên toàn thế giới hiện nay (thông qua internet các nguồn khác được xuất bản bằng tiếng Anh) trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu hóa.



***
 



Tài liệu tham khảo
Daniels, P. L. (2003): Buddhist economics and the environment: Material flow analysis and the moderation of societys metabo- lism, International Journal of Social Economics, 30(1–2):
8–33.
Decree 43/2000/ND-CP, dated August 30, 2000, Detailing and guiding the implementation of a number of articles of the ed- ucation law and decision 52/2002/QDBGDDT, promulgating the regulation on management of education at all levels.
DeVido, E. (2007), Buddhism for This World: The Buddhist Re- vival in Vietnam, 1920 to 1951, and Its Legacy, Modernity and Re-Enchantment: Religion in Post-evolutionary Vietnam (2007): 250–96.
DeVido, E. (2007), The Influence of Chinese Master Taixu on Buddhism in Vietnam, Journal of Global Buddhism 10 (2009): 413–458.
Hay, C. (2001): What place for ideas in the structure-agency de- bate? Globalisation as a process without a subject, First Press: Writing in the Critical Social Sciences, Available at http://www. theglobalsite.ac.uk/ . Retrieved July 21, 2016.
Kitiarsa, P. (2012), Monks, Mediums, and Amulets: Thai Popular Buddhism Today, University of Washington Press, 2012.
Loy, D. & Watts, J. (1998): The religion of consumption: A Bud- dhist rebuttal, Development,    41(1): 61–66.
McDaniel, J. (2011), The Lovelorn Ghost and the Magical Monk: Practicing Buddhism in Modern Thailand. Columbia University Press, 2011.
McHale, S. F. (2004), Print and Power: Confucianism, Communism, and Buddhism in the Making of Modern Vietnam, University of Hawaii Press, 2004.


Miller, E. (2015), Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam, Cambridge: Harvard University Press, 2013.
Miller, E. (2013), Religious Revival and the Politics of Nation Building: Reinterpreting the 1963 ‘Buddhist Crisis’ in South Vietnam, Modern Asian Studies, June 2015, Pp. 1-60.
Nguyễguy0. Hoàng, (2015), Higher Buddhist Education in Viet- nam: Challenges and Solutions, Available at http://ibc.ac.th/ en/sites/default/files/attachment/BE3%20Dr%20Nguy- en%20Quy% 20Hoang%20%20Higher%20Buddhist%20 Education%20in%20%20Vietnam,%20 C h a l l e n g e s % 2 0 and%20Solutions.pdf/ , Retrieved July 12, 2016.
Report on the Directions and Tasks for 5-year Socio-Economic De- velopment for 2016- 2010 ‘period. (2015).
Soucy, A. (2012), The Buddha Side: Gender, Power, and Buddhist Practice in Vietnam, University of Hawaii Press, 2012.
Storch, T. (2013), Buddhist Universities in the United States of America. International Journal of Dharma Studies 2013 1:4, DOI:10.1186/2196-8802-1-4.
Taylor, K. W. (2013), A History of the Vietnamese, Cambridge Uni- versity Press, 2013.
Thích Nhật Từ (2012), 12idge University Press, 2013.hư 12idge Univ,      sẵn   tại:   http://www.daophatngaynay.com/vn/phat- giao-vn/su-kien-van-de/16738-huong-den-cai-c ach- giao- duc- phat-hoc-tai-viet-nam.html/ , Truy xuất ngày 22 tháng 7 năm 2016.
Thích Tâm Đức (2016), Trích taocuích tao-duc-phat-hoc-tai-vi- et-n8 m 2016 t016HVPG Tp.o-duc-phat-hoc-tai-viet-nam.h Hồ Chí Minh.
Thích Thanh Từ (2001), Tr01)Tr01)n g01, Có s)nts: http://www. thuongchieu.net/index.php/phapam/suongmp3/2829-tro- venguongoc/. Truy xuuy //www.thuongchieu.n2016.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây