26. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO CHO TRẺ EM ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG XÃ HỘI

Thứ sáu - 06/12/2019 09:20
 
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO CHO TRẺ EM ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỘI
 
 
TS. Trn Hng Lưu*
 


Giáo dục đạo đức luôn mục tiêu hướng tới của các quốc gia, dân tộc. Các triết gia từ cổ kim Đông Tây từ Aristotle, Socrates, Democritos, Khổng Tử, Lão Tử, Gandhi, Hồ Chí Minh… ngoài trí tuệ uyên bác còn những nhà thực hành giáo huấnđại. Phật Thích ca một trong những nhà đạo đức xuất sắc luôn quan tâm đến giáo dục cho nhân loại trong đó có trẻ em (thiếu nhi). Bài viết đi từ những khái niệm cơ sở về trẻ em, luật quyền trẻ em, thực trạng đạo đức trẻ em nước ta vận dụng một số luận điểm về đạo đức - chủ yếu liên quan đến khẩu nghiệp, dạy cách nói năng đúng cách để góp phần giáo dục cho trẻ em nước ta hướng tới sự phát triển bền vững hòa bình, an lạc.
  1. CÁC KHÁI NIỆM BẢN
    1. Trẻ em ai?
nước ta, trẻ em những người dưới 16 tuổi. Một số nước quy định trẻ em dưới 18 tuổi. Trẻ em được đối xử bình đẳng, không pn bit trai, gái, màu da, sc tộc, vùng min. Trong bài này chúng tôi dùng thuật ngữ trẻ em thay cho thiếu nhi các luật công



*. Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng.
 

ước quốc tế đều chỉ nói đến trẻ em. Luật trẻ emViệt Nam số 102/2016/QH13 ban nh ngày 5-4-2016. Trong đó:
Điều 5. Nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền bổn phận của trẻ em
  1. Bảo đảm để trẻ em thực hiện được đầy đủ quyền bổn phận của mình.
  2. Không phân biệt đối xử với trẻ em.
  3. Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em.
  4. Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em.
  5. Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến trẻ em, phải xem xét ý kiến của trẻ em của các quan, tổ chức liên quan; bảo đảm lồng ghép các Mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - hội quốc gia, ngành địa phương.
Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm
  1. Tước đoạt quyền sống của trẻ em.
  2. Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
  3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.
  4. Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.
  5. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.
  6. Cản trở trẻ em thực hiện quyền bổn phận của mình.
  7. Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em nguy bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, sở giáo dục, quan,nhân thẩm quyền.
  8. Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ emđặc điểmnhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.
  1. Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, hại cho trẻ em.
  2. Cung cấp dịch vụ Internet các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.
  3. Công bố, Tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mậtnhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em.
  4. Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức,nhân dành cho trẻ em để trục lợi.
  5. Đặt sở dịch vụ, sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, nguy trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc đặt sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, sở giáo dục, y tế, văn hóa, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần sở dịch vụ, sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, nguy trực tiếp phát sinh cháy, nổ.
  6. Lấn chiếm, sử dụng sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ em sai mục đích hoặc trái quy định của pháp luật.
  7. Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, điều trị trẻ em nguy hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.1
 
 
    1. Quyền trẻ em
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được thông qua mở cho các nước ký, phê chuẩn gia nhập theo Nghị quyết 44/25 ngày 20-11- 1989 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. hiệu lực từ ngày 2-9-1990 theo Điều 49 của Công ước. Việt Nam phê chuẩn ngày 20-2-1990.
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được coi những vấn đề tính quốc tế biểu hiện ràng bằng văn bản được sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới, được cam kết thực hiện nghiêm chnh. Gốc rễ sâu xa của Công ước Quốc tế về quyền trẻ em từ 1923, khi Eglantyne Jebb, người sáng lập ra Quỹ cứu trợ trẻ em viết: ….. chúng ta phải đòi hi một số quyn trem và phấn đu cho sự thừa nhận rộng rãi các quyền này.”
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em bao gồm 54 điều khoản, trong đó đến 41 điều nói về các vấn đề ảnh hưởng đến trẻ em. Các quyền này được chia thành 4 nhóm: Quyền được sống còn; quyền được bảo vệ, quyền được phát triển, quyền được tham gia. Cụ thể:
Quyền được sống còn: gồm quyền được sống quyền được chăm sóc sức khỏe y tếmức cao nhất thể được. Sự sống còn chính giai đoạn khi cuộc sống trẻ em bị đe dọa bởi các nguy hiểm khó khăn. Mọi trẻ em quyền sống còn. Không được coi trẻ em những người chúng ta phục vụ. Phải xem trẻ em những thực thể, những con người nhu cầu, suy nghĩ chính đáng hoạt động đúng đắn như mọi người. Chúng ta phải trách nhiệm làm tất cả những thể để tăng cường các quyền được sống còn của trẻ em, hoặc vớicáchnhân.
Quyền được bảo vệ: gồm việc trẻ em thoát khỏi mọi phân biệt đối xử, lạm dụng hay không được quan tâm, bảo vệ trẻ em không gia đình cũng như bảo vệ trẻ em tỵ nạn. Mọi trẻ em do trẻ thơ cũng như những đặc điểm phát triển của mình cần được sự bảo vệ đặc biệt không phân biệt giới tính, quốc tịch văn hóa những yếu tố khác. Nhà nước, các tổ chức, nhân và bản thân các trẻ em đều có trách 
nhiệm thực hiện tôn trọng các quyền này.
Quyền được phát triển: gồm mọi hình thức giáo dục chính thức không chính thức quyền được mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, đạo đức hội của trẻ em.
Quyền được tham gia: gồm quyền của trẻ em được bày tỏ quan điểm của mình trong mọi vấn đề liên quan tới bản thân. Quyền dựa trên sự thừa nhận mỗi trẻ em một cá thể phát triển với những tình cảm ý kiến riêng của mình. Tin rằng trẻ em cần điều kiện tốt nhất để nói lên nhu cầu của mình. Với sự giúp đỡ tôn trọng đúng mực sẽ giúp trẻ em đưa ra những ý kiến quyết định ý nghĩa mang tính trách nhiệm. Chúng ta biết rằng trẻ em tính trung thực thái độ quan tâm, học hỏi đối với sự vật xung quanh trí tưởng tượng phong phú. Ý nghĩa của những đặc điểm này chất liệu để trẻ em thể tự tranh luận về hạnh phúc quyền lợi của mình.2
    1. Thực trạng giáo dục đạo đức của trẻ em nước ta hiện nay
Đọc báo, nghe đài, xem tivi đặc biệt trên mạng hội chúng ta thấy nhan nhản bao nhiêu thông tin phản cảm làm nao lòng người. Dưới đây chấm phá vài nét về thực trạng đạo đức đó ở nước ta hiện nay.
Về vấn đề trẻ mồ côi bị bỏ rơi, tính đến năm 2013 tới 176.000 trẻ3. Các số liệu này cho thấy, số trẻ em bị bỏ rơi không nơi nương tựa xu hướng ngày càng tăng lên. Số trẻ em này lớn lên không được chăm sóc giáo dục đầy đủ sẽ gây ra những hậu quả lớn như thế nào chúng ta chưa thể lường trước. những hậu quả của số trẻ em này phải gánh chịu khi gặp phải sự chèo kéo của các thế lực xấu sẽ để lại những di chứng cho hội cũng không dễ giải đáp. Một thống gần đây của Bộ Công an cho thấy tới 3.500 trẻ em người chưa thành niên phạm pháp luật trong 6 tháng đầu năm 20174.



  1. Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em.
  2. Tuyết Mai, “Việt Nam 176.000 trẻ bị bỏ rơi, mồ côi”, trang tin 24h, ngày 29/03/2013.
  3. “Tội phạm vị thành niên: Ngăn chặn ngay từ nhà trường”, Báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
 

Đó chính hệ quả tất yếu từ số liệu kể trên từ số nguyên nhân khác. Ngoài ra, tình trạng sống thử của lớp trẻ mới lớn ngày càng gia ng đáng lo ngi. Theo bn tin thời sự của Đài Truyn hình Việt Nam ngày 28/2/2017 tới 300.000 ca nạo phá thai mỗi năm trong độ tuổi từ 15 đến 19. Lối sống ảo được du nhập từ phương Tây được lan tỏa nhanh chóng bởi đủ các loại báo mạng với nền tảng giáo dục lỏng lẻo hoặc thiếu giáo dục đã dẫn đến kết quả đó.
Gần đây nhất vụ trai 6 tuổi bị lái xe bảo mẫu bỏ quên trên xe tại một trường mang danh quốc tế Nội lại một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự cảm của người lớn đã dẫn đến vi phạm quyền trẻ emnhiều khía cạnh khác nhau.
Nguyên nhân của thực trạng trên nhiều.đây chỉ điểm qua ngắn gọn một số nguyên nhân chính: thứ nhất, điều kiện khách quan kinh tế phát triển nhanh, con người đua nhau gia tăng của cải. Cha mẹ tập trung lo tiền bạc hướng con cái đến học những ngành tương lai về vật chất nhanh kiếm được nhiều tiều. Tâm lý đó phổ biến trong mọi người dân. Con cái chỉ học lấy tri thức bị hổng mất đạo đức. Đó chính bất cập lớn nhất, dẫn tới khi ra đời gặp những cảnh đời bất hạnh họ hầu như là vô cảm. Thứ hai, cha mẹ ít chú ý giáo dục con cái, thiếu sự phối hợp với nhà trường. Thậm chí nhiều cha mẹ khoán trắng việc giáo dục kể cả đạo đức k năng sống cho nhà trường. Họ quên rằng nhà trường chỉ một điều kiện chủ yếu trang bị tri thức chứ không thể liều thuốc vạn năng về mặt tinh thần cho mọi người học. Th ba, do hội thông tin bùng nổ, trẻ em được tiếp cận với nhiều luồng thông tin từ khắp nơi trên thế giới mang đến nhưng họ lại không được trang bị bộ lọc thông tin để phân biệt đâu thông tin hữu ích hay bất lợi. Lại thiếu sự quan tâm của cha mẹ dẫn đến trẻ em ăn mạng, ở mạng, uống mạng sinh hoạt từ những gợi ý trên mạng, dẫn đến nghiện mạng chát cùng các trò chơi điện tử mất thời gian bổ. Từ đó dẫn đến nguy cơ có thậttạo ra những con người chết cạn trên biển thông tin nhưng lại đói tri thức, đặc biệt tri thức đạo đức ứng xử giữa người người. đây nguy thể làm băng hoại tất cả.

Ch điểm qua một số sự kiện lược trên đây cũng để lại cho chúng ta nhiều suy ngẫm. Bức tranh đó đặt ra những câu hỏi nhân thế: phải chăng hội càng phát triển, vật chất càng đầy đủ thì tệ nạn càng gia tăng. Như thế không thể nói bài toán vật chất chìa khóa vạn năng để giải đáp mọi vấn đề nhân sinh một cách đầy đủ nhất lẽ còn vấn đề giáo dục, nhất vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, những người sẽ kế tục tương lai của dân tộc, đất nước, nhân loại. Một con người nếu chỉ được trang bị giáo dục tri thức chưa đủ còn cần phải được giáo dục đầy đủ về đạo đức thì mới hoàn thiện. Đó với những gia đình điều kiện vật chất đầy đủ, với những hoàn cảnh trẻ em khó khăn về vật chất thì vấn đề càng nan giải hơn. Câu trả lời lẽ phải tầm mô, đồng thời như đã biết, các chính phủ chu toàn đến đâu cũng không thể quán xuyến hết được mọi chức năng hội, trong đó vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em. Nhà trường, gia đình, hội cả các tổ chức văn hóa hội phi lợi nhuận, trong đó các nhà chùa... sẽ những gợi ý cho việc giáo dục trẻ em thông qua chăm sóc, nuôi dưỡng dạy dỗ qua các khóa tu mùa định kỳ sẽ góp phần mang lại những công dân trẻ ích cho hội. Giáo dục đạo đức Phật giáo cho trẻ em ít ranhững phạm trù bản sẽ định hướng góp phần giúp trẻ em cân bằng về mọi hiểu biết lẽ sống đạo đức, giúp họ một hành trang đi vào xây dựng cuộc sống an bình. Đó là chủ ý của phần sau.
2. 
ÁP DỤNG MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ EM VIỆT NAM

Phật giáo như đã biết một học thuyết vi diệu bàn đến vấn đề cứu khổ, diệt khổ cho chúng sinh, gắn liền với tên tuổi của Thái tử Tất Đạt Đa - Người đã quyết tâm từ bỏ cuộc sống phú quý nơi ngai vàng tương lai đang chờ đón để đi tìm kiếm con đường diệt khổ đau cho chúng sinh. Với tuyên bố nổi tiếng của Người: nước biển một vị mặn. Đạo của ta chỉ một vị diệt khổ để giải thoát cho chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Tuyên ngôn ngắn gọn dễ nhớ này đã được hàng trăm triệu chúng sinh trên toàn thế giới ghi nhớ qua thuyết Tứ Diệu Đế nổi tiếng. Sức lay động lan tỏa của học thuyết đạo đức này không chỉ ở phương Đông ngày nay còn lan tỏa ra khắp thế giới, đến tận nước M các vùng cựu lục địa kiên cố khácphương Tây.
Khi bàn đến giá trị của Phật giáo, tác giả Nguyễn Hồi Loan cho rằng: “Đạo Phật luôn đề cao lòng từ bi, nhân ái. Từ khi truyền vào Việt Nam, tinh thần cứu khổ cứu nạn của Đức Phật được phát huy rộng rãi ở một quốc gia bị nhiều cuộc chiến tranh tàn phá, thiên tai thường xuyên ập đến. Đây nguyên nhân quan trọng giúp cho Phật giáo gắn chặt đồng hành cùng dân tộc… Ngày nay Việt Nam quốc gia đang phát triển nhiều thành tựu nổi bật trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập quốc tế. Tuy vậy càng nhiều vấn đề hội bức xúc nổi lên. Các vấn đề hội này đang trở thành thách thức cho nước ta hướng đến sự phát triển bền vng. Trước tình hình đó, Pht giáo có vai trò quan trng góp phần hỗ trợ với nhà nước thực hiện tốt an sinh đảm bảo công bằng hội. Thiết nghĩ, đây còn duyên quan trọng để Phật giáo Việt Nam gắn chặt với sự phát triển của dân tộc trước mắt và tương lai.5 Học thuyết này kng pn bit màu gia, sc tộc và hoàn toàn không gây ra mầm mống của các hệ phái. thức tỉnh tâm trí con người, khai sáng cho họ nhận ra những lầm lạc đi đến từ bi hỷ xả với lòng vị tha. Học thuyết này giáo dục đạo đức cho mọi hạng người trong đó trẻ em - những mầm non của tương lai. Do giới hạn của một bài tham luận, một số luận điểm dưới đây, theo chúng tôi thể giúp giáo dục đạo đức cho trẻ em thành những công dân đủ đức tài phát triển lành mạnh trong tương lai, trở thành các công dân tốt đưa đất nước phát triển bền vững trong hòa bình, an lạc6.
Tác giả Nguyễn Duy Cần trong Tinh hoa Phật giáo6, đã cho rằng Phật giáo coi con người cần Tứ lượng tâm: Từ bi hỷ xả, coi đây nhân tố cốt lõi giúp phát triển tâm từ bi, hạnh cứu khổ đưa đến định hướng hoạt động cho con người con người. Theo Phật


  1. Nguyễn Hồi Loan, “Vai trò của Phật giáo Việt Nam trong công tác hội hiện nay”, Cổng thông tin Phật giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  2. Nguyễn Duy Cần (2008), Tinh hoa Phật giáo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
 

giáo, để các hoạt động hội đạt tới mục đích tốt đẹp, người hoạt động hội cần nuôi dưỡng phát triển Tứ lượng tâm. Cụ thể:
  • Từ từ ái, hiền lành, tình thương. sự thương yêu to lớn khắp mọi chúng sinh từ con sâu, cái kiến cả kẻ thù nữa.
  • Bi sự rung động trắc ẩn trước khổ nạn người khác muốn cho người ấy thoát nạn.
  • Hỷ niềm vui khi thấy người khác được hạnh phúc, xót đau khi người khác đau khổ.
  • Xả sự nhận định đúng đắn, không yêu ghét, vui buồn, oán hận, xả bỏ để lòng thanh thản.
Hơn thế trong giáoLục độ của Phật giáo gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ nêu con đường dẫn đến giác ngộ. Điều đầu tiên phải thực hành bố thí. Các hoạt động từ thiện chính hành động thiết thực nhất giúp người hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống miếng ăn, mái ấm che chở nắng mưa vượt qua số phận để hòa nhập với cộng đồng.
Tứ lượng tâm Lục độ cách giáo dục trẻ em biết thương người giúp đỡ người cách thể hiện tinh thần “thương người như thể thương thân hay phong trào Nhường cơm xẻ áo, lành đùm rách vốn rất quen thuộc trong dân tộc ta mỗi khi thiên tai, bão lũ đi qua.
thuyết về Nghiệp cũng thể giáo dục trẻ em nhiều điều, tránh xa các hậu họa thể có. Nghiệp do thân, khẩu, ý tức do lời nói, hành động suy nghĩ tạo ra. Riêng khẩu nghiệp do lời nói gây ra. Chúng ta ưu tiên bàn đến nghiệp này gắn liền thiết thân với trẻ em nhiều nhất. Ngạn ngữ chỉ ra vai trò của lời nói đúng sai. Một lời nói phát ra như mũi tên, hàng ngàn ngựa tốt cũng không thể đuổi kịp. khi anh ta chưa nói, người ta tưởng anh ngu, nhưng khi đã nói ra rồi thì người ta không còn hồ nghi nữa.
Ch riêng lời nói đã khẩu nghiệp, thể mang tới điều tốt xấu, sân hận. Lời hay thì ý đẹp. Một lời nói hay thể mang đến điều 
tốt lành, gây phấn hứng cho người đối diện. Người ta đã xấu chớ chê trực diện khiến họ nản lòng, hết động lực sống, phải tìm ra ưu điểm ở họ để khơi dậy hứng thú, lực sống nơi họ. Đó lời nói hay nghĩa tích cực. Người đã tốt, đã đẹp rồi cần phát huy ưu điểm của họ để khen. Lời nói ác tạo ra hậu quả xấu các bất lợi thể đang rình rập họ. Chẳng thế dân gian từng nói: Lời nói, đọi máu đó sao. Và một danh nn Trung Quốc cũng từng nói: Dao đâm có lúc thành thương tích. Lời nói đâm nhau hận suốt đời (Lưu Thiếu Kỳ). Ngẫm ra đó triết lý đích thực trực tiếp rút ra từ Khẩu nghiệp không cần luận chứng thêm.
Tác dng của lời nói khởi xut tmiệng - Khu nghip, có hai chiều: tích cực tiêu cực. người nói người ta vây đến nghe từng lời. Lại người nói, mọi người phải tản ra để tránh hậu họa. Khẩu nghiệp không chỉ gây hại cho cá nhân ngày nay trong hội thông tin bùng nổ, một lời nói không được kiểm chứng cẩn thận thể gây hậu họa cho số người. Một lời tuyên bố của quan chức kiểm tra thực phẩm không đúng đã từng làm điêu đứng cả một công ty, nghiệp thực phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của công nhân gia đình họ. Phát ngôn của quan chức ngành nước mắm của Bộ Công thương mới đây đã chẳng làm cho các lương dân bao đời nước mắm truyền thốngcác làng nghề xứ biển nước ta phải đau khổ ra sao. Lợi ích nhóm xen vào đã làm biến dạng lời nói của kẻ phát ngôn. không thể sửa sai bằng cách: tôi chưa nói gì, kiểu trẻ con được. Khẩu nghiệp trong học đường thể dẫn đến học sinh tự tử một phát ngôn xuẩn ác được thêu dệt lan truyền ra nhanh. Khi thầy dùng lời nói ác, xúc xiểm, cạnh khóe… thể làm cho học sinh mất động lực học tập, co mình lại, rụt không dám thể hin chính kiến, có thể dn đến tự klà vy. Trong lớp có kđt điều nói xấu không đúng sự thật lại kéokéo cánh dẫn tới bạn đó hoảng sợ, co mình, tự kỉ. Kẻ kia được thế lấn tới. đây chẳng phải nguyên nhân dẫn đến cảnh tượngáo quần rạch mặt, sỉ vả học sinh nữ ngày càng được chia sẻ rầm rộ trên mạng hay sao. Qua đó ta cũng thấy được tác dụng của việc dạy cách ứng xử nói năng với khẩu ngữ đẹp vai trò như thế nào.
 
 
  1. GIẢI PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN LỜI NÓI ĐẸP ĐỂ HƯỚNG TỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC AN BÌNHTRẺ EM
Lời nói, ngôn ngữ, cách nói năng liên quan nhiều đến con người từ nhỏ đến lớn cả lúc về trời. Lời nói ngay từ đầu liên quan đến trẻ em, do đó việc giáo dục đạo đức cho trẻ ngay từ đầu ý nghĩa quan trọng gắn liền với vận mệnh trẻban đầu người cho quan trọng hóa vấn đề, nhưng thực tế vậy. Đứa trẻ ngay từ khi mới chào đời, khi biết nói những từ ngữ đầu tiên được gia đình chú ý, chào đón trân trọng làm sao. Ngay cả phút cuối trăng trối trước lúc đi xa, lời nói cũng thật quan trọng. Con chim sắp chết, tiếng kêu bi thương, con người sắp chết thì lời nói phải. (Tăng tử thuyết: Điểu chi thương tử, kỳ minh ai; Nhân chi thương tử, kỳ ngôn thiện). Câu nói nổi tiếng trên được cả Lưu Bị thời Tam quốc ở nước Tàu xa xưa cả cụ Phan Bội Châu nước ta nhắc tới.
Dân gian ta cũng từng câu: Biết thì thưa thốt. Không biết thì dựa cột nghe. Lời nói vàng Im lặnglúc cũng vàng. Cần phải hiểu đúng ý nghĩa của chúng trong từng bối cảnh cụ thể thì mới thấy hết giá trị của chúng. Lời nói vàng khi nó mang tới xung lượng niềm tin tích cực cho con người tiếp tục vượt qua hoạn nạn để đứng dậy. Như liều thuốc tiên cứu sống con người đó. Chẳng hạn, khi con người gặp bất hạnh... không muốn sống nữa, lên chùa chỉ một lời khuyên: còn người còn tất cả, mất niềm tin mất hết… thì họ thể vượt qua. Im lặng vàng nghĩa với kẻ ác, kẻ say, kẻ điên, mất trí hay lũ cướp chúng ta không nên nói kẻo nguy hiểm đến tính mạng. Chẳng thế chúng ta từng nghe, một vụ án lãng nhách kgiết người chỉ vì bị nói đu hay nhìn đu. Trước lũ bt tiếu đó tốt nhất im lặng tìm cách tẩu vi thượng sách.
Cha ông cũng từng dạy: Học ăn, học nói, học gói, học mở. Con người sinh ra chỉ hơn năm biết đi nhưng cả đời học nói học giữ im lặng vậy. Lúc nào nói, lúc nào không. Nói nhẹ nhàng cho kết quả tốt. Nói gay gắt thể hậu họa sẽ chờ.
Nhà trường gia đình cần giáo dục cho trẻ em thấm nhuần ái ngữ trong việc rèn luyện lối sống. Dạy trẻ cách nói năng hay gọi là 
xã giao ti thiu. Trong Bát chính đạo có 8 con đường để giác ng mang lại hiệu quả khác nhau.đây ta chỉ dừng lại một chútChính niệm gắn liền với lời nói đẹp - ái ngữ. Chính niệm sự tỉnh thức, sáng suốt làm cho con người thanh tịnh lướt qua mọi sân si. Chính niệm giúp mọi hành vi con người trở nên đúng đắn. Chính niệm sẽ dẫn đến Chính định Chính ngữ. Chính ngữ không nói lời dối trá thêu dệt kiểu đòn xóc hai đầu thể gây ra bất hòa nguy hiểm. Lời nói làm tâm trí an nhiên, vui vẻ đó chính ngữ. Lời nói hay, nói đẹp làm người ta phấn khởi ái ngữ. Đó lời nói êm ái, dịu dàng xuất phát từ tứ lượng tâm từ tình yêu thương con người. Đó không phải Lộng ngữ tức khoe khoang, tâng bốc quá mức khiến người ta lầm tưởng ảo vọng hay còn gọi Ngoa ngữ. Người ta không cái đó mình cứ khen đại, khen phứa dẫn tới họ xấu hổ. Loạn ngôn dẫn đến thói xấu, cái giả danh lên ngôi một khi hội không chính danh thì mọi đầu mối sẽ loạn theo tất nhiên phong hóa đạo đức, trật tự hội sẽ không còn điều nguy hại sẽ đến tiếp theo. Tuy nhiên với người xấu nhất phụ nữ chúng ta cứ thật thà chê: trên đời này không còn ai xấu như em, thì lại gây ra sự sụp đổ phản cảm, tước hết động lực sống của họ.đây, câu nói: sự thật mất lòng thế.
Thực hành ái ngữ tránh cho người vạ miệng hay khẩu nghiệp. Như lời bài hát: “Khi đi em hỏi, khi về em chào. Miệng em chúm chím mẹ yêu không nào” đã nói lên tất cả.
Gia đình nơi sum vầy của trẻ em, nơi biểu hiện sự dịu dàng, nhường nhịn, hòa nhã giữa các thành viên. Lời ái ngữ dễ nghe, dễ cảm hóa con cháu, tạo sự hòa đồng giữa các thành viên. Cách nói, giọng nói cũng giữ vai trò quan trọng trong giao giữa người với người. Giọng nói êm ái, ngọt ngào sẽ dễ thu phục lòng người hơn sự to tiếng, ồn ào, chanh chua, cạnh khóe. Ca dao câu: Chim khôn tiếng hót rảnh rang. Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe. Điều đó cho thấy ái ngữ vai trò rất lớn trong việc tạo ra không khí vui tươi, hòa bình, thân thiện trong gia đình, nhà trường mở rộng ra cả hội tạo thành một tâm thế vui vẻ, an bình giữa người với người trong một thế giới đại đồng.
 
Trong kinh A hàm Pht tdy: Tâm khu nht như” nghĩa là tâm nghĩ sao miệng nói vậy một cách nhất quán. Còn tâm nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo thì đó người xảo trá, ít đức. Lời nói như tên bắn, người thông thái sẽ biết lựa lúc nói cái lúc nào không nói họ lường trước được hệ quả. Cũng câu: tai vách, mạch rừng để tránh thói nói xấu sau lưng khi cũng đến tai đối tượng và hu quả khôn lường. Trong kinh Pp Cú, Đức Pht có dạy: “Không phải nói nhiều mới xứng danh bậc, an ổn không oán sợ, thật đáng gọi bậc trí” (Pháp 258). Hơn thế, Phật tổ còn giảng k: “Không phải nói nhiều thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp nhưng trực nhận viên dung, chính pháp không buông lung thọ trì Phật Pháp” (Pháp 259).
Hơn thế nữa, chính ngữ chính niệm liên quan mật thiết đến Cấm nói dối hại người trong Ngũ giới. trong Thập thiện đến 3 điều liên tiếp, liên quan đến nói. Chẳng hạn, điều 4, không nói dối hại người nói lời chân thực đem lại lợi ích cho người. Điều 5, không nói lưỡi hai chiều gây ly gián chia rẽ, nói những lời khiến cho mọi người hòa hợp, đối xử thân ái tốt với nhau. Điều 6, không nói lời thô lỗ, chửi mắng tệ ác nói lời nhu hòa, êm ái, thuận tình, dễ nghe. dứt sạch nghiệp nói càn sẽ được 4 quả thiện báo được chư Thiên yêu mến ủng hộ; được người nghe sinh tín tâm thực hành; khiến cho ai cũng yêu mến tin nhận; sinh tâm hoan hỉ ngày chứng quả thượng bồ đề.
Nếu dứt sạch nghiệp lưỡng thiệt thì được 4 quả thiện báo: hòa thuận không cãi nhau; ai cũng yêu kính; đời sau được hưởng 5 quả báo tốt đẹp được vui vẻ đến tận khi nhập diệt7.
Ba điều trong Thập Thiện giáo dục trực tiếp trẻ em cách nói năng thật thà ngăn cản những sân hận chướng nghiệp thể có, tạo sự vui vẻ hòa nhã cho trẻ trong ứng xử với mọi người. Từ đó tránh được các quả báo nói dối, quả báo nói lưỡi hai chiều, quả báo ác



  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2018), Sự tích Nam hải quán âm, Nxb. Tôn giáo, tr. 50 56-58.
 

khẩu, quả báo ngữ tức lời nói người ta không tin nói năng khôngràng8.
Kinh Tăng Chi căn dặn klưỡng: Ai thành tựu thân m ác vi cha mẹ, lời nói ác với cha mẹ, ý nghĩ ác với cha mẹ, không biết ơn, không trả ơn, stương xng rơi vào đa ngc và hin đời sbđau kh.9
Tóm lại: không thể kể hết các luận điểm nhằm giáo dục đạo đức của Phật giáo đối với trẻ em.đây (trong phạm vi nhân bàn đến cách nói năng), phần cuối bài viết chỉ dành thời lượng chủ yếu nói về khẩu nghiệp liên quan đến lời nói, cách nói, giọng nói thái độ nói liên quan nhiều đến trẻ em của Phật giáo nhằm góp phần tạo ra những trẻ em biết nói năng đúng phép, cũng cách hạn chế các sân hận, vọng ngữ để vào đời với tâm thế hòa bình, an lạc cho hội đẹp tươi, phát triển vững bền. Với một tri thức đầy đủ cả về trí tuệ lẫn đạo đức, trẻ em sẽ bước vào đời một cách tự tin, vui tươi an lạc. Đó cũng chính mong mỏi của gia đình, nhà trường, hội đối với trẻ em - tương lai của đất nước, nhân loại. Đúng như Tôn chỉ của nhà Phật được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “… tôn chỉ, mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng một cuộc đời thuần m, chí thiện, bình đẳng, yên vui no ấm”10.



 
***


 

47.
  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2018), Sự tích Nam hải quán âm, Nxb. Tôn giáo, tr. 46-
 
  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2009), Kinh Tăng Chi, Nxb. Tôn giáo, tr.637.
  2. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 290.
 



Tài liệu tham khảo
Luật trẻ em số 102/2016/QH13 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Tuyết Mai, Vit Nam có 176.000 trbị bỏ rơi, mồ côi, trang tin 24h, ngày 29/03/2013.

Ti phạm vị tnh niên: Ngăn chặn ngay từ nhà trường, o Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Hồi Loan, Vai trò của Phật giáo Việt Nam trong công tác xã hi hin nay, Cng thông tin Pht giáo thuộc Giáo hi Pht giáo Việt Nam.
Nguyễn Duy Cần (2008), Tinh hoa Phật giáo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2018), Sự tích Nam hải quán âm, Nxb. Tôn giáo.
Giáo hi Pht giáo Vit Nam (2009), Kinh Tăng Chi, Nxb. Tôn giáo.
Hồ Chí Minh toàn tập (2002),, tập 8, Nxb. Chính trị Quốc gia.
 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây