26. BA ĐẠI GIÁO DỤC VÀ MỤC TIÊU GIẢNG DẠY CỦA ĐẠI HỌC PHÁP CỔ, ĐÀI LOAN, QUA TÁC PHẨM “CHIA SẺ KINH NGHIỆM HỌC PHẬT”1

Thứ sáu - 06/12/2019 03:50
 
BA ĐẠI GIÁO DỤC VÀ MỤC TIÊU GIẢNG DẠY CỦA ĐẠI HỌC PHÁP CỔ, ĐÀI LOAN, QUA TÁC PHẨM “CHIA SẺ KINH NGHIỆM HỌC PHẬT”1
 
TS.ĐĐ. Thích Vạn Lợi*
 
Chia sẻ nguồn tài nguyên về vật chất cũng như phương thức tổ chức, ý tưởng định hướng, v.v… trong giáo dục, đặc biệt giáo dục Phật giáo, sự giao lưu hỗ trợ để cùng thực hiệntưởng giải thoát khỏi phiền não, cùng nhau xây dựng sự hòa bình an lạc, xứng đáng người đệ tử Phật, đi theo chân lý từ bi trí tuệ của Ngài, trong bài viết này, người viết cũng chính dịch giả của tác phẩm Chia sẻ kinh nghiệm học Phật tại Đài Loan, muốn giới thiệu về “Ba đại giáo dục” của Pháp Cổ Sơn “Mục tiêu giảng dạy” của thầy hiệu trưởng đương nhiệm để chúng ta c thêm một sự nhìn nhận về ngôi trường Phật giáo tiên tiến hiện đại trên thế giới. Tìm hiểu về mục đích giáo dục của một ngôi trường, chúng ta phải đi từ mục đích đào tạo của họ, từ điểm quan trọng đó họ mới xây dựng nên nội dung giảng dạy, giảng viên tham gia, học viên theo học phương pháp đào tạo, cuối cùng đánh giá lại kết quả đào tạo để điều chỉnh



*. Đại đức - Tiến sĩ Thích Vạn Lợi, Ủy viên Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; Nghiên cứu viên Viện Trần Nhân Tông - Đại học Quốc gia Nội.
1. Chia sẻ kinh nghiệm học Phật của Hòa thượng - Giáo Huệ MẫnNguyên Hiệu trưởng trường Đại học Nghệ thuật Quốc lập Đài Bắc, Hiệu trưởng Đại học Pháp Cổ Sơn.
 

định hướng phát triển cho tương lai.
  1. “BA ĐẠI GIÁO DỤC” CỦA PHÁP CỔ SƠN: A+B+C=DHARMA DRUM
Nét đặc sắc của giáo dục Pháp Cổ Sơn tổ chức “Không gian giáo dục Pht giáo thế giới.
Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm (1930 - 2009) cùng Ban Giám hiệu đã xây dựng nên tôn chỉ của trường: Trên sở giới định tuệ của Phật giáo, lấy phương pháp văn tư tu, bồi dưỡng tăng tài hoằng dương Phật pháp, đem lại lợi ích cho chúng sinh.
Về mục tiêu giáo dục:
    1. Từ thực tiễn luận của Phật giáo Hán truyền, đào tạo Tăng tài c đầy đủ tri thức lẫn kinh nghiệm thực hành, niềm tin tôn giáo cao thượng, khích lệ đồng hành tịnh ha hội.
    2. Đào tạo Tăng tài phù hợp yêu cầu thực tế phát triển của thời đại, xúc tiến công tác văn ha giáo dục Phật giáo, quan tâm sâu sắc với hội.
    3. Tăng cường giao lưu quốc tế, đào tạo ngoại ngữ, xúc tiến Phật học giáo dục quốc tế ha, đào tạo Tăng tài c tầm nhìn xa rộng, đáp ứng năng lực hoằng pháp lợi sinh toàn cầu.
Đặc biệt, trong hội nghị trù bị lần thứ nhất vào ngày 02 tháng 03 năm 1999, nhằm khích lệ thành viên tổ công tác chuẩn bị, Ngài nhắc: “Không nên chỉ đứng trên lập trường của Pháp Cổ Sơn hoặc Đài Loan, cần c tầm nhìn xa tâm hồn rộng, suy nghĩ định hướng hàng trăm năm sau; phải tư duy từ gc độ toàn diện của Phật giáo, lên kế hoạch mục tiêu vào tương lai Đài Loan trung tâm giáo dục Phật giáo thế giới. Phải c niềm tin như vậy, nhất định ngôi trường Pháp Cổ Sơn giống với Đại học Nalanda, thu hút được nhân tài đến học tập thỉnh mời được giảng viên ưu tú ctưởng giáo dục tham gia”2.
Từ nghiên cứu học thuật của Pháp Cổ Sơn, kết hợp tổ chức tu


  1. Pháp Cổ Sơn Tăng già Đại học Phật học viện, Tôn chỉ sáng lập, Đài Loan, 218.
 

thiền trong ngoài nước, hoằng pháp cho đến các hạng mục giáo dục để làm an định lòng người, bảo tồn phát huy giá trị văn ha chăm sc sức khỏe tinh thần, đều lấy thái độ tích cực với cuộc sống, phát huy vai trò lấy bản thân làm gương, xây dựng nên lòng lương thiện trong hội quần chúng.
Trước thực tin đó, Pháp CSơn cụ thể quy nạp tnh “Ba đại giáo dục” Đại học viện, Đại phổ cập Đại quan tâm. Từ đó hình thành nên các phương pháp đánh thức tâm linh, xây dựng nên những chiếc cầu nối hướng tới xây dựng một môi trường an lạc thanh tịnh, dẫn đến c nhiều người hoan hỷ đồng hành trên con đường Phật học.
Hòa thượng Huệ Mẫn suy nghĩ, làm thế nào để từng bước lý giải kết cấu hệ thống “Ba đại giáo dục: Đại học viện, Đại phổ cập, Đại quan tâm” của Pháp Cổ Sơn, muốn tìm kiếm ý tưởng này c trong Tam tạng Kinh Luật Luận của Phật giáo không, hay sự sáng tạo mới để phù hợp với đương thời. Căn cứ kinh điển của Phật giáo với giá trị trung tâm “Bảo vệ môi trường tâm linh” của Pháp Cổ Sơn. Mi người đu dễ dàng hiu được tư tưởng Tâm tịnh, quốc độ tịnh” trong Kinh Duy Ma Cật. thế, thầy Thánh Nghiêm trong cuốn Phương hướng của Pháp Cổ Sơn, tập II, từng nói rằng: “Bảo vệ môi trường tâm linh dạy chúng ta tâm tịnh, quốc độ tịnh, lấy phúc điền của Bồ tát để nhìn tất cả chúng sinh. Tất cả chúng sinh đều ân nhân, lấy tấm lòng tri ân, cảm ơn, báo ân để sống, cuộc đời này chính là Tịnh đ.
Thế nhưng, tôi cũng c thể kết hợp hệ thốngluận “một tâm” - “ba đại” trong Đại thừa khởi tín luận để bàn về quan hệ giữa “Bảo vệ môi trường tâm linh” “Ba đại giáo dục” của Pháp Cổ Sơn. Bởi quyển thứ nhất của Đại thừa khởi tín luận c ghi: “Đại thừa c nghĩa cỗ xe lớn, trong đó c hai loại. sao c hai loại? Một pháp, hai nghĩa. Ni đến pháp nói tâm của chúng sinh. Chính tâm bao hàm tất cả các pháp của thế gian pháp xuất thế gian. Dựa vào tâm này thể hiện ý nghĩa Đại thừa. Tại sao vậy? Bởi tướng của tâm chân như chính nghĩa của Đại thừa. Chính tướng tâm
 

sinh diệt, c thể cho thấy bản thể, tướng trạng công dụng của Đại thừa. C thể thấy,tưởng trung tâm của Đại thừa khởi tín luận đặc tính bao hàm tất cả pháp thế gian pháp xuất thế gian xuất phát từ “tâm chúng sinh” (tâm bình đẳng chân thật của tất cả chúng sinh). Từ đ, hình thành nên lòng tin về tịnh độ do lượng kiếp hành Bồ tát đạo của Đại thừa lập nên.
Sau đó, Đi thừa khởi n luận ng nói rằng: Vphương din nghĩa gồm ba loại. sao lại ba loại? Th nhất thể đại, nghĩa thể của Đại thừa chân như tồn tại trong tất cả sự vật, không biến thiên, không tăng không giảm. Th hai tướng đại, nghĩa Như Lai tạng chứa đủ lượng công đức như đặc tính. Th ba dụng đại, c khả năng sinh ra hệ nhân quả thiện của thế gian xuất thế gian. Tất cả đức Phật đã lái cỗ xe này các Bồ tát đang tiếp tục nương theo pháp này để đạt được quả vị Như Lai”3.
C thể thấy luận này triển khai “Chúng sinh tâm” (một tâm) tnh Thể đi, Tướng đại và Dụng đi, làm giáo nghĩa hoạch m. Chúng ta c thể căn cứ vào điều này đề giải thích cơ cấu hệ thống “Ba đại giáo dục” của Pháp Cổ Sơn “Đại học viện, Đại phổ cập Đại quan tâm”4.
    1. Go dục Đi hc vin (Academic Education): Thđại(Trí tuệ như biển), Bồi dưỡng “Chuyên sâu”
Giáo dục Đại học viện (Academic) của Pháp Cổ Sơn nền giáo dục chính quy c hệ thống, đào tạo nên những nhân tài xuất gia lẫn tại gia đủ năng lực về nghiên cứu, giảng dạy, hoằng pháp phục vụ chuyên ngành. Trong hệ thống đó, bao gồm Vin nghiên cứu Pht học Trung Hoa tnh lp m 1985, Học vin Xã hi nn văn Pháp Cổ do Bộ Giáo dục quyết định thành lập năm 1998, Viện Phật học Đại học Tăng già thành lập năm 2001 Học viện Nghiên cứu tu tập Phật giáo Pháp Cổ thành lập năm 2006.


  1. Minh Bồ tát, Đại thừa khởi tín, Đại Chính tạng, tập 32, No. 1666, P. 576a1.
  2. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 439-440.
 

Đây là “Nn giáo dục Đại học vin với (Trí tuệ như bin) là chủ đề (Thể đại) Pháp Cổ Sơn đẩy mạnh “Bảo vệ môi trường tâm linh” (một tâm). Qua đ, giáo dục “chuyên sâu” trong hệ thống giáo dục Pháp Cổ Sơn, tránh rơi vào hời hợt thông tục”5.
    1. Giáo  dục  Đại  phổ  cập  (Broad-Based  Education):  “Dụng  dại” (Thuận lợi, Khéo léo), Mở rộng “Chiều rộng”
Nếu muốn xúc tiến ý tưởng đẩy mạnh “Bảo vệ môi trường tâm linh” thì không thể chỉ dừng lạigiáo dục Đại học viện, nếu như thế giáo dục không ra khỏi “tháp ngà” (tức nghệ thuật vị nghệ thuật, không phục vụ đời sống hội), không phát huy tác dụng trong thực tế cuộc sống của mọi người gp phần xây dựng hội. Chính thế, phải đưa nhữngluận thành quả của giáo dục Đại học viện, kết hợp tương tác với nhau, xây dựng nên những con đường tương lai rộng lớn, phong phú đa dạng để cho con người ngày nay hiểu biết về Phật pháp. Dẫn đến, sự thay đổi hành vi lối sống nội tâm của đại chúng, khiến cho những điều tốt nhỏ bé của mỗi người tích lũy tạo thành những điều tốt lớn lao trong hội.
Từ nền tảng như vậy, Hòa thượng Huệ Mẫn đưa ra phương pháp: Tổ chức các hot động hoằng pp ging dy như: tu thin, nim Phật, pháp hội, v.v… thông qua các kênh truyền thông như xuất bản truyền văn hóa, khiến cho ý nghĩa của Phật pháp được phổ cập trong hội, trở thành kim chỉ nam trí tuệ trong cuộc sống của mọi người. Với mục tiêu giáo dục Đại phổ cập này sẽ phát huy tác dụng lớn trong việc “Bảo vệ môi trường tâm linh” (một tâm), từ đó thực hiện “chiều rộng” trong hệ thống giáo dục Pháp Cổ, tránh rơi vào khẩu hiệu cường điệu, dễ xa rời hội quần chúng”6.
    1. Go dục Đi quan tâm (Care-Always Education): Tướng Đi(TBi vì quan Tâm), Giữ vng Chiều u, Duy trì m áp


  1. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 440.
  2. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 441.
 

Cuối cùng, mục tiêu của giáo dục Đại quan tâm luôn luôn (Always) quan tâm (Care) hội quần chúng. Cuộc đời của mỗi người từ lúc hình thành bào thai, sinh ra, bé thơ, thiếu niên, thành niên, thanh niên, già đi cho đến lúc lâm chung qua đời thì mỗi giai đoạn đều nằm trong phạm vi giáo dục đại quan tâm, từ đó thiết lập hệ thống giáo dục toàn diện, tạo hội cho mọi người học tập cả đời. Từ đó chia ra bốn sự quan tâm hoặc gọi bảo vệ: Bảo vệ môi trường tâm linh, bảo vệ môi trường sinh hoạt, bảo vệ môi trường lễ nghi, bảo vệ môi trường thiên nhiên. Cụ thể trong tác phẩm, Ngài giải thích:
  • Bảo vệ môi trường tâm linh: giữ vững sự bình yên thanh tịnh của tâm hồn chúng ta, đem tấm lòng khiêm cung từ bi, hằng ngày làm sạch những hạt bụi nơi tâm hồn để nhân phẩm được nâng cao, trái tim càng thuần khiết, cuộc sống tịnh độ, thế giới an lành hạnh phúc.
  • Bảo vệ môi trường sinh hoạt: giữ gìn sự thanh khiết trong sạch lối sống tiết kiệm khoa học, đối với việc ăn, mặc, ở, đi lại trong cuộc sống thường ngày phải biết đủ hạnh phúc, áp dụng quan đim của thin tông tu nh trong khi đi, đứng, nằm, ngi, từ đó không lãng phí năng lượng, không gây ô nhiễm.
  • Bảo vệ môi trường lễ nghi: giữ gìn sự tôn nghiêm hài hòa trong hội, bắt đầu từ “tịnh ha” trong suy nghĩ của mỗi người, để khiến cho con người đối xử với nhau được xuất phát từ nội tâm chân thành, không phải chỉ chú trọng hình thứcbề ngoài. Thực hiện “tịnh ha” trong hành vi, lời nói tâm hồn để thúc đẩy con người hòa thuận, hội yên ổn, thế giới hòa bình.
  • Bảo vệ môi trường thiên nhiên: giữ gìn sự tồn tại phát triển sinh thái toàn cầu. Nhận ra rằng con người một phần của tự nhiên, tất cả tài nguyên đều phải trân trọng sử dụng, không được lãng phí gây ô nhiễm.
Từ đó Ngài kết luận: “Phong trào về bốn cách bảo vệ môi trường” này hành động cụ thể xuất phát từ tâm được thể hiện ra ngoài, phát triển thành sự quan tâm chỉnh thể từ cá nhân đến hội,
 

nhân loại, môi trường, tự nhiên, sinh thái. Nền giáo dục từ bi quan tâm này, dựng nên hình tượng (Tướng đại) của “Bảo vệ môi trường tâm linh” (một tâm) để duy trì “chiều sâu” trong hệ thống giáo dục Pháp Cổ Sơn, tránh rơi vào giáo điều hình thức. Ngoài ra, cũng duy trì “ấm áp” trong hệ thống giáo dục Pháp Cổ Sơn tránh rơi vào cứng nhắc thờ ơ.
A+B+C=Dharma Drum A+B+C=Pháp Cổ
Trên đây chúng ta đã nói đến Đại thừa khởi tín luận cho rằng: “Chúng sinh tâm” (một tâm) chia thành “Thể đại, Tướng đại Dụng đi, từ đó giải thích “Ba đại giáo dục” của Pháp CSơn là “giáo dục Đại học viện, giáo dục Đại phổ cập giáo dục Đại quan m. Cũng từ đây có thể hiu được ABC của Pháp C(Dharma Drum) Sơn”7.
  1. MỤC TIÊU GIẢNG DẠY
Tm 2005, Bộ Giáo dục Đài Loan giao cho Trung m Đánh giá giáo dục đại học” chịu trách nhiệm đánh giá đại học, với mong muốn nhờ vào chế độ đánh giá định kỳ c thể bảo đảm môi trường học tập đại học tốt. Từ đ, hình thành nên tông chỉ “luật Đại học” “nghiên cứu học thuật, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao văn ha, phục vxã hội, thúc đy đt nước phát trin.
Hiện tại nội dung vàtiêu chuẩn đánh giáđi học gồm năm nội dung:
    1. Mục tiêu, đặc sắc tự cải thiện;
    2. Thiết kế giáo trình dạy học của giảng viên;
    3. Học viên học tập công tác sinh viên;
    4. Nghiên cứu trình bày chuyên nghiệp;
    5. Thể hiện của sinh viên khi tốt nghiệp.


  1. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 442.
 

Căn cứ vào tiêu chuẩn tham khảo không giống nhau trong từng nội dung (tổng cộng c 43 tiêu chuẩn), đề xuất dữ liệu định lượng hay thuyết minh tính chất, từ đó đưa ra căn cứ đánh giá thực tế.
Trào lưu đánh giá khảo chứng mang tính quy phạm phổ biến như vậy cùng với những kinh nghiệm làm công tác dạy học hành chính trong một thời gian dài của bản thân nên khi đối mặt với những hoàn cảnh giáo dục khác nhau thường khiến tôi nghĩ về nhiều tiêu chun đánh giá như thế này: Mc tiêu dy học cơ bn ca tôi là gì?, từ đ c thể đáp ứng những nhu cầu dạy học khác nhau”8.
    1. duy biểu đạt: duy trí, biểu đạt phù hợp
Đầu tiên, “tư duy biểu đạt” mục tiêu dạy học căn bản của Hòa thượng, để bồi dưỡng nên những nhân tài c thể “phát hiện” và giải quyếtvn đ, để lợi mình lợi người. Hy vng các học viên sẽ được bồi dưỡng năng lực “tư duy”trí “biểu đạt” phù hợp.
Giống như mục tiêu học tập Phật giáo “ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh. Tư duy như lýlà sự thanh tịnh trong ý nghip(tư tưởng), còn “biểu đạt phù hợp” sự thanh tịnh trong “khẩu nghiệp” (ngôn ngữ) “thân nghiệp” (hành vi)9.
    1. Nhận thức tầm nhìn: Đôi mắt sáng suốt - đài thế giới
Nhận thức tầm nhìn vận dụng “đôi mắt sáng suốt” “vũ đài thế giới, giúp cho học viên mở mang tầm mt để nhận thức thế giới xung quanh c tầm nhìn, c tính quốc tế, từ đó định vị chính bản thân trong một cá thể của nhân loại, một tế bào của sự sống trên hành trình này.
Hòa thượng chia sẻ: “Thường khi nói đến “quốc tế ha” giáo dục, thì chúng ta hay liên tưởng đến học tập ngoại ngữ quốc tế, tăng cường giao lưu giảng viên học viên quốc tế. Hoặc khi nghiên cứu về một chủ đề nào đ, thì phải c thành quả nghiên cứu quốc tế như


  1. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 448.
  2. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 449.
 

sưu tập, chỉnh lý, đánh giá phân tích. Thế nhưng, tôi cũng c thể c những vận dụng dưới đây:
Thông thường mi người thích tránh tai mt của người khác, hy vọng che giấu cái sai khuyết điểm của bản thân, giấu đi sự thật mình không muốn đối mặt, điều này thường dẫn đến lừa mình dối người... Ngược lại, nếu chúng ta c thể thực hiện trạng thái “mắt nhìn sáng suốt” “vũ đài thế giới” trong 24 giờ của một ngày thì sẽ khiến bn tn thu suốt, gii quan sát người khác; mi lúc mi nơi đều lấy “thế giới” làm “vũ đài” (sân khấu, nền tảng), chuẩn bị tiếp nhận sự kiểm tra đánh giá của tất cả mọi người. Như thế sẽ mượn lực đy lực, dễ dàng giữ được thanh tịnh ba nghip tn, khu, ý. Hơn na, mi lúc mi nơi đu ly thế giớilàm vũ đài, chuẩn bị phục vụ tất cả mọi người, dễ dàng duy trì khả năng sáng tạo, khiến cho sáng tạo không ngừng, cống hiến không giới hạn. 10
    1. ước thực tiễn: Hân hoan với hạnh nguyện đẹp, trang ng- hiêm tịnh độ
“Mơ ước thực tiễn” mục tiêu dạy học thứ ba của Hòa thượng. Ngài đã giới thiệu cho học viên đọc cuốn sách ước từ 1~100 tuổi. Trong tác phẩm đó là ni dung tập hợp nhng mơ ước của người Đài Loan từ 1~100 tuổi, tất cả mọi lứa tuổi ở mọi tầng lớp, ngành nghề, địa điểm. Để phát hiện mơ ước của người dân bản địa cho đến người di cư, từ nhân viên văn phòng bình thường đến những người thành công trong sự nghiệp, thậm chí những người bệnh tật hay sống trong gia đình đơn thân luôn biết vươn lên trong cuộc sống. Để từ đ, học viên biết được ước mơ của mọi người tìm cách thực hiện ước mơ đó trong cuộc sống. Hòa thượng viết: “Vì thế tôi thường hy vọng học viên c thể sử dụng môi trường tin tức “mắt nhìn sáng suốt” “vũ đài thế giới” trong Web 2.0. Chẳng hạn như dịch vụliệu điện tử (E-Portfolio) hay Blog kế hoạch phối hợp tư tưởng giáo dục, bất cứ khi nào “suy nghĩ” “biểu đạt”


  1. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 540.
 

việc bản thân biết điều gì? Sự khổ đau của chúng sinh nằmđâu? Vấn đề hoàn cảnh nằmđâu? Bản thân c thể làm điều gì? Làm thế nào cùng với con người hình thành nên sự tương tác lẫn nhau? Làm thế nào kết hợp đồng nh cùng tnh tựu Bồ tát là ước mơ.
Hơn nữa, tôi cũng khuyến khích học viên, biến các tổ chức đoàn thể đại học, thành phòng thực nghiệm để “thực hành” “ước mơ” hay mong muốn trong tương lai... Chính thế, đối với việc quảntổ chức các đoàn th, có thể muốn biến tnh png thực nghim, nỗ lực phát huy sáng tạo, để nghiên cứu, phát triển đưa vào thực tiễn những hạt giống tốt của bản thân những người trong tổ chức đoàn thể”11.
    1. Ước mơ, Dũng cảm, Trở thành, Tạo ra - Dream, Dare, Become, Create
Ước mơ, dũng cảm, trở thành và tạo ratừ ước mơ, nguyện lực hay mong muốn hy vọng, đi đến dũng cảm tinh tiến kiên trì thực hiện, thì nó sẽ thành tựu rồi mới tạo ra kết quả một sản phẩm nào đó. Như Hòa thượng chia sẻ: Tóm li, chúng ta có thể cả đời thích làm việc lợi mình lợi người, đó chính hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời. Nếu chúng ta c thể bồi dưỡng năng lực “tư duy”trí “biểu đạt” phù hợp. Thực hiện trạng thái “mắt nhìn sáng suốt” vũ đài thế giới, phát trin quan sát thế giới và tầm nhìn” quốc tế, thì có thể bi dưỡng tnh ước mơ” và thực tin. Trong tên tiếng Anh của Học viện Phật giáo Pháp Cổ (Dharma Drum Buddhist Col- lege- DDBC) như sau: Dream of a better world (Hân hoan với giấcđẹp), Dare to achieve it (Dũng cảm biến nó thành hiện thực), Become the part of the answer (Thành tựu chúng sinh), Create a pure land on earth (To nên cõi yên tĩnh trang nghiêm). Có thể nói, tôi cảm thấy rất vui đối vớitưởng giáo dục như thế này”12.



  1. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 451.
  2. Thích Huệ Mẫn, Chia sẻ kinh nghiệm học Phật, Hầu Khôn Hoằng, Trác Tuân Hoằng thực hiện, tại Đài Loan, Đài Bắc, Văn ha Pháp Cổ, 2015, 452.
 
 
  1. KẾT LUẬN
Thông qua sự giới thiệu về Ba đại giáo dục: Giáo dục Đại học viện chính quy c hệ thống, đào tạo nên những nhân tài xuất gia lẫn tại gia đủ năng lực về nghiên cứu, giảng dạy, hoằng pháp phục vụ chuyên ngành; Giáo dục Đại phổ cập đem nhữngluận thành quả của giáo dục Đại học viện, kết hợp tương tác với nhau, xây dựng nên những con đường tương lai rộng lớn, phong phú đa dạng để cho con người ngày nay hiểu biết về Phật pháp; Giáo dục Đại quan tâm bảo vệ môi trường tâm linh, bảo vệ môi trường sinh hoạt, bảo vệ môi trường lễ nghi, bảo vệ môi trường thiên nhiên; cùng với mục tiêu giảng dạy: duy lý trí biểu đạt phù hợp, Nhận thức sáng suốt tầm nhìn quốc tế, Dũng cảm mơ ước tạo ra thực tiễn của Giáo dục Pháp Cổ Sơn Hòa thượng Huệ Mẫn, hy vọng nền giáo dục Phật giáo, các trường c sự liên kết giao lưu hơn nữa, cùng chung chia sẻ nguồn tài nguyên, cũng như thành tựu đào tạo nghiên cứu, càng đng gp hơn nữa cho giáo dục sự sống, kiến thiết hội, doanh nghiệp, sáng tạo môi trường c bước đột phá, hình thành nên môi trường giáo dục đa nguyên của Phật pháp, năng lực thích ứng cho công dân quốc tế trong quá trình toàn cầu ha.



***

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây