25. QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA CẢM XÚC

Thứ bảy - 07/12/2019 06:25


 
QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA CẢM XÚC
 
    TS.ĐĐ. Thích Nguyên Pháp                                           
 

Cảm xúc một trong những biểu hiện sinh động của đời sống tâmcon người,là bản thể của hai mặt đau khổ hạnh phúc. vậy, cả Tâm lý học lẫn Thiền định Phật giáo (trong phạm vi bài viết chỉ giới hạn ở Sơ thiền) đều rất quan tâm đến cảm xúc. Vậy quá trình chuyển hóa cảm xúc trong đời sống tâmcon người gì? thuyết Tâm lý học Thiền định Phật giáo chống trái nhau hay bổ sung nhau? Chúng ta hãy khảo sát một cách ngắn gọn trong khuôn khổ một bài tham luận.
  1. TỪ GÓC ĐỘ TÂM HỌC
Để làm quá trình chuyển hóa cảm xúc từ góc độ Tâm lý học, chúng ta cần phải nói đến hai khái niệm cảm xúc trí tuệ cảm xúc.
    1. Cảm xúc
Cảm xúc (xúc cảm) tình cảm hiện tượng tâmphản ánh bằng những rung động trải nghiệm trong bản thân mỗi chủ thể. Rung động quá trình hoặc trạng thái tâm liên quan đến sở thích, tình thương, tình yêu, sự gắn bó của chủ thể đối với đối tượng. Cảm xúc những rung động đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ có liên quan đến nhu cầu, độngcủa chủ thể trong những tình huống nhất định. Cảm xúc một trạng thái phức hợp, kết quả của sự thay đổi về sinh lý, tâmảnh hưởng đến suy nghĩ hành vi của
 

con người. Cảm xúc của con người liên quan đến rất nhiều hiện tượng tâm lý, như khí chất, nhân cách, tâm trạng, động cơ… Các nhà Tâm lý học lọc ra sáu cảm xúc bản: Sợ, giận, ghê, ngạc nhiên, thích vui (Izard, 1977, 1990). Những cảm xúc nền tảng này xuất hiệncon người một cách độc lập hoặc cùng xuất hiện kết hợp với nhau tạo nên những cảm xúc mới, chẳng hạn: Sợ và ngạc nhiên tạo nên kinh sợ, giận ghê tởm tạo nên khinh thường, thích thú vui vẻ tạo nên lạc quan.
      1. Một số học thuyết về cảm xúc
Bản chất cảm xúc của con người không chỉ thuần túytâm còn phụ thuộc vào sinh thần kinh. vậy, khi khảo sát bản chất của nó, người ta thường bàn về các khía cạnh sinh của cảm xúc.
Thuyết tiến hóa: Nhà tự nhiên học Charles Darwin cho rằng cảm xúc khả năng thích ứng cho phép con người động vật thể sống sót sinh sản.
Thuyết của James-Lange: Nhà tâm lý học William James nhà sinh lý Carl Lange cho rằng cảm xúc diễn ra kết quả của phản ứng sinh lý đối với các sự kiện. Khi cá nhân nhận được một kích thích từ môi trường sẽ dẫn đến một phản ứng sinh lý. Phản ứng cảm xúc của một cá nhân tùy thuộc vào cách giải thích phản ứng sinh lý của người ấy.
Thuyết Cannon-Bard: Chúng ta cảm nhận được cảm xúc thông qua các phản ứng sinh lý như toát mồ hôi, run rẩy hay co đồng thời cùng một lúc. Cụ thể, khi đồi thị gửi tín hiệu đến bộ não để phản ứng trả lời kích thích sẽ sinh ra phản ứng vật lý. Cùng thời điểm đó, bộ não cũng nhận được tín hiệu khởi phát trải nghiệm về cảm xúc. Những trải nghiệm vật tâm lý của cảm xúc xảy ra đồng thời,  cái này không phải nguyên nhân cho cái kia.
Thuyết của Schachter-Singer: Thuyết này còn gọi thuyết hai yếu tố của cảm xúc, lý thuyết nhận thức về cảm xúc. thuyết này khẳng định kích thích vậtdiễn ra trước tiên, sau đó cá nhân xác định lý do cho kích thích này để trải nghiệm gắn nhãnnhư một cảm
 

xúc. Giống vớithuyết của James-Lange,thuyết của Schachter- Singer cũng cho rằng, con người suy luận về cảm xúc dựa trên các phản ứng sinh lý. Điểm mới tình huống sự giải thích nhận thức con người sử dụng để dán nhãn lên cảm xúc đó. Giống vớithuyết của Cannon-Bard,thuyết của Schachter-Singer cũng cho rằng, các phản ứng vậtgiống nhau thể tạo ra nhiều cảm xúc.
Thuyết thẩm định nhận thức: Theo thuyết này, suy nghĩ diễn ra trước cảm xúc. Chuỗi sự kiện diễn ra theo trình tự: Đầu tiên kích thích, sau đó là suy nghĩ dẫn đến đồng thời cùng lúc phản ứng vật cảm xúc. dụ, khi bạn đang đối diện với con thú dữ, ngay lập tức bạn nghĩ rằng bạn đang trong tình huống rất nguy hiểm. Suy nghĩ này dẫn đến cảm xúc sợ hãi phản ứng vật chiến đấu hay bỏ chạy.
Thuyết cảm xúc phản hồi trên gương mặt: thuyết này cho rằng sự biểu cảm trên gương mặt liên quan đến biểu lộ cảm xúc. Theo Charles Darwin William James, nhiều lúc phản ứng vật ảnh hưởng trực tiếp đến cảm xúc, không đơn thuần chỉ kết quả của cảm xúc. dụ, những người bị ép buộc phải nở nụ cười vui vẻ trong các buổi giao tiếp hội sẽ khoảng thời gian tốt hơn những người cau mày hay mang bộ mặt không cảm xúc.1
      1. Biểu hiện cảm xúc
Vậy làm cách nào để chúng ta nhận biết cảm xúc? Chúng ta sẽ dựa vào các biểu hiện bên ngoài bên trong của cảm xúc. Biểu hiện bên ngoài gồm có: Nét mặt, ánh mắt điệu bộ - cử chỉ. Biểu hiện bên trong gồm có: Rung cảm, xúc động tâm trạng.
        1. Các biểu hiện bên ngoài
Các biểu hiện bên ngoài của cảm xúc tín hiệu phi ngôn ngữ: Nét mặt, ánh mắt ngôn ngữ thể (hành vi, cử chỉ, điệu bộ). Chúng giúp chúng ta nhận ra cảm xúc của người khác truyền đạt tình cảm mình đến người khác.



1. 7, tr.390.
 

Nét mặt: Nét mặt sự chỉ dẫn đến cảm xúc người khác, nhà hùng bin La Mã Cicero nói: “Khuôn mt là hình nh của linh hồn. mặt của con người thể diễn tả được hơn 7.000 biểu cảm khác nhau. Những thể hiện cảm xúc qua nét mặt thường mang tính chất bẩm sinh, tuy nhiên, thể sự khác biệt nhỏ do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa. Ngoài ra, chính nét mặt, thể con người sẽ tác động ngược trở lại các trải nghiệm xúc cảm, tình cảm.
Ánh mắt: Đôi mắt cửa sổ tâm hồn (Stevenson, 1967). Chúng ta thường biết nhiều về tình cảm của người khác thông qua đôi mắt. dụ, chúng ta hiểu một cái nhìn chăm chú từ người khác dấu hiệu của yêu thích hoặc thân thiện, ngược lại, né tránh ánh mắt của chúng ta thì thể không thích, không thân thiện hoặc đơn giản xấu hổ; khích tướng, nhìn trìu mến...
Điệu bộ - cử chỉ: Ngôn ngữ thể sự thay đổi dáng điệu hoặc cử động bàn tay, cánh tay, chân để biểu lộ cảm xúc khi di chuyển từ sự kiện này sang sự kiện khác. dụ: khi vui mừng thể nhảy cẫng lên, cười nhiều, khi buồn nét mặt chảy xệ, vai xệ xuống, nói chậm lại; khi tức giận thì mím chặt môi, tay co lại; hoặc như bồn chồn, lúng túng hay vuốt tóc thường phản ánh hưng phấn mạnh hay giận dữ. Điệu bộ - cử ch cung cấp nhiều thông tin cụ thể về cảm xúc người khác, truyền tải ý nghĩa cụ thể trong văn hóagiáo dục, bộc lộ các trạng thái sinh như tuổi tác, thể chất, chân dung nhân cách.
Tóm lại, tín hiệu phi ngôn ngữ trong dáng điệu hay điệu bộ thể của một cá nhân thể bộc lộ mối quan hệ về chân dung nhân cách hoặc cảm xúc hiện thời.
        1. Các biểu hiện bên trong
Khi quan sát quá trình chuyển hóa cảm xúc, người ta thường chú ý đến các biểu hiện bên trong. Biểu hiện này, ở người, liên quan đến nhu cầu vật chất, tinh thần, được xây dựng lại chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm hội. Do đó, cách thể hiện cảm xúc được hội hóa mang dấu ấn văn hóa dân tộc, khác hẳn với động vật. Đơn cử như
 

tức giận chẳng hạn:Bàn tay nắm lại, hơi thở mạnh, nhịp thở ngắn, tim đập nhanh, môi mím chặt, mắt đỏ vằn, mặt đỏ, răng nhe ra, sẵn sàng tấn công để phòng vệ (không phải ai cũng đều nhe răng, thể họ chỉ mím chặt môi bỏ đi). Tuy nhiên, con người khả năng kim chế để thể hin sự chun mực xã hi như: Cgng ̀n lòng, cố gắng mỉm cười tiếp khách...
Các biểu hiện bên trong này khi được gọi xúc cảm. Xúc cảm thể nghiệm trực tiếp của một tình cảm nào đó. Đặc điểm chung của xúc cảm cường độ mạnh, rệt, xảy ra nhanh chóng do những sự vật hiện tượng cụ thể gây nên. Do đó, xúc cảm mang tính khái quát hơn so với rung cảm đồng thời cũng được chủ thể ý thức nét hơn. Chẳng hạn: Niềm hạnh phúc khi con cái thành đạt, tiếc nuối khi món đồ yêu thích bị mất đi hoặc hỏng. Tùy theo cường độ, tính ổn định mức độ thức xúc cảm được chia thành ba loại rung cảm, xúc động tâm trạng.
Rung cảm những xúc cảm cường độ rất yếu, chỉ tồn tại thoáng qua cùng với quá trình cảm giác nào đó (rung cảm còn gọi màu sắc xúc cảm của cảm giác). Kích thích gây ra rung cảm từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, chẳng hạn: Việc thưởng thức một bài thơ, văn, nhạc, bức tranh tạo nên những rung cảm nhẹ nhàng, hồi tưởng haymộng. Tuy nhiên, rung cảm tính chất rất cụ thể, thường không được chủ thể ý thức rệt đầy đủ.
Xúc động những xúc cảm cường độ rất mạnh, thời gian tồn tại ngắn, thể rơi vào trạng thái mất kiểm soát ý thức. dụ: Một bất ngờ quá lớn thể gây nênsốc về mặt tâmkhiến thể bị choáng hoặc ngất đi, cơn giận dữ khiến chủ thể mất kiềm chế thể gây tổn thương đến bản thân người khác. Chính mất kiểm soát ý thức dẫn tới mất kiểm soát hành vi, bất chấp hậu quả cho nên xúc động rất nguy hiểm cho chủ thể người xung quanh. Do đó, việc học cách kiểm soát những cơn xúc động rất cần thiết.
Tâm trạng những xúc cảm cường độ hơi yếu nhưng tồn tại dai dẳngkhi hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm. Chủ thể không ý thức về nguyên nhân hay nguồn kích thích cụ thể của
 

tâm trạng hiện tại. Tâm trạng như một trạng thái tâm lý, cùng tồn tại, bao trùm lên toàn bộ các rung động của chủ thể ảnh hưởng đến các hiện tượng tâmkhác cũng như hoạt động của chủ thể ấy. dụ: Tâm trạng căng thẳng, không tập trung khiến cho những quyết định sai lầm, hoặc tâm trạng lâng lâng sung sướng khiến chỉ nhìn thấy những mặt tích cực tính phê phán sẽ giảm xuống, lo lắng bất an sẽ tạo nên xúc cảm nghi ngờ thù địch...
1.2. Trí tuệ cảm xúc
Thông thường, chúng ta thường đối lậptrí với cảm xúc (xúc cảm), cho rằng chỉ trí mới thuộc về trí tuệ, còn cảm xúc thì không. Nhưng Tâm lý học hiện đại cho rằng IQ chỉ vùng hẹp của năng lực ngôn ngữ toán học2. Theo đó, hai loại trí tuệ trí tuệ trí trí tuệ cảm xúc. Trên thực tế, nếu không trí tuệ cảm xúc, trí tuệ lý trí không thể hoạt động sáng suốt.3 Những phản ứng cảm xúc nếu biết chuyển hóa thì cũng được xem trí tuệ. Vấn đề ở đây không phải sự giải thoát khỏi các cảm xúc thay thế chúng bằng lý trí, mà là sự cân bằng tốt đp giữa hai mt4. Trước đây, chúng ta thường quan niệm rằngtrí cần phải thoát khỏi các cảm xúc, nhưng theo quan niệm hiện đại sự hòa hợp giữa chúng với nhau. Nói cách khác, kiểm soát, định hướng cảm xúc theo hướng tích cực thì được gọi trí tuệ cảm xúc. Như vậy, từ góc độ Tâm lý học, quá trình chuyển hóa cảm xúc quá trình hình thành trí tuệ cảm xúc.
Nhìn chung, trí tuệ cảm xúc khả năng giám sát các cảm giác cảm xúc của bản thân người khác; khả năng phân biệt sử dụng những thông tin nhằm định hướng suy nghĩ, hành động của mình. Từ góc độ khác, trí tuệ cảm xúc khả năng thấu hiểu cảm xúc bản thân người khác dẫn tới định hướng hành động phù hợp.




  1. IQ revolved around a narrow band of linguistic and math skills. [1, tr.37]
  2. Two different kinds of intelligence: rational and emotional […]. Indeed, intellect can- not work at its best without emotional intelligence. [1, tr.29]
  3. It is not that we want to do away with emotion and put reason in its place, as Erasmus had it, but instead find the intelligent balance of the two. [1, tr.30]
 
 
      1. Biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
Phân tích khái niệm trên, chúng ta thể thấy trí tuệ cảm xúc năm biểu hiện sau đây:
  1. Ý thức
Ý thức các diễn biến cảm xúc của bản thân. So với ba biểu hiện bên trong như đã nói trên, việc ý thức hóa này chú trọng đến tâm trạng hơn. Đây sở nhất của trí tuệ cảm xúc làm nền tảng cho năng lực tự giải thoát khỏi tâm trạng xấu, cụ thể stress. nhân nhanh chóng nhận ra các dấu hiệu, chấp nhận mình đang trong tâm trạng tiêu cực cần được chuyển hóa thành tích cực. Khi tâm trạng được chuyển hóa thành tích cực, cá nhân sẽ nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống xung quanh.
  1. Kiểm soát
Đó năng lực làm chủ cảm xúc, làm cho tình cảm của mình thích nghi với hoàn cảnh. So với ba biểu hiện bên trong như đã nói trên, sự kiểm soátđây chú trọng đến xúc động hơn. Những người khả năng kiểm soát bản thân thường không để mình nổi giận hoặc nảy sinh lòng ghen tỵ thái quá, cũng không ra những quyết định ngẫu hứng, bất cẩn, luôn suy nghĩ trước khi hành động.
  1. Chế ngự
Những nhu cầu mãnh liệt sinh ra các cảm xúc hay ham muốn nhất thời. Các nhà Tâm lý học đặt ra vấn đề phần thưởng ít hay nhiều đối với một cá nhân: Muốn được ngay tức khắc thì được thưởng ít, nếu thể chờ đợi thì được thưởng nhiều. Qua đó để thăm dò cá nhân khả năng chế ngự hay không. Chế ngự sự kiềm chế các ham muốn để hoàn thiện bản thân. Tại sao lại hoàn thiện? theo họ,nhân không năng lực chế ngự cảm xúc thì ít trí tuệ, cho nên không thể hoàn thiện bản thân.
  1. Đồng cảm
Nói một cách đơn giản, đồng cảm sự nhận biết các cảm xúc của người khác. Sự đồng cảm yếu tố căn bản của trí tuệ quan hệ
 

nhân. Tình trạng không cảm nhận được cảm xúc của người khác thiếu sót nghiêm trọng về trí tuệ cảm xúc khiếm khuyết bi thảm về cái được xem là tính người5. Trong các mi quan hệ của con người, ân cần, trìu mến bắt nguồn từ sự hòa hợp với người khác khả năng đồng cảm. Đồng cảm hiểu được ước muốn, nhu cầu quan điểm của những người sống quanh bạn. Người biết đồng cảm rất giỏi nắm bắt cảm xúc của người khác. Nhờ vậy, họ luôn biết cách lắng nghe người khác thiết lập quan hệ với mọi người. Họ không bao giờ nhìn nhận vấn đề một cách rập khuôn hay phán đoán tình huống quá vội vàng. Họ luôn sống chân thành cởi mở, biết khắc phục thói vị kỷ (lấy cái tôi làm trung tâm),các xung lực là điều lợi về mặt hội: Đó năng lực đồng cảm, thật sự chú tâm tới người khác, tự đặt mình vào quan điểm của họ. Đồng cảm nguồn gốc của yêu thương vị tha.
Đồng cảm sự chuyển hóa cả ba biểu hiện rung cảm, xúc động tâm trạng của chủ thể. Đó gần như việc chủ thể phải đặt mình vào vị trí khách thể, tự tháo gỡ những thành kiến, phê phán khách thể, biến cảm xúc của mình giống như khách thể trên nền tảng nhân văn (tính người).
  1. Tự chủ
Tự chủ đây sự chủ động cả ba biểu hiện bên trong, là k năng điều khiển các cảm xúc của mình với người khác, biết cách làm cho mình được lòng mọi người, biết lãnh đạo hướng dẫn hiệu quả những liên hệ của mình với người khác, mở rộng mối quan hệ. Người giỏi giao tiếp - một đặc điểm khác của trí tuệ cảm xúc - thường khả năng làm việc nhóm tốt, họ quan tâm đến việc giúp người khác phát triển, làm việc hiệu quả hơn thành công của chính mình. Họ biết cách tranh luận hiệu quả, bậc thầy trong việc thiết lập, duy trì quan hệ hội.
Khái niệm về trí tuệ cảm xúc không chỉ dừng lạirung cảm, xúc động, tâm trạng còn được mở rộng đến tính cách đạo đức. Nền


  1. A tragic failing in what it means to be human. [1, tr.74]
 

tảng của tính cách năng lực tự thúc đẩy tự cai quản6. Năng lực trì hoãn sự thỏa mãn ham muốn, kiểm soát điều khiển nhu cầu hành động một dấu hiệu của trí tuệ cảm xúc, tức ý chí. “Chúng ta phải những người chủ của chính bản thân của những thèm muốn, đam mê thì mới có thể đúng đn đi với người khác. Như Thomas Lickona khẳng định về sự giáo dục tính cách: “Để được như thế, ý chí phải đt các cm xúc dưới skim soát của lý trí.
Trí tuệ cảm xúc tác dụng tạo ra hy vọng lạc quan. Về mặt trí tuệ cảm xúc, hy vọng nghĩa không lùi bước trước lo lắng, không buông tay hoặc chán nản khi đương đầu với khó khăn hay thất vọng. Lạc quan sự bước vào trạng thái sảng khoái, hưng phấn, đó tuyệt đỉnh của trí tuệ cảm xúc.
      1. Vai trò của trí tuệ cảm xúc đối với đời sống con người
Cảm xúc có vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động theo định hướng của nó. Sự định hướngđây nghĩa sự thể hiện cảm xúc, yếu tố bên trong của hành động trí tuệ, tâm thế theo suốt quá trình hành động chi phối các quyết định hành động.
  1. Vai trò thứ nhất của trí tuệ cảm xúc làm thay đổi số phận của chủ thể theo hướng tích cực. Chủ thể hiểu cảm xúc của mình nên không để chúng chế ngự, biết đâu điểm mạnh, điểm yếu để từ đó phát huy hoặc khắc phục. Chúng ta thường tự mặc định IQ mới yếu tố quyết định số phận: Học giỏi, thông minh... Nhưng các nhà Tâm lý học M đã khảo sát các sinh viên đạt kết quả tốt nhất trong các kỳ thi lại không hoàn toàn những người hạnh phúc, thậm chí, theo thời gian, họ xoay sở cuộc sống vất vả hơn những người bạn trước đây chỉ ở tầm trung bình. Bởi vì, những người bạn trung bình biết hình thành trí tuệ cảm xúc. Nền giáo dục, nền văn hóa chú trọng đến các năng lực trừu tượng bỏ quên trí tuệ cảm xúc, tức bỏ quên những nét tính cách ảnh hưởng rất lớn đến số phận con người. Trí tuệ cảm xúc một siêu năng lực7 quyết định việc chúng


  1. To motivate and guide oneself [1, tr.201]
  2. Meta-ability.
 

ta khai thác thế mạnh của mình. Đó năng lực hiểu biết, nắm bắt, làm chủ tình cảm của bản thân người khác để hòa hợp, thì sẽ lợi thế trong tất cả các lĩnh vực. Nếu không, sẽ chịu những xung đột nội tâm mất năng lực tập trung. thể nói, trí tuệ cảm xúc mang tính nhạy cảm hội8.
  1. Vai trò thứ hai của trí tuệ cảm xúc xây dựng tốt các mối quan hệhội: gia đình, công việc, bạn bè… thông qua quá trình đồng cảm, tức hiểu cảm xúc của người khác.
Tình yêu - Hôn nhân - Gia đình: Trong các lĩnh vực này, cá nn có hạnh phúc hay không đều tùy thuộc vào trí tuệ cảm xúc. Để dẫn tới ly hôn chính hậu quả của việc thiếu sót về trí tuệ cảm xúc. Khi một cặp vợ chồng tự nhốt mình trong vòng luẩn quẩn của sự phê phán khinh miệt nhau, của những ý nghĩ độc hại cảm xúc tiêu cực, thì mọi sự tự chủ, mọi sự đồng cảm năng lực xoa dịu bản thân người khác bị mất đi hoàn toàn, mỗi bên đều giữ thế tự vệ tránh né, khiến cho ý thức về những cảm xúc bị tan rã. Do vậy, trong các lĩnh vực này,nhân cần phải nuôi dưỡng phát triển trí tuệ cảm xúc để duy trì hạnh phúc.
Công việc - Nhóm: Trên lĩnh vực này, năng lực trí tuệ cảm xúc hòa hợp với cảm xúc của người khác, khả năng giải quyết bất đồng trước khi chúng trở nên nghiêm trọng khả năng làm việc trong trạng thái thay đổi. Lãnh đạo không phải thống trị biết thuyết phục người khác làm việc để đạt tới mục đích chung. Trí tuệ cảm xúc không chỉ làm tan biến định kiến giữa các thành viên trong nhóm còn đưa ra phán quyết vào thời điểm thích hợp. Yếu tố quan trọng của trí tuệ tập thể không phải trung bình cộng của IQ cá nhân phụ thuộc vào trí tuệ cảm xúc. Điểm then chốt của IQ tập thể cao sự hòa hợp hội. Chính sự hòa hợp ấy sẽ giúp một nhóm làm việc hiệu quả, thành công.
Trong các lĩnh vực y hc và go dục ng cn vn dụng trí tuệ cảm xúc để điều trị bệnh nhân hay giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ


  1. Social perceptiveness.
 

con. Nhờ trí tuệ cảm xúc, họ cảm thấy thoải mái, dễ làm chủ cảm xúc, tự trấn tĩnh trước khi gặp điều bất như ý.
      1. Các biện pháp nâng cao trí tuệ cảm xúc
        • Lắng nghe tôn trọng cảm xúc của mình: Quan niệm thông thường cho rằng, cảm xúc thường cản trở suy nghĩ hành độngtrí, vậy chúng ta nên biết cách kìm nén. Tuy nhiên, trí tuệ cảm xúc nghĩa là chấp nhận cảm xúcgiải tỏa theo những cách tích cực nht có th. Ví dụ: Câu nói Tôi kng buồnskng giúp bn giải tỏa được nỗi buồn nhưng đi dạo hoặc tâm sự với ai đó sẽ mang lại cảm xúc tốt hơn cho bạn.
        • Mở rộng các mối quan hệ: Giao tiếp khơi mào nuôi dưỡng các mối quan hệ, Tạo ra thói quen tốt cho các mối quan hệ: Ăn tối, du lịch cùng nhau, tổ chức sinh nhật riêng với những người trong gia đình, mua tặng những món quà bất ngờ, gọi điện thăm hỏi, cùng nhau đi ăn sáng...
Tóm lại, từ góc độ Tâm lý học, quá trình chuyển hóa cảm xúc thực chất quá trình hình thành trí tuệ cảm xúc, tức hình thành các ng lực ý thức, kim soát, chế ngự, đồng cm và tự ch. Trong quá trình thực hành thiền định, thiền sinh hoàn toàn thể tiếp thu vận dụngthuyết chuyển hóa cảm xúc của Tâmhọc. Tuy nhiên, thiền sinh cũng cần thấy thêm rằng, quá trình chuyển hóa này chưa đặt nặng khía cạnh tư duy đạo đức (thiện tầm - bất thiện tầm) nhất chưa quan tâm đến nền tảng đình chỉ tâm trí như thiền định nói chung.
  1. TỪ GÓC ĐỘ THIỀN
Trong Sơ thin, có m thin chi: tm, tứ, h, lạc và nht tâm (nhưng kinh, luận ít bàn tới nhất tâm thiền chỉ này phải trong bất kỳ cấp độ thiền định nào). Đối với thiền, các biểu hiện bên trong của cảm xúc gồm cảm xúc tiêu cực cảm xúc tích cực. Cảm xúc tiêu cực gồm ưu khổ do bất thiện tầm sinh ra. Cảm xúc tích cực gồm hỷ lạc do thiện tầm sinh ra. Cảm xúc giữa Tâm lý học thiền phần giống nhau khác nhau. Theo Tâm
 

lý học, cảm xúc của con người liên quan đến các khía cạnh như: Nhu cầu, động hoặc chịu ảnh hưởng từ kinh nghiệm văn hóa - hội. thiền cũng thừa nhận điều đó nhưng bổ sung thêm khía cạnh đạo đức: Với tâm lý xấu ác sẽ dẫn tới cảm xúc tiêu cực với tâmhiền thiện sẽ dẫn tới cảm xúc tích cực thông qua hoạt động tầm - tứ. Ở đây, cũng cần phải nói thêm, hầu hết các thiền sinh đều dùng phương pháp quán hơi thở đình chỉ tâm trí để bắt đầu đi vào thiền định nói chung, kể cả thiền. vậy, việc đình chỉ tâm trí một phần đương nhiên của thiền.
    1. Tầm - tứ cảm xúc
Kinh, luận định nghĩa chú giải: Tầm sự bám dính của tâm, tức gắn tâm trên đối tượng9, ví như một người leo được lên cao nhờ một người khác giúp đỡ. Cũng vậy, tâm leo lên” được trên đối tượng nhờ tầm giúp đỡ10 (nhắc lại lần nữa, tầm tuy cũng tâm nhưng được tách” biệt ra để quan sát trong thiền định, tuy nhiên, điều thú vị nhất trong câu này đối tượng cũng thuộc về tâm). Nhiệm vụ chung của tầm hướng tâm tâm sở đến đối tượng. Nhưng trong thiền, nhiệm vụ này ở một cường độ mạnh hơn đẩy”(thruts) các tâm sở vào đối tượng. Chính vậy, Thanh tịnh đạo luận mới nói rằng trong thiền, nhiệm vụ của tầm đánh mạnh đập mạnh (strike at and thresh), nhờ nó hành giả nhận thức được đối tượng tâm lý của mình trong thời khóa thiền định.
Chữ tứ luôn luôn xuất hiện sau chữ tầm, đó hai tiến trình khác biệt của tâmtrong thiền, đúng hơn, tứ chỉ một giai đoạn phát triển thêm của tầm. Vi Diệu Pháp các bản chú giải đã giải thích như thế này: Tứ duy được kéo dài ra hayduy được duy trì liên tục. Nhiệm vụ của tứ ép (pressure on) tâm sở liên tục để neo chắc ngay trên đối tượng (đối tượng đây gồm cả tâm bất thiện lẫn tâm thiện như tham-sân-si, tham, sân, si, năm triền cái…). Tứ vừa chuyển động vừa neo chắc cũng vừa quan sát đối tượng,


  1. Vitakka is defined as “application of mind”, which the Atthasalini glosses as meaning that vitakka applies the mind to the object [2, tr.50].
  2. The mind ascends the object in dependence on vitakka [2, tr.50].
 

tứ làm cho tâm thể xem xét, khảo sát, nghiên cứu k những đặc tính của đối tượng.11  thiền xảy đến cùng một lúc với tầm tứ được gi là “câu hữu với tầm tứ” như một cây có hoa và trái12. Trong sự liên hợp này, tầm – tứ hai yếu tố thiết yếu cho sự thành tựu ổn định của thiền13.
Tầm thường gắn với tứ. Khi tâm tâm sở bám dính, gắn chặt vào hay tư duy về đối tượng thì thành tầm. Tự thân tầm không thiện cũng không bất thiện14. Tầm gồm bất thiện tầm thiện tầm. Khi kết hợp với tâm bất thiện như tham-sân-si hoặc năm triền cái, tầm trở thành bất thiện tầm gồm dục tầm, sân tầm hại tầm. Bất thiện tầm khi được chuyển hóa thì trở thành thiện tầm, gồm: Viễn ly tầm, sân tầm bất hại tầm. Quá trình chuyển từ bất thiện tầm thành thiện tầm hoạt động chung của tầm-tứ.
      1. Bất thiện tầmnguồn gốc của cảm xúc tiêu cực
Đối với vấn đề khảo sát cảm xúc tiêu cực, lý thuyết thiền tuy không phân ra ưu khổ một cách cụ thể, thay vào đó, xem sự hiện diện của ba bất thiện tầm đương nhiên cũng hiện hữu ưu khổ bên trong.
        1. Dục tầm
Dục tầm hiện tượng tinh thần bị chi phối bởi những tâm về dục ở mặt ý thức lẫn thức (thuộc Phân tâm học). người bản tánh tham dục rất mạnh mẽ, luôn luôn ở trong trạng thái đau khổ, ưu phiền, làm cản trở quá trình đoạn tận các lậu hoặc để phát sinh thắng trí. Sức mạnh của tham dục thể khiến con người vượt qua


  1. Sustained thinking (vicàrana) is sustained thought (vicàra); continued sustainment (anusancarana) is what is meant. It has the characteristic of continued pressure on (occupation with) the object. Its function is to keep conascent [mental] states [occupied] with that. […] it enables the mind to inspect, examine, and investigate the object’s properties. [2, tr.58]
  2. So this jhāna occurs together with this applied thought and this sustained thought and it is called, “accompanied by applied and sustained thought” as a tree is called “accompanied by flowers and fruits” [6, tr.137]
  3. In their union they are indispensable for the achievement and stabilization of the firs jhàna [2, tr.59]
  4. In itself vitakka is neither unwholesome (akusala) nor wholesome (kusala). [2, tr.51]
 

các chuẩn mực hội, thậm chí, dẫn đến loạn luân. Khi Thế Tôn trúkhu vườn ông Ànathapindika (Sàvatthi tại Jetavana), hai mẹ con đều xuất gia anvào mùa mưa. Nhân danh Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni, họ thường xuyên gặp mặt nhau, luôn luôn thấy nhau nên sự liên hệ, thân mật sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau. Đức Thế Tôn quở trách họ, rồi dạy: Loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê, sắc đẹp / tiếng / hương / vị / xúc của nữ nhân thì sẽ sầu ưu lâu dài, bị rơi vào uy lực sắc / tiếng / hương/ vị / xúc của nữ nhân.15
Tai hicủathamdụckhôngchỉtrongphạmviđođứcxãhộimà còn cả về mặt tâm linh. Nếu tham dục tràn ngập tâm hồn sẽ dẫn đến sự qua đời không nhẹ nhàng. Đức Phật dạy gia chủ Ànathapindika: Khi tâm không phòng hộ, thì ba nghiệp thân khẩu ý cũng không phòng hộ; do vậy, ba nghiệp đầytham dục r chảy; từ đó, ba nghiệp bị hủ bại; cuối cùng dẫn tới sự qua đời không nhẹ nhàng, như ngôi nhà nóc nhọn do vụng lợp nên nóc nhọn, rui kèo, vách tường không được phòng hộ; do vậy, chúng bị đấy ứ, r nước; từ đó, bị hủ bại. Ngược lại, khi tâm được phòng hộ, không tham dục thì ba nghiệp không bị hủ bại, dẫn tới sự qua đời nhẹ nhàng, hiền thiện, như ngôi nhà nóc nhọn do khéo lợp nên nóc nhọn, rui kèo, vách tường được phòng hộ; không bị đầy ứ, r nước; không bị hủ bại.16
        1. Sân tầm
Bắt đầu từ tham, con người sẽ tiếp tục sân, si hung bạo dẫn đến mất tự chủ, sát sanh, trộm cắp, ngoại tình, nói láo nguy hiểm hơn xúi giục người khác cùng làm. Đó những việc ác, thuộc về tội lỗi, đem lại bất hạnh lâu dài bị những bậc trí thức trong hội lên án. Ngược lại, bắt đầu từ không tham hay ly tham, con người luôn tự chủ bản thân, không sát sanh, không trộm cắp, không ngoại tình, không nói láo nhất không xúi giục người khác làm. Đó


  1. Với chi tiết (Tăng II) Mẹ con (Tăng II).
  2. Nóc nhọn 1 2 (Tăng I).
 

những việc thiện, không thuộc về tội lỗi, đem lại sự bình an lâu dài nhiên không bị những trí thức trong hội lên án. Tất cả những bậc chân nhân tịch tịnh ở đời đều giáo dục đệ tử nhiếp phục tham-sân-si-hung bạo.17
        1. Hại tầm
Tôn giả Ānanda dạy tham làm mất tự chủ sẽ gây hại thêm nhiều phương diện khác nữa, đó là: (i) Nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai, tâm lý luôn cảm thấy khổ ưu; (ii) không như thật biết lợi mình, lợi người, lợi cả hai; (iii) thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác;
(iv) mắt như mù, không phân biệt được đúng sai, không trí tuệ, luôn khổ não không đạt niết-bàn.18
      1. Thiện tầm nguồn gốc của cảm xúc tích cực
Trong kinh có dy người từ bỏ bt thin tầm là người đo đức.19 Chẳng những vậy, nếu ai thực hiện thành tựu sáu pháp xuất ly tầm, sân tầm, bất hại tầm, xuất ly tưởng, sân tưởng, bất hại tưởng thì ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi lành.20
năm phương pháp diệt trừ bất thiện tầm khiến cho nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh:
  1. Dùng một thiện tầm để diệt một bất thiện tầm như một người thợ mộc khéo léo dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác.
  2. Quán chiếu nguy hiểm của nó: “Đây những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầmkhổ báo” để phát sinh ý thức tránh xa giống như một người đàn hay người đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, xác chó, xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm.

  1. Bhaddiya (Tăng II), Các vị ở Kesaputta (Tăng I) Sàlhà (Tăng I).
  2. Channa (Tăng I).
  3. Hành (Tăng I).
  4. Khổ (Tăng III).
 
 
  1. Không nhớ, không chú ý: Khi quán sát các nguy hiểm của các ác-bất thiện tầm thì thiền sinh không ghi nhớ, không chú ý đến chúng giống như một người mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, nhắm mắt lại hay ngó qua một bên.
  2. Từng bước từ bỏ: Khi không ghi nhớ, không chú ý, thiền sinh cần phải chú ý đến đcđim các tầmvàsan trú các tầmy. Giống như một người đang đi mau, suy nghĩ: Ti sao ta li đi mau? Ta hãy đi chm li. Trong khi đi chm, người y suy nghĩ: Ti sao ta li đi chm? Ta hãy dừng li. Trong khi dừng li, ngườiy suy nghĩ: Ti sao ta li dừng li? Ta hãy ngi xuống. Trong khi ngồi, người y suy nghĩ: Ti sao talại ngi? Ta hãy nằm xuống. Như vy, thc cht ca phương pháp này là thiền sinh bỏ dần các cử ch thô cứng làm theo các cử ch tế nhị.
  3. Tận lực: Khi chú ý đến đặc điểm như trên, nhưng nếu các ác- bất thiện tầm vẫn khởi lên thì thiền sinh phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Giống như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, thể chế ngự, nhiếp phục đánh bại. Khi thực hiện năm phương pháp này, thiền sinh thể chú ý / tư duy hoặc không chú ý / duy đến tầm nào mình muốn, đoạn trừ khát ái, giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, chấm dứt khổ đau.21
Thiện tầm một số đặc điểm sau đây: Hoạt động nhờ dựa vào đời sống tâmbên trong như đối tượng22, sự tiếp xúc nguồn gốc, đều quy về cảm xúc (rất gần gũi quan điểm trị liệu cảm xúc của Tâm lý học ngày nay), được định lực dẫn đầu, niệm thể chi phối - tác động, trí tuệ điều khiển, chúng trở thành hoàn hảo trong Niết-bàn (trở thành nhân cách, thuộc tính tâm lý khi chứng thánh).23
Về mặt tổ chức - xã hội, thiện tầm tạo nên một môi trường sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa nước hòa hợp, nhìn nhau với cặp mắt ái kính; dù nghĩ đến hay đi đến địa phương


  1. Kinh An trú tầm (Trung I).
  2. Tức do năm thủ uẩn, bản tiếng Anh dịch không hết ý.
  3. Tôn giả Samiddhi (Tăng IV), Căn nhà bằng gạch (Tương II) Kinh 457. Thuyết (Tạp A-hàm), 5b, tr.1269.
 

ấy đều cảm thấy thoải mái. Ngược lại, nếu một tập thể thường xuyên thực hiện dục tầm, sân tầm, hại tầm thì sẽ tạo ra một môi trường sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi; chỉ cần nghĩ tới thấy không thoải mái, huống chi đến địa phương đó.24 Về mặt tâm linh, nhất khi sắp lâm chung, nếu ai không gặp được Phật hoặc đệ tử Phật nhưng thể tự mình tầm tứ những giáo pháp đã nghe, đã thông suốt thì thể giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử hay đạt được thượng đoạn diệt sanh y.25
        1. Viễn ly tầm
Khi dục tầm được nhận diện chuyển hóa thì thành viễn ly tầm. Trong Tăng chi bộ kinh, từ viễn ly có hai nghĩa: sng một mình và sống không tham dục.
Sống một mình giúp thiền sinh thiện tầm được đầy đủ hai hot động tầm - tứ. Tmmà kng có tứ” trong thin định thì rất dễ trở thành người hướng ngoại, không được xem người “sống theo pp. T-kheo dùng trọn cả ngày để học thông suốt pp, thuyết pháp, đọc tụng pháp, suy tầm về pháp với tâm tùy tiện, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Đây gọi Tỳ-kheo thông đạt nhiều, thuyết pháp nhiều, đọc tụng nhiều, sưu tầm nhiều kinh điển nhưng không sống theo pháp. Ngược lại, nếu vị ấy sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ thì được gọi Tỳ-kheo sống theo pháp.26
Viễn ly tầm với nghĩa sống không tham dục được nhấn mạnh trong năm bài kinh Gavesì Người Tầm Cầu, Migasàlà, Upàli, Dhammika UggaVesàli.
Thái độ viễn ly liên hệ với ly tham được hiểu trong đời sống hội tùy duyên an nhàn. Tùy duyên gồm có: duyên đời, duyên tình, tri kỷ, hợp tan không cố chấp. An nhàn gồm có: xa lánh thị phi, trong sạch - bao dung.



  1. Tranh luận (Tăng I).
  2. Sống theo pháp 1, 2 (Tăng II).
  3. Sống theo pháp 1, 2 (Tăng II).
 
 
        1. sân tầm
sân không giận. Thái độ sân liên hệ chặt chẽ với ly tham, biểu hiện trong đời sống hội qua các mặt sau đây: Không tham, không tranh không vội. Không tham gồm có: Xem nhẹ vật chất, ít muốn - biết đủ. Không tranh gồm có: Không so sánh, biết chấp nhận, hiện sinh tin nhân quả. Không vội từ tốn.
        1. Bất hại tầm
Bất hại không hại mình không hại người, do ly tham thực hiện được việc này. Không hại mình thì sống lương thiện tích đức. Không hại người thì không dối, nhớ ơn, thương người, quên bản thân biết chia sẻ.
Kinh Chánh kiến (Tăng I) và Suy tm (Tăng III) dy: Nếu ai thành tựu thiện tầm đang thực hành con đường thông suốt những căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc: tu tập xuất ly tầm để đoạn tận dục tầm, tu tập sân tầm để đoạn tận sân tầm, tu tập bất hại tầm để đoạn tận hại tầm27. Các thiện tầm tầm viễn ly, tầm không sân tầm không hại28. Khi kết hợp với các tâm thiện như tham, sân, si, tầm trở thành thiện tầm hay thiệnduy, gồm có: viễn ly tầm những tư duy về sự từ bỏ; sân tầm những tư duy về lòng từ bi hại tầm những tư duy về sự không làm tổn hại. Ba thiện tầm này chuyển hóa trực tiếp ba bất thiện tầm nêu trên. Do tư duy suy nghĩ đến sự viễn ly thiền sinh thể xua tan những tư duy tham dục; do tư duy đến từ bi xua tan những tư duy sân hận do tư duy đến những điều hại xua tan những ý nghĩ làm tổn hại. Đức Phật dạy những tư duy này không dẫn đến hại mình, người cả hai dẫn đến sự tăng trưởng trí tuệ, giải thoát khỏi phiền não chứng ngộ Niết-bàn.




  1. The thought of renunciation is to be developed for abandoning sensual thought. The thought of good will is to be developed for abandoning the thought of ill will. The thought of harmlessness is to be developed for abandoning the thought of harming. [5b, tr.986]
  2. The thought of renunciation, the thought of good will, the thought of non-harming [5b, tr.460]
 
 
    1. Hỷ - lạc quá trình chuyển hóa cảm xúc
Hai thiền chi hỷ - lạc cũng thường đi chung với nhau đều các cảm xúc tích cực. Hỷ - lạc chỉ được hình thành khi thiền sinh đã làm hiện hữu trong tâm ba thiện tầm nói trên. Nói cách khác, quá trình chuyển hóa cảm xúc thực chất quá trình chuyển hóa ba thiện tầm thành hai thiền chi hỷ lạc.
Thiền chi hỷ gì? Các bản chú giải phân ra năm loại hỷ tăng dần từ yếu đến mạnh như sau: Tiểu hỷ, đản hỷ, ba hỷ, khinh hỷ biến mãn hỷ:
      1. Tiểu hỷ hiện hữu khi các phiền não lắng dịu thiền sinh cảm nghiệm những dấu hiệu29 của định đang được thành tựu.
      2. Đản hỷ tựa như ánh chớp thỉnh thoảng lóe lên, thoáng qua không thể duy trì lâu.
      3. Ba hỷ tựa mưa rào đổ xuống thân rồi biến mất như những lượn sóng đổ lên bờ. Ba hỷ chạy khắp thân, tạo ra một sự rung động mãnh liệt30 nhưng không để lại một ảnh hưởng dài lâu.
      4. Khinh hỷ duy trì lâu hơn nhưng khuynh hướng khuấy động định.
      5. Biến mãn hỷ dẫn đến sự sâu lắng nhất của định, thấm nhuần toàn thân khiến cho thân giống như một cái túi căng phồng hoặc như một hang núi bị ngập lụt với trận hồng thủy. Biến mãn hỷ chính chi thiền hỷ của thiền. Thanh tịnh đạo luận tuyên bố: “Biến mãn hỷ căn bản của định tăng trưởng dần theo định” “hỷ sẽ làm viên mãn thân khinh an tâm khinh an; thân lạc tâm lạc; sát na định, cn định và an chỉ định (absorption). Hỷ ở đây là do ly dục, ly ác pháp sanh ra.
Thiền chi lạc gì? Lạc của thiền một hình thức của hỷ. Đức Phật phân biệt những loại lạc tương phản nhau: Lạc của đời sống tại gia xuất gia, lạc trong ngũ dục sự xuất ly, lạc không chấp

  1. Indications.
  2. Great thrill.
 

thủ, lạc còn và không còn lậu hoặc, lạc vật chấttinh thần, lạc của định không định, v.v... Lạc cùng sanh với tham hướng đến các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái dục lạc. Lạc cùng sanh với các thiện căn do xuất ly khỏi những sự hưởng dục lạc tinh thần hay xuất ly lạc. Lạc của thiền cũng là lạc tinh thần nhưng do ly dụcly các triền cái sanh. Lạc này còn được gọi lạc của định. Lạc theo sau hỷ khinh an nhưng dẫn đến định. Kinh Upanisā nói: “Hân hoan trợ duyên cho hỷ; hỷ trợ duyên cho khinh an; khinh an trợ duyên cho lạc lạc trợ duyên cho định”. Định do lạc sanh bậc thiền tạo căn bản cho tuệ.
Thật ra, lạc đã mặt khi hỷ bắt đầu, nhưng ở giai đoạn mang tênchẳng qua sự nổi bật lên chứ không phải lúc đó mới xuất hiện, không phải chúng loại trừ lẫn nhau hỷ xuất hiện trước lạc. Hỷ lạc liên kết với nhau rất mật thiết nhưng không phải hai trạng thái giống nhau: “Có hỷ tất có lạc, nhưnglạc không nhất thiết phi có h. Trong Tam thin, có lạc nhưng kng có h. Chú giải Bộ Pháp Tụ (Aṭṭhasālini) giải thích hỷ “sự thích thú khi đạt được điu mong muốn, lạc là sự thọ hưởng hương vị của cái đt được ấy” minh họa sự khác nhau này bằng một dụ sinh động: Đối với khách lữ hành mệt mỏi trong sa mạc, khi nghe nói đến hay thấy nước hoặc một bóng cây thì hỷ, nhưng khi uống được nước hay bước vào trong bóng cây thốt lên: “Ôi hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá!” thì mới lạc.31
Ở một góc độ khác, hỷ-lạc tức hạnh phúcsẵntrong nội tâm, việc chuyển hóa bất thiện tầm thành thiện tầm chỉ làm cho chúng hiển lộ ra. Chúng ta khai mở hỷ-lạc sẵn. Chúng ta thiền định thay theo đuổi việc khai mở luân xa hay những điều huyền bí thì tốt nhất theo lời Phật dạy khai mở hỷ-lạc hay hạnh phúc sẵn trong nội tâm, tức quá trình chuyển hóa cảm xúc trên sởthuyết thiền.
Tóm lại, cảm xúc quá trình chuyển hóa cảm xúc những vấn đề quan trọng, ý nghĩa đối với cuộc sống con người, kể cả việc tu



  1. 2, tr.59 tiếp.
 

hành. Tâm lý học Thiền định Phật giáo (ở đây thiền) quan tâm đến điều đó hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tế.
Tâm lý học khảo sát cảm xúc từ cơ sở sinh lý thần kinh và những tác động hội vào tâmcon người, quá trình chuyển hóa cảm xúc chủ yếu dùng ý chí để tự kiểm soát bản thân sự cởi mở trong tương tác với các mối quan hệ hội. thiền khảo sát cảm xúc từ sở đạo đức, quá trình chuyển hóa cảm xúc gắn với việc đình chỉ tâm trí, tâm hiền thiện phát sinh hỷ-lạc.
Trong khi thực nh vic chuyn hóa cm xúc, người ta nhận thấy hai hệ thốngthuyết này thể bổ sung lẫn nhau, giúp cho thiền sinh nhận diện chính xác chuyển hóa thành công cảm xúc của mình.



***




Tài liệu tham khảo
Daniel Goleman, Trí tuệ cảm xúc, Bloomsbury Publishing Plc, Lon- don, 2009.
Henepola Gunaratana, Con đường chỉ quán, Motilal Banarsidass Publishers Private Limited, Delhi, 2016.
Nikāya (Bhikkhu Sujato dch): a. Trung bộ kinh, b. Tăng chi bộ kinh, c.
Tương ưng bộ kinh, PDF Sutta Central.
Nikāya (HT. Thích Minh Châu dịch), NXB Tôn giáo: a. Trung bộ kinh (1986), b. Tăng chi bộ kinh (1996), c. Tương ưng bộ kinh (1993).
Nikāya, Wisdom Publications (M):
Trung bộ kinh (Bhikkhu Nanamoli dịch, Bhikkhu Bodhi biên tập), 1995.
Tăng chi bộ kinh (Bhikkhu Bodhi dịch), 2012.
Tương ưng bộ kinh, (Bhikkhu Bodhi dịch), 2000.
Phật Âm, Thanh tịnh đạo luận (Nanamoli dịch), Buddhist Publica- tion Society, Sri Lanka, 2010.
Robert A. Baron, Tâm học, Allyn and Bacon, M, 1992.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây