25. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ĐƯƠNG ĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 08:10
HỘI THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ĐƯƠNG ĐẠI
 
 
PGS. TS. Đỗ Thu
 
  1. GIỚI THIỆU
Như ta đã biết, Phật giáo không phải một loại hình hệ thống thống nhất. Người ta thậm chí còn tranh luận liệu thực sự một tôn giáo hay chỉ một triết thuyết về đạo đức. Nhưng Phật giáo lan toả từ Ấn Độ đến nhiều nước trên khắp châu Á; ở mỗi quốc gia, mỗi nền văn minh gặp, nó được hiểu chấp nhận vào nền văn hóa đó. vậy, ta tìm thấy các loại hình Phật giáo rất khác nhau trên khắp châu Á.
ba làn sóng chung của Phật giáo. Một làn sóng đã đến Đông Nam Á, được gọi Phật giáo nguyên thủy như ta thấySri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia một phần Việt Nam. Làn sóng thhai đi qua Trung Á đến Trung Quốc và từ Trung Quốc đến Nhật Bản Hàn Quốc, xuống Việt Nam.sau đó, một làn sóng khác từ n Độ đến Tây Tng và từ Tây Tng đến Mông C, và khắp Trung Á và các nhóm Mông Ckhác nhau đã đến Nga, vì vy Buryats, Kalmyks cũng cả một nhóm ở Thổ Nhĩ Kỳ - người



*. Bộ môn Ấn Độ học, VNU, ĐH Khoa học hội Nhân văn Nội.
 

Tunisia. vậy, ta thấy Phật giáo sự đa dạng rộng rãi, đó một chút đơn giản hóa, bởi trong đó nhiều làn sóng khác nhau.
vậy, trong thế kỷ XXI, Phật giáo rất nhiều điều mang đến cho chúng ta cấp độ toàn cầu, không bị giới hạn trong một nền văn hóa, bởiPhật giáo không bao giờ bị giới hạn trong một nền văn hóa.
  1. MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC
    1. Mục tiêu của giáo dục nói chung
Nói chung, các hội tổ chức giáo dục với ba mục tiêu chính mặcnhững mục tiêu đó thể được nhấn mạnh khác nhau bởi các hội khác nhau. Ba mục tiêu đó là:
      1. Để chuẩn bị cho mọi người trở thành thành viên tốt củahội. Những thành viên trong hội phải ít nhất hai khả năng: thứ nhất làm việc để kiếm sống thứ hai sống phù hợp với các thành viên khác trong hội, biết các nghi thức, tập quán cách sống được hội chấp nhận. Các hội cho đến nay đều dạy cho con cái hai khả năng này, mặcchúng sự khác biệt về chi tiết phương pháp.
      2. Để đào tạo con người phát triển tốt theo các học thuyết tín ngưỡng của người dân tronghội đó. Một số hội xem hai khả năngtrên không đủ đơn giản chúng làm cho mọi người trở thành công dân tốt, nhưng không phải người tốt. Con người hai khía cạnh, bên ngoài bên trong. Các khía cạnh bên ngoài liên quan đến quan hệ với những người khác. Khía cạnh bên trong mối quan hệ với cốt lõi bên trong của nhân loại, của Chân đế - Thực tại tuyệt đối (paramattha dhamma). Do đó, trong các hội này, giáo dục để biến mọi người thành Phật tử tốt, Kitô hữu tốt hay Muslim tốt mục tiêu này.
      3. Để làm giàu trí tuệ. Một số hội tin rằng con người khác với những con thú ở chỗ họ trí tuệ để tìm kiếm trân trọng sự thật trong chính bản thân họ. Đây những sự thật không công dụng hay tiện ích thực tế, chúng không giúp những người biết chúng trở
thành công dân tốt hơn hoặc người tốt hơn hoặc thực hiện nhiệm vụ của mình tốt hơn nhưng chúng làm cho những người biết chúng hài lòng về những hiểu biết đó.đây kiến thức một mục đích cho chính nó, không phải một phương tiện cho một cái đó khác.
Trong các xã hi phương Tây, vốn đã kế thừa tư duy của người Hy Lạp Kitô hữu, giáo dục trong thời kỳ đầu nhấn mạnh các mục tiêu (2) (3). Các quan tôn giáo chịu trách nhiệm thực hành giáo dục ở cấp độ cao nhất (paramattha) các trường đại học nơi gặp gỡ của những người quan tâm đến việc theo đuổi kiến thức. Dạy nghề giáo dục về các tập quán phong tục hội được thực hiện tại nhà.các hội phương Tây thời kỳ đầu, chính phủ không đóng vai trò tổ chức giáo dục. Sau đó, khi hệ thống kinh tế ngày càng phức tạp, lao động phân công chuyên biệt hơn thành các lĩnh vực khác nhau, hệ thống pháp chính trị tương ứng trở nên phức tạp hơn. Với gia đình, nhà thờ các trường đại học không còn khả năng cung cấp kiến thức cần thiết để đáp ứng với những thay đổi hội mới, nhà nước bắt đầu đóng một vai trò lớn hơn trong tổ chức giáo dục nhà nước thể làm điều này hiệu quả hơn, thể giải quyết hiệu quả lâu dài hơn thể phục vụ một lĩnh vực rộng lớn hơn của cộng đồng.
Anh một dụ tốt trong trường hợp này. Ban đầu nhà nước không liên quan đến giáo dục. Các tổ chứcnhân, tôn giáo phi tôn giáo ở Anh đã chịu trách nhiệm về giáo dục. Với sự thành lập Đế quốc Anh, nhà nước bắt đầu giám sát giáo dục nhằm tạo ra những người thể điều hành đế chế đó. Công nghiệp hóa bắt đầu vào giữa thế kỷ XVIII ở Anh. được nuôi dưỡng bởi những người bên ngoài giới giáo dục, vậy vào thời điểm đó, nước Anh không thể thấy mối quan hệ nào giữa giáo dục tiến bộ kinh tế. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XIX, nước Anh đã phát hiện ra rằng các ngành công nghiệp của nó tụt hậu sau các quốc gia khác nhà nước bắt đầu đóng một vai trò ngày càng lớn hơn trong việc tổ chức giáo dục (Ashley, B.J., and others, An Introduction to the Sociology of Education, Macmillan, London, 1969, pp. 86–92).
 

Hiện tại hầu hết các quốc gia của thế giới hiện đại đang cạnh tra- nh nhau trong hầu hết các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa ... Tất cả các quốc gia đều nhận ra rằng một trong những công cụ hỗ trợ quan trọng nhất trong cuộc cạnh tranh này giáo dục, vậy nhà nước đã tham gia tích cực hơn vào việc tổ chức, giám sát, khuyến khích kiểm soát giáo dục. Giáo dục nhằm cải thiện trí tuệ và sự phát triển của cá nhân cũng như giáo dục để phát triển tài sản của quốc gia đều tăng lên.
    1. Mục tiêu của giáo dục Phật giáo
Mục tiêu quan trọng của giáo dục Phật giáo đạt tới trí tuệ. Phật giáo tin rằng trí tuệ tối thượng vốn trong bản chất của mỗi người, mọi người đều tiềm năng để đạt được trí tuệ đó. Tuy nhiên, phần lớn mọi người bị phân tâm bởi sự hiểu lầm quan niệm sai lầm khiến họ không khả năng nhận thức được loại tiềm năng này. Theo nghĩa này, Phật giáo nhằm mục đích dạy chúng ta nhận ra phần nội tại của bản chất chính con người chúng ta. Trí tuệ Phật giáo thay đổi từ cá nhân này sangnhân khác liên quan đến mức độ ảo tưởng của một người không sự khác biệt vốn giữa tất cả mọi người. Phật giáo giúp chúng ta loại bỏ ảo tưởng lấy lại trí tuệ để loại bỏ những nhầm lẫn về tiềm năngnhân đạt được hạnh phúc. Phật giáo coi thiền định sự tập trung sâu sắc những yếu tố cốt yếu để đạt được trí tuệ. Do vậy, Phật giáo dạy cách thiền chánh niệm tập trung để đạt được trạng thái trí tuệ hạnh phúc.
Phật giáo đánh giá cao kinh nghiệm tự trải nghiệm cao hơn lý thuyết. Giáo dục Phật giáo chủ yếu liên quan đến việc chuyển giao kiến thức thực tế. Đức Phật đã dạy ta một con đường tìm hiểunhân để chấm dứt đau khổ, con đường đó phụ thuộc vào kinh nghiệm trực tiếp. Do đó, các phương pháp truyền thống về đào tạo tâm trí của Phật giáo, tức chiêm niệm thiền định, thể được dạy tại các trường học. Quan điểm của Phật giáo về bản chất không thể thiếu trong kinh nghiệm mỗi người, trong đó các khía cạnh trí tuệ cảm xúc đều được đánh giá cao như nhau, liên quan rất mạnh mẽ trong thế giới hiện đại vốn bị phân mảnh quá mức. ý
 

nghĩa của các văn bản giáoPhật giáo không được hiểu đầy đủ trước khi người ta kinh nghiệm trực tiếp về thiền định, thiền một phần không thể thiếu trong giáo dục Phật giáo. Trên thực tế, các tổ chức giáo dục Phật giáo, nếu không bị các giá trị của phương Tây ảnh hưởng quá nhiều, cũng thể tự xác định các trường đào tạo tinh thần cho học viên. Sự hữu ích của các phương pháp chánh niệm trong việc phát triển bảy yếu tố giác ngộ (như an lạc, niềm vui, sự tập trung, v.v…) đã được chứng minh ngay cả ngoài bối cảnh giáo dục Phật giáo. được coi không thể thiếu để thực hiện giáo dục thực sự nói chung.
Sự phát triển của tâm trí là chủ đề trung tâm trong lĩnh vực giáo dục Phật giáo, giúp người ta phân biệt giữa những suy nghĩ hành động lành mạnh hay bất thiện. Về mặt thực hành nội tâm hóa Phật pháp, lĩnh vực học tập đào tạo về tình cảm không nghi ngờ một thành phần thiết yếu liên quan đến việc khai thác kho thông tin sự kiện trong Phật pháp để dựa vào đó đưa ra kết luận hợp lý, quyết định hành động trong cuộc sống hàng ngày của ta.
  1. SỰ CẦN THIẾT CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO HIỆN ĐẠI
Mục tiêu cuối cùng của giáo dục Phật giáo tiêu diệt minh, căn nguyên của đau khổ. Cụ thể, giáo dục theo nghĩa Phật giáo nên tìm cách loại bỏ khỏi tâm trí của học sinh những quan điểm sai lầm hình thành nên sởthuyết của minh. Những nội dung mang tính khái niệm thuần túy này của tâm trí bao gồm cái gọi minh tính ảo tưởng (parikalpita-avidyā), trái ngược với sự minh bẩm sinh (sahaja-avidyā). Đó sự minh “mang tính khái nim. Svô minh bm sinh kng thể xoá bỏ cho đến khi xoá bỏ sự vô minhtính ảo tưởng (hoặc quan niệm sai lầm), vậy trước tiên, người ta phải loại bỏ sự minh tính ảo tưởng, tức quan điểm sai lầm.
Chất lượng của chương trình giảng dạy hoặc sự cống hiến để tìm hiểu về bản thân chúng ta, trên thế giới, không phải một sự cân nhắc hơn thiệt. Hệ thống giáo dục ngày càng bị chi phối bởi quan tâm đến thị trường; công việc của các học giả được đo lường bằng
 

shài lòng của khách ng. Ví d, các công ty đa quốc gia lớn có thể tài trợ các khóa học, điều này đặt ra những câu hỏi quan trọng về tính khách quan giá trị của văn bằng cuối cùng. Sinh viên ít quan tâm đến các kỹ năng họ được chú trọng hơn tới bằng tốt nghiệp họ nhận được.
duy tiên phong duy, động lực truyền thống trong các sở giáo dục bị coi tốn kém, mất thời gian nguy hiểm thách thức hiện trạng. phải ngày nay mâu thuẫn giữa mục tiêu tối thượng của giáo dục Phật giáo, tức đạt được sự giải thoát khỏi quan niệm sai lầm về một bản ngã vĩnh viễn, mục đích của giáo dục phương Tây hiện đại, đó củng cố bảo đảm một ý thức sai lầm về bản sắc? Làm thế nào chúng ta thể giải quyết mâu thuẫn này trong bi cnh giáo dục Pht giáo hin đi? Tôi muốn đưa ra bốn phương pháp liên kết để giải quyết vấn đề nan giải này: 1. Biến đi đng cơ học tập của sinh viên; 2. Trình bày giáo dục chính quy vớicách phương tiện một cách khéo léo; 3. Nhấn mạnh vai trò của thiền 4. Mở ra những khung cảnh học tập mới.
    1. Biến đổi động học tập của sinh viên
hội hiện đại thể gây áp lực lớn cho sinh viên để đạt được một số mục tiêu nhất định trong cuộc sống, chẳng hạn như một công việc tốt, địa vị hội, sự nghiệp, v.v... Những kỳ vọng hội này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sinh viên, ngay cả khi họ động lực tốt thực sự quan tâm đến Phật pháp. Nhiều người trong số họ sẽ tự hỏi làm thế nào để tích hợp việc học Phật pháp của họ với sự sống còn trong hội hiện đại.
Mặc nhiều cách khác nhau để giải quyết câu hỏi này, một khía cạnh quan trọng của giải pháp biến đổi động học tập của sinh viên. Dựa vào những chân bản của Phật giáo về sự thường, ‘đau khổ’ ngã - tâm trí của học sinh nên được hướng tới những giá trị cao hơn: sự hài lòng, giải thoát tâm linh lòng tốt đối với người khác - vậy, thay cố gắng tuân theo những kỳ vọng của hội hiện đại theo trật tự để đạt được điều đó, họ thể bắt đầu suy nghĩ về cách họ thể đóng góp vào sự an lạc trong hội.
 

Do đó, mối quan tâm của họ thể được chuyển thành mối quan tâm người khác.
    1. Trình bày go dục chính quy với tư ch là phương tin một ch khéo léo
Một trong những cách để đối trọng với quan điểm hiện đại về giáo dục vớicách sự đầu tư cho cuộc sống nhấn mạnh việc sử dụng Phật giáo truyền thống như phương tiện một cách khéo léo. Các tổ chức hình thức giáo dục của Phật giáo thể xuất hiện phù hợp với thế giới, nhưng chức năng chính của chúng cung cấp hội để nghiên cứu Phật pháp, cái nằm bên ngoài thế giới này. Bất kỳ bằng cấp chính thức nào (chẳng hạn như bằng tốt nghiệp về Phật học) chỉ đơn thuần sản phẩm phụ của nghiên cứu chứ không phải mục đích cuối cùng. Năng lực trong các vấn đề liên quan đến Phật pháp không phụ thuộc vào bất kỳ sự công nhận chính thức nào, cũng như không bằng tốt nghiệp được trong 3-5 năm ng- hiên cứu chính thức thể đảm bảo năng lực như vậy. Sự tiến bộ trong các khóa đào tạo cao hơn về đạo đức, sự tập trung trí tuệ không thể đo lường hoặc đánh giá khách quan bằng các tiêu chuẩn định lượng của giáo dục hin đi. Trong khi duy trì skhiêm tốn theo truyền thống Phật giáo, các nghiên cứu về Phật pháp nên được theo đuổi trên tinh thần tìm hiểu tự do không cạnh tranh vốn thường đặc trưng cho giáo dục chính thống. dụ, công việc của UNESCO bao gồm sự phát triển giáo dục từ mầm non đến giáo dục đại học, bao gồm giáo dục đào tạo kỹ thuật dạy nghề, giáo dục phi chính quy xóa chữ. Tổ chức này tập trung vào việc tăng sự công bằng tiếp cận, nâng cao chất lượng đảm bảo giáo dục phát triển kiến thứckỹ năng trong các lĩnh vực như phát triển bền vững,vậy thông qua việc nhấn mạnh vai trò của giáo dục Phật giáo với cách phương tiện một cách khéo léo, chúng ta thể bảo vệ sinh viên chống lại sự tham vọng quá mức khuyến khích họ để sử dụng hội học tập quý giá của họ với khả năng tốt nhất của họ.
    1. Tầm quan trọng của thiền
Trái ngược với giáo dục hiện đại, Phật giáo đánh giá cao trải ng-
 

hiệm trực tiếp cao hơn lý thuyết. Giáo dục Phật giáo nhiều mối quan tâm hơn chỉ chuyển giao kiến thức thực tế. Đức Phật đã dạy ta một con đường tìm hiểunhân để chấm dứt đau khổ, con đường đó phụ thuộc vào kinh nghiệm trực tiếp. Do đó, các phương pháp đào tạo tâm trí của Phật giáo truyền thống - chiêm niệm, thiền định - thể được dạy tại các trường học. Quan điểm của Phật giáo về bản chất không thể thiếu trong kinh nghiệm của con người, trong đó các khía cạnh trí tuệ cảm xúc được đánh giá cao như nhau, liên quan rất chặt chẽ với thế giới hiện đại, vốn bị phân mảnh quá mức. Phật giáo trình bày một con đường rèn luyện tâm trí, giáo dục thực chất chính con đường đó.
    1. Mở ra những khung cảnh học tập mới
Cuối cùng, để khuyến khích sự tham gia tích cực của Phật giáo trong các công việc hàng ngày, chúng ta phải mở ra những khung cảnh học tập mới. Khi nghiên cứu tinh thần của các trường đại học Phật giáo Ấn Độ đại như Nalanda, chúng ta nên cố gắng áp dụng các nguyên tắc Phật giáo trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Giống như triết học Phật giáo ở Ấn Độ phát triển trong cuộc đối thoại liên tục với các trường phái triết học khác, chúng ta cũng nên cố gắng đối thoại liên tục với khoa học và các tôn giáo khác. Trí tuệ Phật giáo về nguồn gốc thành tựu thể mang lại những quan điểm mới cho nhiều vấn đề hội, kinh tế đạo đức nhân loại đang phải đối mặt ngày nay. Hơn nữa, người ta đã chứng minh rằng các quan niệm khoa học về nhân quả trong thế giới tự nhiên phù hợp với sự hiểu biết của Phật giáo, khả năng làm phong phú thêm các ngành khoa học tự nhiên với một khía cạnh đạo đức (Waldron). Do đó, giáo dục Phật giáo không nên chỉ quan tâm đến việc truyền đạt kiến thức phương pháp của quá khứ, còn phải sáng tạo trong việc áp dụng các nguyên tắc của Phật giáo nữa. Nhiệm vụ chủ yếu của các tổ chức giáo dục đại học Phật giáo giữ cho tinh thần của trí tuệ Phật giáo tồn tại biếnthành lợi ích của loài người. Nhìn từ góc độ này, giáo dục Phật giáo một vai trò rất thiết thực trong thế giới hiện đại.
 

vậy, Phật giáo rất nhiều hiểu biết của nó về tâm trí để cung cấp cho sự phát triển của thế giới hiện đại thông qua giáo dục. Với sự nhấn mạnh vào mi vt như chúng vốn thế, Pht giáo cung cp một con đường, một phương tiệnnhân tập thể để tìm hiểu tâm trí của chúng ta các điều kiện mới mẻ sẽ phát sinh giá trong những ngày hỗn loạn toàn cầu này. Theo cách này, thể cho phép những người trẻ tuổi hướng tới trí tuệ hơnkiến thức và tìm ra cách làm việc cùng nhau một cách hài hòa, đồng sáng tạo dựa trên lòng trắc ẩn hơn lòng tham. Với động lực mới, thiền định nhấn mạnh vào các kỹ năng,
    1. Vai trò của VipassanāTh   nminh sáthay Minhsát tutrong go dục
Vipassana con đường tự thay đổi bằng cách tự quan sát. Phương pháp thiền này chú trọng đến tương quan mật thiết giữa tâm thân. Mối tương quan này thể kinh nghiệm được trực tiếp bằng cách chú tâm thận trọng đến những cảm giác thực sự trên thân, những cảm giác luôn luôn đan xen tạo ra các khuôn mẫu cho tâm. Hành trình quan sát tự khám phá này đi vào cái gốc rễ chung của tâm thân, từ đó xóa bỏ những bất tịnh tinh thần, mang đến một tâm quân bình tràn đầy tình thương lòng từ bi.
Những định luật khoa học vốn chi phối ý nghĩ, cảm xúc, sự phán xét, cảm giác của con người trở nên ràng, dễ hiểu. Thông qua những trải nghiệp trực tiếp, ta hiểu được sự tiến bộ hay thụt lùi của bản thân diễn ra như thế nào, việc bản thân tạo ra những khổ đau hay việc tự giải thoát mình khỏi khổ đau diễn ra ra sao. Cuộc sống của ta gia tăng hiểu biết, không còn ảo tưởng, tràn ngập tự chủ an lạc.
Bây giờ chúng ta thể hiểu làm thế nào Thiền minh sát thể lấp đầy khoảng trống quan trọng đó trong giáo dục hiện đạiviệc rèn luyện tâm trí sẽ dẫn đến một cuộc sống cân bằng, hài hòa mục đích. Thiền Vipassanā truyền đạt cách để quan sát tất cả các hiện tượng của thế giới giác quan này. Lợi ích quan trọng của việc thực hành hệ thống - đặc biệt chánh niệm về hơi thở, ý nghĩa quan trọng trong giáo dục - cải thiện khả năng tập trung vào một nhiệm vụ. Như đã giải thích trước đó, bản chất của thực
 

hành Thiền rèn luyện tâm trí để giữ sự chú ý liên tục vào một đối tượng (nghĩa hơi thở), giảm thiểu sự trôi dạt của tâm trí vào sựmộng ích, vốn trở ngại chính cho sự tập trung. Việc đào tạo quan sát các trạng thái tinh thần cũng ích. Một khi những sựmộng như vậy xuất hiện (dù trong lúc thiền định hay trong khi hoạt động bình thường), nếu ta nhanh chóng biến nhữngmộng này trở thành một đối tượng quan sát chặt chẽ, sức mạnh gây phân tâm của chúng sẽ bị hạn chế chúng nhanh chóng bị phân tán. Điều này dẫn đến một sự phục hồi nhanh chóng của sự tập trung. Để đạt được mục tiêu này, yêu cầu chính phát triển một cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm bản của cuộc sống. thường (aniccā) đặc điểm bản một học viên thực hành Vipassanā liên tục phải đối mặt. Khi kinh nghiệm này trở nên ăn sâu, việc nhận ra các đặc điểm khác như đau khổ (dukkha) ngã (anattā) - phát triển một cách tự nhiên, dẫn đến một sự hiểu biết ràng hơn về mục đích của cuộc sống cách để đạt được nó – đó chính sự nhạy bén của giáo dục tinh thần.
    1. Vai trò của Thiền Vipassanā trong phạm
Vipassana - nghĩa thấy sự việc đúng như sự thật, nhưvốn vậy - một trong những phương pháp thiền cổ xưa nhất tại Ấn Độ. Truyn thống thin này được Đức Pht Gautama tái phát hin cách đây hơn 2.500 năm; được Ngài giảng dạy như một liều thuốc chung chữa trị những bệnh chung của nhân loại - một Nghệ Thuật Sống. Phương pháp không tông phái này nhằm tới việc diệt trừ những bất tịnh tinh thần đưa đến hạnh phúc cao cả nhất của việc hoàn toàn giải thoát.
Nhiều học giả cho rằng Thiền Vipassana một kỹ thuật khoa học thuần túy, một nền văn hóa phổ quát của tâm trí, không theo bất kỳ tín ngưỡng, giáo điều hay nghi lễ giáo phái nào. Do đó,nên được chấp nhận toàn cầu, như một phần không thể thiếu của giáo dục. Lợi ích của nó đã được chứng thực bởi hàng ngàn học viên - cả trẻ già thuộc nhiều đẳng cấp, quốc gia tín ngưỡng tôn giáo. Đại Ấn Độ Vivekananda đã từng mơ ước phát triển một nền
 

giáo dục tạo ra con người. Phải chăng giáo dục Phật giáo thể thực hiện ước mơ đó bằng cách tích hợp Vipassanā vào giáo dục hiện đại. Đây thời điểm chín muồi cho một kế hoạch hành động trong lĩnh vực giáo dục được rút ra, ít nhất trên quy mô thực nghiệm, để xác nhận một cách khoa học hiệu quả của Vipassanā trong một thời gian dài. Một số vấn đề quan trọng cần được giải quyết bao gồm:
  1. Làm thế nào để thúc đẩy các sinh viên, giáo viên quảncác trường học cao đẳng giới thiệu Anāpana Vipassanā, thuyết phục được cả các sinh viên giáo viên bất đắc dĩ?
  2. Mức độ đào tạo cần thiết trước khi ủy quyền cho các nhân viên giáo dục dạy thiền trong trường học cao đẳng.
  3. Định dạng thời gian tối thiểu của các trại huấn luyện được tổ chức để khởi xướng các sinh viên trẻ đến với thiền định Anāpana, theo dõi các hạn chế thực tế.
  4. Làm thế nào để duy trì sự liên tục của việc thực hành trong lịch trình chặt chẽ của các trường học cao đẳng?
  5. nên có một khóa học chính thức về thiền Vipassanā trong chương trình giảng dạy của các trường học cao đẳng?
  6. Cách đánh giá ảnh hưởng lợi của Vipassanā đối với giáo viên, học sinh quá trình dạy-học?
  7. Làm thế nào để tích hợp Vipassanā với các dịch vụvấn sinh viên trong các trường học cao đẳng?
Một kế hoạch hành động được suy nghĩ đúng đắn nếu được thực hiện một cách chân thành cuối cùng sẽ mở đường cho sự hình thành của các tổ chức, thể truyền đạt giáo dục toàn diện thực sự. Các tổ chức như vậy sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển cácnhân lành mạnh một hội hài hòa.
  1. NHỮNG THÁCH THỨC HỘI CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO HIỆN ĐẠI
    1. Giáo dục Phật giáo cho sự phát triển bền vững
Giáo dục sự phát triển bền vững cho phép mỗi con người
 

được kiến thức, kỹ năng, thái độ giá trị cần thiết để định hình một tương lai bền vững. Giáo dục sự phát triển bền vững ng- hĩa bao gồm các vấn đề phát triển bền vững quan trọng vào việc dạy học; dụ như biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai, đa dạng sinh học, giảm nghèo tiêu dùng bền vững. cũng đòi hỏi các phương pháp dạy học sự tham gia thúc đẩy trao quyền cho người học thay đổi hành vi của họ hành động để phát triển bền vững. Giáo dục sự phát triển bền vững do đó thúc đẩy các năng lực như tư duy phản biện, tưởng tượng các kịch bản trong tương lai đưa ra quyết định theo cách hợp tác. Giáo dục sự phát triển bền vững đòi hỏi những thay đổi sâu rộng trong cách giáo dục thường được thực hiện ngày nay. UNESCO quan chính của Thập kỷ Giáo dục sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (2005-2014).
Quan niệm kinh tế hiện đại cho rằng sản xuất nhiều hàng hóa sẽ khiến mọi người hạnh phúc bị đặt nhầm chỗ. Nền kinh tế Phật giáo dựa trên phương châm hạnh phúc phúc lợi của số lượng người tối đa (bahujanahitāya bahujanasukhāya) (Vinaya Piaka.I.21). Kinh tế Phật giáo không nhất thiết phải coi chủ nghĩa hiện đại Tây phương hóa không kiểm soát một hiện tượng tích cựcnó chịu trách nhiệm cho nhiều vấn đề lớn chúng ta phải đối mặt ngày nay. Chẳng hạn, một học giả Phật giáo hiện đại đã chỉ ra rằng “Hiện đại bị từ chối bởi nó được coi một dạng sống trong một thời gian ngắn làm hỏng cảnh quan gây ra thiệt hại không thể khắc phục cho môi trường” (Lancaster 1996: 1-2.). Đó là, hiệu ứng nhân quả ảnh hưởng tới con người thông qua môi trường của họ. Do đó, người ta nói rằng, nếu một vị vua người dân của mình hành động bất chính, điều này ảnh hưởng xấu đến môi trường các vị thần sẽ mang đến mưa nhỏ, mùa màng nghèo nàn những người yếu đuối, chết yểu (Aguttara Nikāya.II.74-76). Thông điệp này cũng được ngụ ý mạnh mẽ bởi Aggañña Suttanta của Dīgha Nikāya Trường Bộ kinh, cho thấy tự nhiên lúc ban đầu đã vụ mùa bội thu như thế nào, nhưngtrở nên ít đi khi con người trở nên tham lam (Dīgha Nikāya.III. 80-98).
 

Do đó, theo cách tiếp cận của Phật giáo đối với sự phát triển kinh tế hội, tiêu chí chính điều chỉnh việc xây dựng chính sách phải sự thịnh vượng của các thành viên trong toàn hội. Sản xuất phải phục vụ nhu cầu thực sự của người dân chứ không phải nhu cu của hệ thống kinh tế. Trong một hệ thống như vy, kinh tế sẽ được hướng dẫn không phải bằng mức tiêu thụ tối đa mức tiêu thụ lành mạnh hợp lý, tiếp tục duy trì sự thịnh vượng của con người. Phật giáo thúc đẩy sự phân phối rộng rãi các nhu yếu phẩm bản để không ai phải chịu cảnh thiếu thốn thiếu thốn nguyên nhân sâu xa của xung đột hội. vậy, nói về nguyên nhân của xung đột hội, Đức Phật đã chỉ ra rằng “Hàng hóa không được ban cho để sự nghèo khổ đầy rẫy; từ nghèo đói ngày càng gia tăng nạn ăn cắp, từ sự lây lan của bạo lực thì ăn cắp đã tăng lên, từ sự gia tăng của bạo lực thì sự hủy diệt cuộc sống sẽ trở thành phổ biến” (Dīgha Nikāya.III. 67). Tích trữ của cải dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi thường trong Phật giáo nếu một người giàu chỉ tự mình tận hưởng sự giàu của mình, thì đó sẽ một thất bại đối với anh ta. Trên thực tế, niềm tự hào về sự giàu hay sự hợm hĩnh kinh tế được đưa ra trong Phật giáo nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ. Như Fromm đã chỉ ra, hệ thống hiện tại tạo ra sự tham lam ích kỷ, trong đó thành côngnhân được đánh giá cao hơn trách nhiệm hội.
Bằng cách chỉ ra rằng việc theo đuổi thô tục sự xa xỉ phung phí nguyên nhân gốc rễ của đau khổ, Phật giáo khuyến khích sự kiềm chế, đơn giản tự nguyện tự hài lòng “Phần lớn việc tham lam thu vénnhân mở rộng nhu cầu phản đề của trí tuệ. cũng phản đề của tự do hòa bình. Mỗi sự gia tăng nhu cầu xu hướng làm tăng sự phụ thuộc của một nhóm vào các lực lượng bên ngoài người ta không thể kiểm soát, do đó làm tăng nỗi sợ hiện sinh. Chỉ bằng cách giảm nhu cầu, người ta mới thể thúc đẩy việc giảm thiểu thực sự những căng thẳng, đó chính nguyên nhân cuối cùng của xung đột chiến tranh” (Schumacher 1973: 20). Do đó, kinh tế Phật giáo dựa trên nhữngtưởng như hài lòng với sự thanh đạm, tránh lãng phí, đơn giản tự nguyện, tức ít ham
 

muốn (appicchatā), thỏa mãn (santutthi) mong muốn mở đường cho hòa bình hạnh phúc. Hài lòng tình trạng tinh thần của một người thỏa mãn với những anh ta hoặc vị trí anh ta tìm thấy chính mình (santussamāno itarītarena) (Sutta-Nipāta.v. 42).
Theo quan điểm của Phật giáo, các vấn đề kinh tế đạo đức không thể tách rời nhau. Từ quan điểm của Phật giáo, chỉ đơn thuần sự thỏa mãn nhu cầu kinh tế không phát triển tâm linh không bao giờ thể dẫn đến sự hài lòng giữa mọi người. Giống như nghèo đói nguyên nhân của nhiều tội ác, sự giàu cũng nguyên nhân của nhiu căn bnh khác nhau. Trong xã hi tiêu dùng, sgiàu có chỉ được nhìn từ quan điểm duy vật. Hơn nữa theo Phật giáo, sự giàu phải kiếm được thông qua ý nghĩa chính đáng đạo đức. Sự rộng lượng từ thiện (dāna) phóng khoáng khoan dung (cāga) luôn được liên kết trong Phật giáo với đức hạnh. Bằng cách đó, người ta thoát khỏi sự ích kỷ trở nên không thể chấp nhận được với người khác bởi “Một người hay cho đi nhiều bạn” (Sutta-Nipāta. 187). Không cần thiết phải nhiều để thực hành sự hào phóng bởi việc cho đi từ một nguồn ít ỏi cũng được coi rất giá trị (Samyutta Nikāya.I.18; Dhammapada. 224). Sự hào phóng một trong những phẩm chất quan trọng giúp người ta trở tnh một quý ông (Aguttara Nikāya.IV.218). Đức Pht so sánh người kiếm được của cải một cách chính đáng chia sẻ điều đó với mọi người giống người cả hai mắt, trong khi người kiếm được của cải nhưng không công đức thì giống như một người chột một mắt (Aṅguttara Nikāya. I. 129-130). Do đó, để xây dựng một hội lành mạnh, sự tự do hào phóng cần được khuyến khích.
    1. Những thách thức hội của giáo dục Phật giáo hiện nay
Phật giáo đã trở nên khá phổ biến được thiết lập tốtchâu Á hiện nay. một số lượng lớn các trung tâm Phật giáohầu hết các quốc gia, các chương trình học tập thực hành mở rộng, bao gồm học trực tuyến với các giáobằng văn bản, âm thanh video, cũng như các sở nhập thất, nhà xuất bản, chương trình cho trẻ em, nhà tế bần, v.v… Tài liệu học tập thực hành sẵn ở một mức
 

độ khác nhau trong hầu hết các ngôn ngữ châu Á. Các tổ chức Phật giáo khác nhau hợp tác với nhau, với hầu hết các quốc gia Giáo hội Phật giáo để phối hợp các nỗ lực của họ.
Đây không phải dịp để ghi lại tất cả mọi thứ đã phát triển trong những thập kỷ qua. Chúng ta thể nói rằng còn nhiều vấn đề thể làm hơn trong tất cả các lĩnh vực này. Thay vào đó, tôi xin tập trung vào một số thách thức Phật giáo sẽ cần phải giải quyết trong những thập kỷ tới, đặc biệt châu Á, cũng như trên toàn thế giới. Tôi cũng xin phác tho nhng cơ hi mà nhng thách thức này mang lại cho sự phát triển hơn nữa của Phật giáochâu Á thông qua việc sử dụng công nghệ Internet. Nhiều đề xuất tôi sẽ đưa ra dựa trên các tính năng ta đã phát triển để đáp ứng những thách thức này.
Lượng thông tin lớn có sẵn
Với số lượng bản dịch giảng dạy ngày càng tăng sẵn trong sáchvàtrctuyến, sinhviêngpkhókntrongvicđánhgiáchúng. Đặc biệt gây trở ngại cho người mới học hay nghiên cứu câu hỏi bắt đầu từ đâu. Nếu một người làm về chủ đề Phật giáo như nghiệp chướng, không chỉ hàng triệu xuất bản phẩm xuất hiện, một số lượng lớn trong số đó không liên quan đến Phật giáo cũng sẽ xuất hiện trên màn hình. Điều này khiến việc tìm kiếm thông tin đáng tin cậy thông qua các công cụ tìm kiếm trực tuyến lớn cùng khó khăn. Hơn nữa, tất cả các truyền thống của Phật giáo hiện đã sẵn sinh viên thường học với nhiều hơn một truyền thống. Điều này thường dẫn đến sự nhầm lẫn trộn lẫn mọi thứ với nhau không hiểu các tính năng đặc biệt của từng truyền thống.
Những thách thức này tạo hội cho các Hiệp hội hay Giáo hội Phật giáo ở mỗi khu vực ngôn ngữ châu Á chuẩn bị các trang web ứng dụng chứa danh sách, với lý lịch, các tài liệu Phật giáo bằng văn bản video được xuất bản, trực tuyến bằng ngôn ngữ của họ, cùng với giá của chúng. Những vấn đề này cần được sắp xếp theo cả chủ đề chung, cụ thể mức độ khó, dụ như kinh, tantra, maha- mudra, Theravada, Zen, v.v...thể hoạt động như một Wikipedia, được giám sát bởi một nhân viên biên tập. Nhân viên kỹ thuật cũng
 

thể tạo ra các công cụ tìm kiếm trực tuyến chỉ định vị các thuật ngữ trong các trang web Phật giáo cụ thể.
Số lượng lớn các trung tâm Phật pháp
Tương tự, với rất nhiều trung tâm Phật pháp từ rất nhiều truyền thống Pht giáo, kng chỉ Tây Tng, có sn ở nhiu tnh phố lớn của châu Á, người mới cũng khó quyết định đi đâu. Sẽ rất hữu ích nếu các Giáo hội Phật giáo ở mỗi quốc gia thể cung cấp trực tuyến, ở cả trang web hình thức ứng dụng, không chỉ danh sách các trung tâm Phật giáo ở quốc gia trang web sẵn bằng ngôn ngữ của họ, còntả về các loại hình chương trình, mỗi loại hình cung cấp các chi phí cho chúng. Bởi chi phí tại nhiều trung tâm trang web này cao, việc học Pháp ngày càng trở nên đắt đỏ. Mặcđã sự giảm bớt chi phí cho những người không khả năng thanh toán đầy đủ, nhiều người vẫn không thể đủ khả năng để tận dụng tối đa các tiện ích được cung cấp. Họ cần thể dễ dàng tìm thấy các chương trình miễn phí hay cách tận dụng các chương trình đang có.
Sự đa dạng của các bản dịch thuật ngữ Phật giáo
lẽ thách thức lớn nhất các sinh viên Phật pháp phải đối mặtrất nhiều bản dịch được sử dụng trong mỗi ngôn ngữ với các thuật ngữ kỹ thuật của Phật giáo, chẳng hạn như các ngươi/ nghiệp chướng/ …. Bởi điều này, sinh viên không thể kết hợp những họ đọc hoặc nghe từ các giáo viên dịch giả khác nhau. Ngoài ra, khi sinh viên gặp phải các thuật ngữ kỹ thuật, chẳng hạn như Trí tuệ/ Tuệ, không các định nghĩa đi kèm, họ thường hiểu sai về chúng. Các thut ngvà từ đin Tây Tng hin có sn trực tuyến được sp xếp theo các thut ngTây Tng và được thiết kế để cung cấp cho người dịch thông tin về cách những người khác đã xửvới các điều khoản cụ thể. Chúng ít được sử dụng cho những sinh viên Pht giáo kng biết tiếng Tây Tng.
Để đáp ứng thách thức này, các giáo viên dịch giả Phật giáo sang các ngôn ngữ châu Á cần cung cấp trong các tác phẩm viết của
 

họ tiếng Tây Tng, tiếng Hán Vit và, nếu có th, tiếng Phạn cho các thuật ngữ dịch thuật chính họ sử dụng họ phải cố gắng sử dụng các thuật ngữ dịch thuật này một cách nhất quán khi thuyết trình. Họ cũng cần biên soạn các từ điển về các thuật ngữ này, cùng với tiếng Tây Tng, tiếng Hán Vit và tiếng Phạn,… cng với các định nghĩa của chúng.
Trên sở các thuật ngữ này, một sở dữ liệu trực tuyến khổng lồ về các thuật ngữ kỹ thuật Phật giáo định nghĩa của chúng trong các ngôn ngữ chính của châu Âu châu Á thể được tạo ra, cả dưới dạng trang web miễn phí ứng dụng miễn phí. Điều quan trọng tất cả các ngôn ngữ chính của châu Á đều được bao gồm trong một sở dữ liệu gồm các ngôn ngữ khác nó giúp nhiều người hiểu hơn khi xem xét các thuật ngữ bằng nhiều ngôn ngữ. Bằng cách liên kết trong sở dữ liệu từng thuật ngữ dịch với bản gốc tiếng Tây Tng/ Tiếng Anh/ Trung/ Phạn, người dùng scó thể nhập khóa theo thuật ngữ họ đọc trong tác phẩm của một người dịch sau đó nhấp để tìm cách dịch khác định nghĩa cùng một thuật ngữ. Bằng cách này, họ thể kết hợp những họ đọc trong tác phẩm của cả hai dịch giả này biết rằng họ đang thảo luận về cùng một điều.
Đa ngôn ngữ
Mặc nhiều lời cầu nguyện của Phật giáo, sādhanās pujās sẵn trong hầu hết các ngôn ngữ châu Á, hầu hết các tài liệu ng- hiên cứu chỉ sẵn bằng một hoặc đôi khi hai ngôn ngữ châu Á lớn. Thách thức làm cho các tài liệu học tập này sẵn trong tất cả các ngôn ngữ chính của châu Á. Nếu tất cả các phiên bản ngôn ngữ sẵn trực tuyến trong một trang web, người đọc đa ngôn ngữ thể chuyển đổi giữa các ngôn ngữ để được sự ràng hơn.
Hơn nữa, bằng cách tạo bản sao trực tuyến các tệp âm thanh thể truy cập bằng trình phát âm thanh cố định, người nghe ngôn ngữ nói ngôn ngữ thứ hai thể theo dõi các cuộc nói chuyện dễ dàng hơn. Một lợi ích bổ sung của việc cung cấp phụ đề trực tuyến chúng thể tìm kiếm được bằng các công cụ tìm kiếm, trong khi
 

các tệp âm thanh video thì không. Hơn nữa, phụ đề làm cho các học sinh khiếm thính thể theo dõi các bài giảng thể dễ dàng dịch sang các ngôn ngữ khác.
Sự hòa hợp tôn giáo
Để thúc đẩy sự hòa hợp tôn giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh việc cung cấp thông tin chính xác về mỗi truyền thống sẵn cho những truyền thống khác. một lục địa đa tôn giáo, đa ngôn ngữ với nhiều người nhập cư, châu Á nói chung Việt Nam nói riêng thể thực hiện mục tiêu này. Chúng ta cần chuẩn bị nhiều bản dịch các tác phẩm Phật giáo sang ngôn ngữ của các quốc gia Đông Nam Đông Á nơi các truyền thống Phật giáo khác phát triển. Những bản dịch này cần bao gồm không chỉ các tài liệu giới thiệu các bình luận về Phật giáo Việt Nam, cả các giáo lý của các bậc thầy hiện đại, những điều này thường dễ hiểu hơn đối với người dân.
Nhưng khi chúng ta coi Phật giáo một tôn giáo, về bản thể được nghiên cứu theo hai cách: từ bên trong hoặc từ bên ngoài. Các tôn giáo phi lịch sử, theo nghĩa châu Âu, những tôn giáo không bắt nguồn từ văn hóa châu Âu được nghiên cứu theo truyền thống nhưng không khoa học, khách quan thường theo định kiến, miệt thị, liên quan đến cảm xúc haynhân nào. Khi người châu Âu bắt đầu sayvới phương Đông khoảng hai hoặc ba thế kỷ trước, các nền văn hóa phương Đông trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học. Do đó, các trường đại học châu Âu đã phát triển truyền thống nghiên cứu phương Đông, tập trung chủ yếu vào nghiên cứu các văn bản. Tuy nhiên, những nghiên cứu Phật giáo cần phải xuất phát từ các lĩnh vực như ngôn ngữ học, triết học, lịch sử tôn giáo,… Do đó, giáo dục Phật giáo theo nghĩa truyền thống không thể được coi dụ của nghiên cứu đầy đủ toàn diện nghiên cứu văn bản chỉ một phần của đào tạo. Gần đây, dựa trên nghiên cứu các nguồn văn bản Phật giáo khác nhau, kết hợp các phương pháp triết học nhân học văn hóa, khoa học về Phật giáo đã phát triển, nhằm mục đích nghiên cứu Phật giáo trong bối
 

cảnh lịch sử của nó. Mặcnhững nghiên cứu này thể giúp tăng cường sự hiểu biết của chúng ta về Phật giáo, nhưng chúng không vượt ra ngoài phong cách học thuật của sự tìm hiểu khách quan và, do đó, một lần nữa, không thể được coi giáo dục Phật giáo.
Sự phát triển cá nhân theo ý nghĩa tinh thần hoặc tâm linh, đó mục tiêu cuối cùng của đào tạo Phật giáo truyền thống, ràng nằm ngoài phạm vi của các học viện phương Tây, do đó, khóthể dự kiến để tổ chức các chương trình giáo dục Phật giáo theo đúng nghĩa của nó một nền giáo dục Phật giáo đủ điều kiện ở châu Âu phải đáp ứng hai bộ tiêu chí khá khác nhau: một bộ theo truyền thống Phật giáo một bộ theo tiêu chí khoa học phương Tây. Hai điều này không dễ dàng để đưa vào cùng một dòng. Nói chung, các tiêu chuẩn phương Tây dựa trên khả năng đo lường khách quan về kiến thức kỹ năng của một lĩnh vực nhất định, không cần quan tâm nhiều đến phần còn lại về tinh thần. Tuy nhiên, theo ng- hĩa của Phật giáo, sự phát triển các kỹ năng hiểu biết phải đi đôi với sự tiến bộ cá nhân với đạo đức, sự tập trung - những kỹ năng tinh thần này không dễ đo lường. Nhưng quan trọng hơn, cam kết học tập đòi hỏi sự không thiên vị, không định kiến đối với một đối tượng nghiên cứu, điều này trái ngược với những được mong đợi ở một trường học Phật giáo truyền thống. vậy, sự khác biệt bản giữa hai nhóm kỳ vọng này dường như nằmsự hiểu biết tương ứng của chúng về việc sử dụng kiến thức, đó là: kiến thức nào tốt cho cái- đó lý do tại sao chúng ta nghiên cứu. Ở châu Âu, một số nhàtưởng hậu hiện đại cho rằng kiến thức sức mạnh, ngay từ đầu; vậy, một phương tiện để kiểm soát thao túng thế giới xung quanh chúng ta, chính chúng ta môi trường, bằng cách phản đối một lĩnh vực nghiên cứu khác - hiển thị ở chỗ nó thể quảnđược. Ngoài ra, ta xác định chính mình liên quan đến đối tượng đó. Học theo nghĩa Phật giáo một cái đó khá khác biệt. không thể được sử dụng để kiểm soát hoặc thao túng hoàn toàn ngược lại, nó cho thấy sự ích của những mối quan tâm của con người!
 

Tất cả những điều này cho thấy rằng Phật giáo không phù hợp với các loại hình phương Tây kỳ vọng của chúng ta về một môn học tôn giáo hoặc khoa học sẽ như thế nào. Sự khác biệt giữa khoa học tôn giáo này một di sản văn hóa châu Âu, thể bắt nguồn từ sự chia rẽ giữa lý tríđức tin - giáo điều Kitô giáo không phù hợp với những phát hiện quan sát khoa học. Khi phương pháp khoa học đã chứng minh ngày càng thành công hơn trong việc dự đoán hành vi của các vật thể trong thế giới tự nhiên, các phương thức hiểu biết tôn giáo đã bị mất uy tín hoặc bị giáng xuống một thế giới siêu việt. Hai thế giới này dường như không mối quan hệ với nhau. Tính đối ngẫu phương Tây đặc trưng này được phản ánh trong sự tương thích nhận thức giữa nghiên cứu khoa học khách quan kinh nghiệm tôn giáo chủ quan.
  1. KẾT LUẬN
Tóm lại, Giáo dục Phật giáo một chương trình đào tạo toàn diện, thực tế, ràng, đã được thử nghiệm trong cuộc sống hàng ngày. bao gồm một phương pháp kỹ thuật sống để giúp người ta đáp ứng được khi gặp những vấn đề thách thức trong cuộc sống cũng như tận dụng tốt nhất những hội hạn cuộc sống mang lại. Khi Phật giáo được coi một tôn giáo, nó bị giảm xuống thành một hệ thống niềm tin; khi nó được coi một khoa học, nó xu hướng thoái lui chỉ về khía cạnh tôn sùng của nó. vậy, về mặt thể chế, thách thức đối với giáo dục Phật giáochâu Á nói riêng trên thế giới nói chung trong thế kỷ XXI, dường như phát triển lên một khuôn khổ thể chế, không sự phân biệt về học thuật hay tôn giáo, chúng ta cũng nên nghĩ ra các chương trình tránh sự nhấn mạnh từ một phía hoặc đào tạo trí tuệ hoặc tinh thần, do đó giúp khôi phục tính toàn vẹn về kinh nghiệm của con người. Theo nghĩa này, Giáo dục Phật giáo một chương trình giáo dục toàn diện, dựa trên thực tiễn và ứng dụng thực tế của Phật pháp. không phải một nghiên cứu học thuật để đáp ứng sự hài lòng về trí tuệ. Trái lại, Giáo dục Phật giáo kêu gọi kiên quyết tự nỗ lực tự cam kết vững chắc để không chỉ học còn khéo léo rèn
 

luyện bản thân trong Giáo lý của Đức Phật. Như vậy, Giáo dục Phật giáo thu hút tất cả các khoa phái – cả cảm xúc cũng như trí tuệ ý chí. Đây một trong những thông điệp chính tôi muốn đưa ra, ở đây: chúng ta hãy cố gắng thoát khỏi tính hai mặt này! Về mặt tâm linh, thử thách chính của giáo dục Phật giáo ngày này dường như là để chữa lành những tổn thương của thế giới sau một thời đại đề cao quá mức khí, máy móc vật chất.



***
 



Tài liệu tham khảo
Tài liệu gốc
The Dīgha Nikāya, Translated from the Pāli by Rhys Davids, The Di- alogues of the Buddha, 3 vols, Delhi: Motilal Banarsidass, 2007 (reprints).
The Majjhima Nikāya, (Trans.) Bhikhu Nāamoli, Bhikhu Bodhi, The Middle Length Discourses of the Buddha, 3 vols, Boston: Wis- dom Publications, 2009 (reprints).
The Sayutta-Nikāya, (Trans.) Bhikkhu Bodhi, The Connected Dis- courses of the Buddha, 5 vols, Boston: Wisdom Publications, 2000; (Trans.) Rhys Davids & F.L. Woodward, The Book of the Kindred Sayings, 5 vols, Delhi: Motilal Banarsidass, 2005 (re- prints).
Aguttara-Nikāya, (Trans.) F.L. Woodward & E.M. Hare, The Book of the Gradual Sayings, 5 vols, Delhi: Motilal Banarsidass, 2006 (reprints).
The Dhammapada, (Trans.) F. Max Muller, A Collection of Verses, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1992.
The Udāna and Itivuttaka, John D. Ireland, Srilanka: Buddhist Pub- lication Society, 1997.
The Visuddhimagga, (Trans.) Bhikkhu Nanamoli, The Path of Purifi- cation, Colombo, Ceylon: Published by R. Semage, 1956.
Tài liệu thứ cấp
Bhikkhu Ñāamoli (trans.), Mindfulness of Breathing(Buddhist texts from the Pāli Canon and Extracts from the Pāli Commentar- ies), Buddhist Publication Society, 2010.
D.K. Barua, An Analytical Study of Four Nikāyas, New Delhi: Mun- shiram Manoharlal, 2003.
 

Bhikkhu Bodhi (ed.), In the Buddhas words An Anthology of Dis- courses from the Pāli Canon, Boston: Wisdom Publication, 2005.
Bhikkhu Bodhi, A Comprehensive Manual of Abhidhamma: The Abhidhammattha Sangaha of Ācariya Anuruddha, Seattle, WA: BPS Pariyatti Editions, 2000.
Bhikkhu Ñāamoli (trans.), Mindfulness of Breathing(Buddhist texts from the Pāli Canon and Extracts from the Pāli Commentar- ies), Buddhist Publication Society, 2010.
Bhikkhu Ñāamoli (trans.), Visuddhamagga, The Path of Purifica- tion, Buddhist Publication Society, Colombo, Srilanka.
Bhikkhu Ñāamoli (trans.), The Path of Discrimination. (Patisambhidāmagga), Oxford: The Pāli Text Society, 1991.
Harcharn Singh Sobti (ed.), Vipassanā the Buddhist way (The Based on Pāli Sources), Delhi: Eastern Book Linkers, 2003.
U Ko Lay, Manual of Vipassana meditation, Dhamma Giri, Igatpuri, Maharashtra, 2010.
C.Alexander Simpkins & Annellen M. Simpkins, Zen Meditation in Psychotherapy, Techniques for Clinical Practice, Canada: John Wi- ley, 2012.
Mark Epstein, M.D., Psychotherapy without the Self - A Buddhist Per- spective, London: Yale University Press New Haven, 2007.
K. Khao-suan-luang, Reading the mind, Buddha Dhamma educa- tion association Inc.
Soma Thera, The way of Mindfulness the Satipatthana Sutta and Its Commentary, 1998.
Nyanaponika, Thera, The power of mindfulness, San Francisco: Uni- ty Press, 1972.
Bobrow, J., Moment of truth—truths of moments, In Safran, J. D. (ed.). Psychoanalysis and Buddhism: An unfolding dialogue, Bos- ton: Wisdom Publications, 2003.


Oldenberg, H., Buddha his life, His Doctrine, His Order, Delhi: Mo- tilal Banarsidass, 1997.
Rahula, W., What the Buddha Taught, London: Gordon Fraser, 1978.
A.C. Taylor (Ed) Patisambhimagga, Pali Text Society, Vol. 1905, Vol. II, 1907.
Ambassador Dato Dr.G.K.Ananda Kumaraser, Buddhist educa- tion and pedagogy Challenges and Opportunities Presented in UNDV Conference.
C.A.F.Rhys Davids (trs) Buddhist Psychological Ethics (Translations of Dhammasangani) Pali Text Society, 1974 (3rd Edition).
D.D. Kosambi (Ed) Visuddhimagga, Bhartya Bhavan, Bombay, 1940.
Edward Conze, Buddhist Meditation, Harper Torch Books, New York, 1956.
Erich Fromm, The Art of Loving, Harper Paper Planning classical publications.
F.L. Woodward (trs) The Kindered Sayings (Translation of Samyutta Nikaya) Pali Text Society, 1979.
Lancaster Pamphlets Series on “The Environmental and Interna- tional Relations” ed. John.Volger & Mark Imber, Routledge, London: 1996.
Report of Education Commission (1964-66): Education and Nation- al Development, Ministry of Education, Govt. of India, 1966.
Schumacher, E. F., Small is Beautiful: Economics as if People Mat- tered, London: Hartley and Marks, 1999.
Venerable Nyanaponika Thera., The Heart of Buddhist Meditation, Rider, London 1962.
UNESCO Education Report, 2010.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây