24. NHÌN CHUNG VỀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO CỦA ĐÀI LOAN

Thứ sáu - 06/12/2019 03:57
NHÌN CHUNG VỀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO CỦA ĐÀI LOAN
TS.SC. Thích Nữ Tuệ Bổn
 
Giáo dục một vấn đề cùng quan trọng, đối với hội nói, nn giáo dục sẽ quyết định sự thịnh suy của đt nước. Trong Phật pháp cũng vậy, giáo dục hàng đầu, chúng ta c thể duy trì được mạng mạch Phật pháp hay không dựa vào công tác giáo dục. Cho nên trong bài viết này, chúng tôi chọn giáo dục Phật giáo của Đài Loan làm đề tài, qua đ, c thể nhìn thấy những thành công những vấn đề của họ học hỏi rút kinh nghiệm cho Phật giáo nước nhà.
Ni đến giáo dục Phật giáo, suy nghĩ của chúng ta thường hạn cuộc ở việc giáo dục Tăng già, nhưng nền giáo dục của Phật giáo Đài Loan không hạn cuộc ở đây. Sở dĩ, giáo dục Phật giáo Đài Loan được phát triển nhanh chng do ở điểm này. Nước này đã mở rộng giáo dục Phật giáo kết hợp với giáo dục hội, đây sự thành tựu về giáo dục Phật học ở Đài Loan.
  1. KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TẠI ĐÀI LOAN
Tình hình Phật giáo Tăng già của Đài Loan trước năm 1949 dường như bước vào giai đon bế tc1. Tm 1949, Trung Quốc


1. 释东初法师在《中国佛教近代史》中曾断言:“可谓是彻底的失败”.
 

đại lục Đài Loan đôi bờ phân cách, thời cuộc chiến loạn, lúc bấy giờ các bậc Tăng tài từ Trung Quốc qua Đài Loan, như: ngài n Thuận, Tinh Vân, Trí Quang, Nam Đình, Thành Nhất... đã ra sức xây dựng nền giáo dục Phật giáo tại Đài Loan. cho đến hôm nay, c thể nói giáo dục Phật giáo Đài Loan đang nằm trong những nước hàng đầu thế giới.
Do sự nhiệt tâm trăn trở về giáo dục Phật giáo của quý Ngài, từ sau năm 1949 đã c nhiều Phật học viện được ra đời, phải kể đến: Phật học viện Phước Nghiêm, Phật học viện Pháp Cổ Sơn, Phật học vin Viên Quang, Pht học vin Hoa Nghiêm Chuyên Tông, Phật học viện Quang Đức... Bên cạnh đ, những đoàn thể Phật giáo cũng được thành lập rất nhiều đoàn thể đã bắt đầu chú trọng vào vic giáo dục, hin tượng này gi là “Pht giáo hưng học. Nhng trường học của đoàn thể Phật giáo sáng lập tại Đài Loan được nhà nước công nhận trường đại học chính quy, như: Đại học Phật Quang, Đại học Hoa Phạn, Đại học Huyn Trang... đu mang tính chất của một trường đại học tổng hợp. Những trường đại học này đều c khoa tôn giáo học, đào tạo bồi dưỡng nhân tài nghiên cứu Phật học. về mặt thiết kế cũng như sắp xếp giáo trình đều hoàn chỉnh theo quy cách của một trường đại học hiện đại.
Ngoài cao tầng giáo dục ra, tại Đài Loan giáo dục Phật giáo còn rất nhiều loại hình thức khác: Từ Tế năm 2000 đã hoàn tất chương trình “Hoàn toàn ha giáo dục” từ nầm non đến đại học, đồng thời trin khai mở rng giáo dục xã hội. Ở Trung Đài Thin Tđã sáng lập trường tiểu học trung học. cấu tổ chức của những hình thức giáo dục này đều lấy tinh thần Phật pháp làm chỉ đạo, lấy rộng khắp hội đại chúng làm đối tượng.
Đây nói khái quát về giáo dục Phật giáo Đài Loan, bao gồm cả Phật giáo đối với giáo dụchội, nhưng vấn đề chính của giáo dục Phật giáo giáo dục Tăng già, đây mới vấn đề căn bản, mục đích đào tạo Tăng tài. Đào tạo Tăng tài khác với bồi dưỡng học giả ng- hiên cứu Phật pháp, càng khác với đại chúng ha giáo dục. Tăng già trụ cột của Phật pháp, thiếu đi Tăng tài thì mạng mạch Phật
 

pháp khó duy trì lâu dài, những đoàn thể Phật giáo cũng không thể phát triển những hình thức giáo dục khác của Phật giáo cũng không tiếp tục duy trì.
  1. PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC TĂNG GIÀ TẠI ĐÀI LOAN
Ni về giáo dục Tăng già, làm thế nào để bồi dưỡng được một Tăng tài đúng nghĩa? tiếp tục phương thức Tùng Lâm giáo dục, hay triển khai hình thức học viện giáo dục, hoặc kết hợp cả hai phương thức? Vấn đề này đã trở thành phương hướng tư duy trăn trở của giáo dục Tăng già hiện đại. Tác giả bài viết người từng tham học tại Đài Loan, đối với việc triển khai phát triển giáo dục Tăng già tại Đài Loan cũng c phần hiểu biết, cũng c tư duy so sánh với giáo dục Tăng già ở nước ta.
Hiện nay Đài Loan đối với giáo dục Tăng già thì hình thức Phật học viện vẫn c ảnh hưởng lớn nhất, nhưng c nơi thì đã c phần cải cách c nơi vẫn giữ nguyên hình thức giáo dục truyền thống. Quy nạp lại, giáo dục Tăng già tại Đài Loan chủ yếu c ba phương thức.
    1. Hệ thống hóa giáo dục Phật học viện
Đài Loan c rất nhiều đoàn thể Phật giáo sáng lập Phật học viện, để tiến nh hệ thống hóa giáo dục cho Tăng đoàn. Trong đó nhng Phật học viện c ảnh hướng lớn như: Phật học viện Phước Nghiêm, Pht học vin Viên Quang, Pht học vin Trung Đài, Pht học viên Ni chúng Hương Quang, Phật Quang Sơn Tùng Lâm học viện... cấu của những trường này gọi Phật học viện, ngoài ra còn c những chùa sự giáo dục Tăng chúng của chùa mình thành lập tổ chức giáo dục nội bộ. Còn c những vị thuộc vào giới học sĩ của Phật giáo triển khai giáo dục Tăng già đặc biệt thành lập cấu giáo dục, trên mặt ý nghĩa so với truyền thống Tùng Lâm giáo dục c chỗ khác biệt. Những Phật học viện đều c giáo trình cố định riêng, tùy theotưởng của người sáng lập c sự quy hoạch không đồng.
dụ, Phật học viện Phước Nghiêm khởi đầu do ngài Ấn Thuận, sau khi kiến lập Phước Nghiêm Tinh tại Đài Loan, c rất
 

nhiều Tăng chúng theo Ngài học tập nghiên cứu giáoPhật học, phát triển đến tháng 3 năm 1961 đã thành lập nên Phước Nghiêm Học xá, bấy giờ một trường học giáo dục Tăng chúng duy nhấtĐài Loan (ch c Tăng không c Ni). Y chiếu theo trong sách Giáo chế Giáo điển Giáo học c đoạn ni: “Nhân tài hoằng pháp của Phật giáo, không phải chỉ c sự hiểu biết đối với tri thức Phật giáo, bởi hoằng pháp không phải chỉ truyền tri thức. Nhất đối với một người xuất gia, muốn c thể nhiếp ha rộng rãi tín chúng, đem lại lợi ích chính đáng cho Phật giáo, thì ngoài việc truyền dạy tri thức ra, cn phải có đức hạnh cao thượng và cstinh tấn tu trì2”. Tiêu chí của Phật học viện Phước Nghiêm truyền dạy chánh tri chánh kiến của Phật pháp, trao dồi phẩm hạnh của người xuất gia, chỉ đạo phương pháp tu học, thực hành đời sống hòa hợp của Tăng đoàn. Về mặt soạn giáo trình ban đầu thì y chiếu theo quy hoạch của ngài Ấn Thuận, lấy học tập nghiên cứu Kinh - Luật - Luận làm chính, trong đ, lấy việc huân tu giới học làm trung điểm của giáo dục, còn c huấn luyện tu thiền, năng lực làm việc, nghi lễ Phật giáo kỹ xảo hoằng ha. Ban đầu chia làm ba cấp cấp, trung cấp nghiên cứu sở; sau thay đổi thành đại học bốn năm, nghiên cứu sở ba năm.
Khác với Pht học vin Phước Nghiêm là Pht học vin Trung Đài, đi tượng học viên là Tăng chúng của Trung Đài Thin tự, không chiêu sinh bên ngoài, tiêu chí thể hệ giáo trình của trường này được gi là tam hoàn nht th, tức là giáo lý, phước đức, thin định cùng kết hợp. Hin ti, học viên của Pht học vin Trung đài gồm c Tăng Ni hai chúng, trường này không c đại học ng- hiên cứu sở, giáo trình của học viện bao gồm cả Phật học thế học. Về mặt Phật học, c đủ giới-định-tuệ tam học; về phần thế học, gồm c quốc học, mỹ thuật,vấn, ngoại ngữ, thư pháp, thuật.... Ngoài việc lên lớp, Tăng chúng còn c thời thực hành ngồi thiền vào buổi sáng buổi tối.




2.《教制教典與教學》:「培養佛教的弘法人才,決不單是對佛教有所認識,因為 弘法不只是知識的灌輸。尤其是身為宗教師的出家眾,要想真能夠攝受廣大信眾,給予 佛法的真利益,除佛教知識外,必須具有高尚的德行,和精勤的修持,如此才能使信眾 們建立信心,進而引導他們深入佛法。」( Y 21p140 )
 

Ngoài ra, nổi bật hơn Phật Quang Sơn, nơi này c trường Đại học Phật Quang Sơn, trường Đại học Nam Hoa mang tính tổng hợp của một trường đại chính quy, Phật Quang Sơn còn sáng lập Tùng Lâm Học viện một trường chuyên môn của giáo dục Tăng già. Phật Quang Sơn Tùng Lâm Học viện cũng một Phật học viện nằm trong hệ thống của Phật Quang Sơn, sáng lập vào năm 1973, tiền thân của trường này Thọ Sơn Phật học viện, ban đầu đối tượng đào tạo đều người xuất gia, nhưng sau đó trở thành cấu giáo dục độc lập không phụ thuộc vào tự viện, đối tượng giáo dục cũng diễn biến c cả Tăng tục hai chúng, không chỉ hạn cuộc Tăng chúng của Phật Quang Sơn. Hệ thống cấu, tổ chức của Phật học viện này c quy mô rộng lớn, phân thành khoa quốc tế khoa chuyên tu học. Đối với khoa chuyên tu học bao gồm: Phật Quang Sơn Tăng chúng Phật học viện, Phật Quang Sơn Ni chúng Phật học viện các Phật học việnHương Cảng, Malaysia, thuộc vào cấp đại học giáo dục. Phật Quang Sơn Tùng Lâm học viện học chế 4 năm, học viên hoàn toàn tuân theo thời khắc của chuông bảng nhà chùa, mỗi ngày hai thời công phu sáng chiều, chấp tác trị nguyệt luân phiên, thời khắc sinh hoạt quy củ đều yêu cầu lấy xuất gia chúng làm tiêu chuẩn, chú trọng vào việc giáo dục sinh hoạt, từ trong cuộc sống hàng ngày bồi dưỡng thành oai nghi của người xuất gia, chủ yếuviệc bồi dưỡng văn ha Phật giáo, giáo dục, từ thiện, hoằng pháp... những chuyên môn của nhân tài Phật giáo.
Những Phật học viện này, bất luận chỉ đối với nội bộ Tăng đoàn khai triển giáo dục, hay chiêu sinh bên ngoài, đều c điểm đặc trưng không giống đối với trước đây trong Tùng Lâm giáo dục Tăng già đã hiện đại hóa, dần dần kiến lập thành hình thức giáo dục hệ thống hóa, học chế ha. Tại Đài Loan, Tăng chúng phần nhiều đều chọn vào học ở những trường này.
    1. Học viện hóa giáo dục kết hợp với Tăng đoàn giáo dục
Giáo dục Phật giáo Đài Loan c thể phân thành hai loại hình thức: Th nhất, lấy việc giáo dục Tăng già làm chủ yếu, thuộc về nội bộ quản lý, theo lối mô hình nhỏ tức Phật học viện. Th hai, theo
 

hướng cấu nghiên cứu Phật học bộ môn của giáo dục chủ quản. Trong đó, ở mô hình thứ nht bàn đến là nhng Pht học vin có hệ thống quy hoạch giáo trình hệ chế; mô hình thứ hai thì cấu đào tạo tiếp cận với đại học của thế tục, học viên bao gồm cả chúng xuất gia chúng tại gia. Trên căn bản này, Đài Loan còn xuất hiện một loại mô hình giáo dục Tăng già khác, tức mô hình học viện ha giáo dục Tăng đoàn giáo dục kết hợp.
dụ, Pháp Cổ Sơn - Pháp Cổ Sơn Tăng đoàn ngoại trừ kiến lập Pháp Cổ Sơn Phật học viện theo hướng “giáo dục chủ quản bộ môn, còn cđại học Tăng già của ni bộ Tăng đoàn, hai hình thức này kết hợp lại trở thành thể hệ Tăng già giáo dục của Pháp Cổ Sơn. Sự hình tnh của Tăng đoàn Pháp CSơn là bắc nguồn từ Tam Học Nghiên Tu Viện” của ngài Thánh Nghiêm thành lập. Ban đầu, lấy việc đào tạo nhân tài trẻ của Phật giáo làm tông chỉ, sau đ, sự thành lập quy mô của Tăng đoàn ngày càng lớn phát triển. Vào năm 2001 đã thành lập Pháp Cổ Sơn Tăng già Đại học Phật học viện, định vị cấu đào tạo Tăng tài “đại học viện giáo dục” trong ba cấu giáo dục lớn của Pháp Cổ Sơn.
Đại học Tăng già của Pháp Cổ Sơn c mục tiêu rất ràng, đào tạo đúng nghĩa một vị Tăng tài, tức bồi dưỡng đầy đủ nội hàm tinh thần của một người đại diện Phật giáo Hán truyền một vị Tăng c khả năng cống hiến đối với Phật giáo quốc tế về mặt tôn giáo cũng như học thuật.đây, chú trọng những tình tiết nghi thức phong cách, đời sống oai nghi của người xuất gia tín ngưỡng Phật giáo, bồi dưỡng lớp trẻ nhân tài trở thành trụ cột của Phật giáo. Hiện tại, c hệ 4 năm niên chế Phật học hệ 6 năm niên chế Thiền học; thiết lập giáo trình hội đủ cả huệ nghiệp, phước nghiệp và đức nghiệp. Huệ nghiệp bao hàm cả giải, hành song tu; phước nghiệp công tác hoằng ha các Phật sự; đức nghiệp bồi dưỡng thân tâm phong cách của người xuất gia. Chiêu sinh chỉ nhận người trẻ dưới 35 tuổi. Đại học Tăng già của Pháp Cổ Sơn cmột vấn đề đặc biệt học sinh năm thứ nhất nhập học c thể những đối tượng tại gia c chí nguyện xuất gia, học hết năm nhất c thể suy nghĩ nên
 

chính thức xuất gia hay không, nếu xuất gia thì tiếp tục học, nếu không quyết định xuất gia thì tự động thôi học. Khi đã trở thành một phần tử của Tăng đoàn thì tiếp tục tuân theo quy củ học cho hết 4 năm hoặc 6 năm tốt nghiệp. Do đ, nội bộ Tăng đoàn của Pháp Cổ Sơn chia rahai thành phần: còn đang học tập trong đại học Tăng già Tăng chúng đã tốt nghiệp. Về việc chiêu sinh, Phật học viện Pháp Cổ Sơn thì không nhất định thành viên trong Tăng đoàn, c thể người xuất gia đến từ mọi nơi, thông qua thi tuyển vào học viện.
Đồng thời, về phương diện nghiên cứu học thuật của Phật học viện Pháp Cổ Sơn, dung hợp cả tinh hoa Phật giáo Hán truyền, Nam truyn và Tng truyn, thử mở ra phương cách nghiên cứu tu học mới, mặt khác cũng xem trọng những kinh điển tiếng Phạn, Pali, Tây Tng, cùng với vic học thêm tiếng Anh, tiếng Nht, bi dưỡng nhân tài nghiên cứu phiên dịch kinh điển Phật giáo. Về mặt thực hiện hành trì, mỗi ngày hai thời công phu sáng chiều, ngồi thiền cùng với Đại học Tăng già, hoặc những kha tu định kỳ, để hình thành thói quen tu tập, để tạo thành phong cách nghiên cứu tu tập đồng nhất, đồng thời kết hợp phát triển cả học nghiệp chí nghiệp. Dù rằng, Phật học viện chủ yếu cấu nghiên cứu, nhưng cũng tích cực dung nhập yếu tố tinh hoa của giáo dục Tăng già muốn cho học viên từ học thuật chuyển nhập thực tu tự thân thể chứng.
Từ đ, c thể thấy, trên phương diện giáo dục Tăng già của Pháp Cổ Sơn tồn tại hai thể hệ. Pháp Cổ Sơn không phải sự đối ngoại chiêu sinh của Pháp Cổ Phật học viện phế bỏ thể hệ giáo dục của nội bộ Tăng đoàn đã kiến lập. Loại mô hình kết hợp hai hình thức này, đặc biệt Đại học Tăng già với Pháp Cổ Phật học viện cùng tồn tại vận hành, một mặt bảo tồn được bổn nguyên của Tăng đoàn Tăng chúng, mặt khác cũng đào tạo Tăng chúng đã kiến lập học chế hoàn thiện.
    1. Hiện đại hóa phát triển truyền thống Tùng Lâm giáo dục
Mặc dù, ở Đài Loan số lượng cấu Phật học viện nghiên cứu Phật học rất nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều Tăng đoàn hiện nay
 

không thể sử dụng phương thức Phật học viện. Đại diện cho mô hình này Từ Tế - một trong những tổ chức từ thiện lớn nhất của toàn cầu, từ trước đến nay vẫn lấy hình thức đoàn thể từ thiện để đối thế, nhưng người sáng lập ra Từ Tế Ni trưởng Chứng Nghiêm đệ tử của Ni trưởng lực lượng cốt yếu của Tăng đoàn Từ Tế, như vậy giáo dục Tăng già của Từ Tế khai triển như thế nào?
Theo sự tìm hiểu của tác giả, hiện tại Từ Tế chưa kiến lập hình thức giáo dục Tăng già c hệ thống, lấy những lời huấn thị hằng ngày của Ni trưởng Chứng Nghiêm làm phương thức giáo dục Tăng chúng. Mỗi ngày sau giờ công phu sáng, Ni trưởng đều giảng cho đại chúng, c người chuyên đem nội dung giảng dạy mỗi ngày soạn thành văn tự sau đ tải lên mạng; c định kỳ biên soạn thành sách, chiếu theo xuân hạ thu đông tứ quý phân thành quyển xuất bản.
Ngoài ra, tổ chức Từ Tế nổi bật nhất hội Từ Tế công đức gọi đoàn thể từ thiện, về mặt tổ chức tài vụ mọi phương diện hoàn toàn phân khai với Từ Tế Tăng đoàn. Những kinh phí của sinh hoạt Tăng đoàn đều tự Tăng đoàn làm nên, Từ Tế c rất nhiều sở làm kinh tế với rất nhiều mặt hàng, như đèn sáp, bột ngũ cốt dinh dưỡng... đều do Tăng chúng tự làm. Phương thức này giống với phương thức ngày xưa kiến lp Tùng lâm của ngài ch Trượng Hoài Hi. Ở Đài Loan, nhng Tăng đoàn lớn như: Trung Đài Thin tự, Pht Quang Sơn... Tăng chúng đều phải lao động chấp tác như vậy, với phương cm nht nht bt tác, nht nht bt thc” của Ngài ch Trượng.
Ngoài những Tăng đoàn c quy mô lớn đã nêutrên, Đài Loan còn c không ít những tự viện giáo dục Tăng chúng theo phương thức truyền thống của Tùng Lâm.
Trong ba loại hình thức giáo dục Tăng già nêu ở trên, chúng ta c thể thấy được trong việc triển khai giáo dục tăng già của Đài Loan bất luận sử dụng một hình thức nào, đều lấy sự thích ứng của việc phát triển Tăng đoàn làm nguyên tắc, lấy sự phù hợp với hoằng pháp lợi sanh làm tông chỉ. Về mặt sắp xếp thời gian sinh hoạt, giáo trình học tập, phương thức giáo dục... đều từ trong truyền thống giáo dục của Tùng lâm rút ra hiện đại ha.
 
 
  1. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC TĂNG GIÀĐÀI LOAN
Giáo dục Tăng già của Đài Loan tuy đa dạng nhưng phát triển theo hai xu hướng chính.
    1. Xu hướng học lịch giáo dục
Trong sphát trin giáo dục Tăng già của Đài Loan cũng xut hiện biến ha mới, trong đ, điểm cùng đặc biệt cùng với thời đại c nhu cầu tương ứng thích hợp, giáo dục Tăng già bắt đầu xuất hiện nhu cầu đối với học vị.
Như nước ta văn bằng của Phật học viện không được bộ giáo dục công nhận.Đài Loan cũng vậy, ban đầu văn bằng của những Phật học viện do Phật giáo sáng lập cũng không được hội công nhận. Theo đà phát triển của hội, do nhu cầu phải tham gia học thuật của Phật giáo quốc tế giao lưu, do tham dự các hoạt động của hội; yêu cầu cần c văn bằng học vị, nếu như muốn vào một trường đại học giảng dạy, thì điều kiện đầu tiên phải c văn bằng. C một số Phật tử cũng rất mong muốn người xuất gia c học vị. những lý do đ, giáo dục Tăng già Đài Loan đã xuất hiện xu thế theo phương hướng giáo dục c học vị.
Đài Loan, ngoài những trường đại học tư lập do Phật giáo sáng lập, Pháp Cổ Phật giáo Học viện trường đầu tiên của Phật giáo Đài Loan được Bộ Giáo dục Chính phủ công nhận học vị. Vào năm 2006, Pháp Cổ Sơn đã xin phép được chính phủ công nhận, trở thành Phật học viện duy nhất được chính thức công nhận học vị. Trải qua sự phát triển, đến nay Pháp Cổ Phật học viện c thể đào tạo văn bằng từ đại học đến tiến sĩ.
Giáo dục Tăng già tiến thành giáo dục c học vị, c thể công khai chiêu sinh ngoài hội, thậm chí c thể chiêu sinh ở nước ngoài. Quan trọng hơn được “đương cuộc” đồng ý cho loại hình trường học này c thể sắp xếp giáo trình c cả “hành môn”3  được tính vào học phần. Đây c nghĩa sự thực hành tu tập của Phật giáo




3. môn học dạy thực hành những phương pháp tu tập như tọa thiền.
 

đã đi vào thể chế của giáo dục quốc gia, đối với giáo dục của Phật giáo nói thì đây một bước tiến cùng lớn.
Sau Pháp Cổ Phật học viện, Đài Loan còn c những Phật học viện khác đang xin phép để được công nhận văn bằng, nhưng hiện nay vẫb đang hoàn thiện những điều kiện Chính phủ quy định. Hiện tại, Từ Tế cũng đang chuẩn bị sáng lập Tnh Phật học viện, theo mô hình quy định của chính phủ xin được chính thức công nhận văn bằng tốt nghiệp. Như vậy, c thể thấy, giáo dục c học vị đối với hiện tại giáo dục Tăng già của Đài Loan ni một xu thế cần yếu của thời đại.
    1. Chú trọng trì tục giáo dục
Rất nhiều đoàn thể Phật giáo Đài Loan cho rằng, thực chất của giáo dục Tăng già là giáo dục chung thân, điểm quan trọngở chỗ thực tiễn tu hành sau khi đã học vềluận, vậy rất chú trọng việc sau khi tốt nghiệp sự giáo dục vẫn được tiếp tục duy trì thực hành đến trọn đời.
Đối với Tăng nhân nói, từ Phật học viện, Tăng già đại học, hay Tùng lâm học viện tốt nghiệp, cũng chưa phải đã trở thành một người trong Phật giáo gọi Tăng tài. Pháp Cổ Sơn Tăng già đại học đề xuất “trường này bồi dưỡng Tăng tài từ trên ba phương diện, tức bồi dưỡng nhân tài về hành chánh, nhân tài về giáo dục nn tài về học thut, nhng vn đề giáo dục này, học vin kng phải c thể hoàn thành một cách dễ dàng. Ngoài ra, sau khi kết thúc việc học ở học viện, Tăng nhân đối diện với vấn đề của con đường đi tiếp sau khi tốt nghiệp ra trường, trở về Tăng đoàn phục vụ một lựa chọn tự nhiên nhất.
Đối với Tăng chúng của Pháp Cổ Sơn, sau khi tốt nghiệp đều phải nhận lãnh chấp sự trong Tăng đoàn, những chấp sự này đã hoàn toàn không giống với tám chấp sự lớn của Tùng lâm thời trước, ngoài những chấp sự truyền thống như tri khách, duy na, còn c những chức vị như truyền thông tuyên truyền, tài vụ... Người xuất gia cũng cần phải làm việc mỗi ngày. Điều quan trọng nhận
 

lãnh công việc nào không phải tự mình chọn lựa, theo sự sắp xếp của Tăng đoàn. Sau khi lãnh nhận chức sự còn phải vừa làm vừa học, tâm cầu “tá sự luyện tâm”4, trong Tăng đoàn cùng sống hòa hợp, cùng tu tập. Trong quá trình làm vic, tiếp xúc với xã hội, xử lý mọi sự vụ, lại tự mình tiếp tục tu hành. Điều này rất phù hợp với câu nói của ngài Thánh Nghiêm: “Vì phát triển sự nghiệp của Phật giáo, đầu tiên cần phải bồi dưỡng nhân tài. Lấy nhân tài đẩy mạnh sự nghiệp, lấy sự nghiệp thâu nhận nhân tài, sắp xếp đúng vị trí cho nn tài. Như vy, cnghĩa là kng phải chỉ khi là học viên của nhà trường mới học, sau khi tốt nghiệp nhận công việc vẫn phải tiếp tục học tu, cho nên gọi trì tục giáo dục, nghĩa sự học này duy trì cả quá trình của một đời không c gián đoạn.
Những Tăng đoàn khác cũng tương tự như vậy, như mục tiêu đào tạo Tăng chúng Phật Quang Sơn là: “Vì đào tạo nhân tài c chuyên môn của Phật giáo, kế thừa sự nghiệp giáo dục, văn hóa, từ thiện... của Phật giáo, duy trì Phật giáo, tuyên dương Phật pháp, đt đến tịnh hóa nn m, xã hôi an vui hạnh phúc. Trung Đài Thiền tự, c ngũ ha vận hành “học thuật ha Phật pháp, giáo dục ha Phật pháp, nghệ thuật ha Phật pháp, khoa học ha Phật pháp, sinh hot hóa Pht pp, đem Pht pp dung nhập vào cuộc sng cũng một dạng giáo dục trọn đời của Phật giáo.
Trong hai xu thế giáo dục Tăng già của giáo dục Pht giáo Đài Loan, đều c chung một mục đích để thích ứng với thời đại của hội, để làm phương tiện hoằng truyền chánh phá, tịnh ha tự thân, hoàn thành việc tự lợi lợi tha của một Tăng sĩ.
  1. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG TỒN ĐỌNG CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁOĐÀI LOAN
Giáo dục Phật giáo Đài Loan tuy đã c những phát triển tốt theo xu thế của thời đại, nhưng bên cạnh đó vẫn còn những tồn đọng cần khắc phục, bài viết này cũng xin nêu lên để chúng ta rút kinh nghiệm.



4. Nương vào công việc để tu luyện tâm tánh.
 

Điều quan trọng nhất, c thể sánh ngang với “đạo sư” hay không? Bất luận như thế nào, cho dù c đề xướng “học tu nhất thể hóa, Tùng lâm kết hợp với học vin, hệ thống hóa hay là tiêu chun ha của những hình thức giáo dục thì sự quan hệ giữa thầy trò cũng chỉ quan hệ thông thường giữa thầy trò, rất nhiều Tăng đoàn cũng không sắp xếp cho học Tăng thân giáo thọ sư, thiếu đi sự truyền thọ mật thiết và chỉ đạo tâm linh kết hợp của thầy trò ngày xưa. Tuy rằng, cũng c giờ tập tu ngồi thiền, nhưng chỉ hình thức tiu tham. Đại chúng cùng tu nên kng thể hướng dn tn th, thân truyền, cho nên thiếu sự truyền thừa pháp môn tu chuyên tu của thầy trò ngày xưa. Vấn đề này ảnh hướng đến Tăng sinh sau khi tốt nghiệp nhận chức sự làm việc nhưng kinh nghiêm tu còn thiếu, nội lực tu chưa sâu, khi tiếp xúc với hội dẫn đến những sai lầm đáng tiếc.
Một vấn đề khác, đó Đài Loan diện tích rất nhỏ, số lượng Phật học rất nhiều, dẫn đến vấn đề chiêu sinh số lượng không đủ, để duy trì Phật học viện phải tốn hao kinh phí rất nhiều. Đây một vấn đề chúng ta cũng sẽ trăn trởtương lai, ở Đài Loan, Phật học viện đều học theo niên chế còn như vậy huống chúng ta học theo tín chỉ. Mặt khác, giáo trình của các Phật học viện đều không nhất thống, cho nên rất khó kết hợp với nhau. Đây những vấn đề còn tồn đọng của giáo dục Tăng già ở Đài Loan.
Qua bài viết này huy vọng sẽ c thể giúp ích trong kinh nghiệm giáo dục Tăng già của chúng ta. Làm cho Phật giáo Việt nam ngày càng phát triển hơn, để duy trì được mạng mạch Phật pháp, xây dựng hội ngày càng phát triển theo xu hướng chân-thiện-mỹ, Tịnh độ ha nhân gian.



***




Tài liệu tham khảo 释东初《中国佛教近代史》 印顺《教制教典與教學》
见护法师——佛法与教育2013年03月09日 11:54:00 佛 教导航。
何 绵山 著《台湾佛教 》, 九州出版社,出版时间: 2010-5-1 。
熊江宁著台湾佛教僧伽教育的现状与反思,来源:《 法 音》2017年01月26日 07:07。

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây