24. CÁC YẾU TỐ HỖ TRỢ ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO TẠI THÀNH PHỐ HUẾ

Thứ bảy - 07/12/2019 06:23


 
CÁC YẾU TỐ HỖ TRỢ ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
 

NCS.ĐĐ. Thích Pháp Tịnh


 

TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm khảo sát các yếu tố hỗ trợ ứng phó với stress của tín đồ Phật giáo (TĐPG). Nghiên cứu được thực hiện trên 464 tín đồ Phật giáo, trong đó 224 nam 240 nữ. Các tín đồ Phật giáo độ tuổi từ 18 đến 35, đangđi học, đi làmvà thất nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, xét tổng thể, mức độ stress của tín đồ Phật giáo trong nghiên cứu này thấp hơn mức độ stress của thanh niên trong một snghiên cứu đã công b. Trong đó, ntín đồ Pht giáo mức độ stress cao hơn nam tín đồ Phật giáo. Bên cạnh đó, những tín đồ Phật giáo đang đi làm mức độ stress nhẹ cao hơn tín đồ Phật giáo đang thất nghiệp đi học.
Mặt khác, trong các yếu tố hỗ trợ ứng phó với stress của tín đồ Phật giáo, yếu tố hỗ trợ từ nhà chùa được tín đồ Phật giáo chọn cao hơn so với các yếu tố tác động khác.
  1. MỞ ĐẦU
Stress không phải một căn bệnh mới mẻ,thật sự mặt từ



*. Phó Trường phòng Đào tạo - Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
 

lâu luôn tồn tại trên nhiều phương diện khác nhau. Nhưng nghiên cứu về stress dưới góc độ khoa học ch thật sự bắt đầu vào nửa đầu thế kỷ XX [8]. Ngoài những mặt tích cực của stress dương tính giúp cho con người hăng say, nỗ lực trong học tập, lao động sáng tạo thì stress âmtính mangli những hiểm họa đángscho loài người. Th o Tổ chức Y tế Th   giới, stress một trong sáu nguyên nhân hàng đầu cướp đi sinh mạng con người trên trái đất này (APA, 2007). Đáng báo động nhất, ngày nay căn bệnh stress đang chiều hướng gia tănglứa tuổi thanh - thiếu niên. Alvin Tofl r đã chra rằng nhng biến đng xã hội mạnh mẽ mau lẹ liên tục những tác nhân gây stress thời hiện đại [7].
Anh, tỷ lệ thanh niên bị stress 31,2 %, Malaysia 41,9%, Thái Lan 61% Singapore la 54%[12].các nước châu Á - Thái Bình Dương, theo tácgiChiu (2004), tỷ lệ căng thẳng, trầm cảm trong vòng 1 tháng từ 1,3% đến 5,5%, trong vòng 1 năm qua từ 1,7% đến 6,7% cả cuộc đời từ 1,1% đến 1,9% trung bình 3,7% thấp hơn nhiều khu vực trên thế giới.Australia, năm 2012 thì tỷ lệ căng thẳng, trầm cảm trong lứa tuổi 18 - 35 7,98% thì đến năm 2013 tăng lên 8,72%[4].
Việt Nam, vấn đề stress đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hệ quả do stress gây ra đối với thanh thiếu niên như: Bị căng thẳng, trầm cảm, hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát. Một nghiên cứu ở các trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 cho thấy, 21% học sinh bị căng thẳng, trầm cảm, 3% hành vi cố ý tự gây thường tích, 8% đã từng bỏ nhà đi [5]. Một nghiên cứu khác của Trung m Nghiên cứu Phụ nữ (ĐHQG-HN) năm 2008 khảo sát trên 200 học sinh lớp 12 đã chỉ ra rằng 47% học sinh bị stress từ mức độ nhẹ, vừa nặng. Những nguy stress thể đem đến cho các em không nhỏ, ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý khi trưởng thành [6]. Như vậy thể thấy, stress một căn bệnh thuộc về sức khỏe tinh thần, không phân biệt độ tuổi, hoàn cảnh kinh tế, yếu tố chủng tộc, giới tính… Stress ảnh hưởng tiêu cực dai dẳng đến cả tinh thần lẫn thể chất của con người.
Cho đến nay, khá nhiều công trình nghiên cứu về stress.
 

Nhưng phần lớn đều hướng vào đối tượng học sinh, sinh viên, công nhân viên chức. Ít nghiên cứu chú trọng đến stress trên đối tượng tín đồ Phật giáo. Mặt khác, các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào tìm hiểu mức độ, biểu hiện nguyên nhân gây ra stress ít quan tâm đến ứng phó. thế, các biện pháp đề xuất còn thiếu thiết thực không sát đối tượng.
Ứng phó với stress trong hội ngày nay thật sự một việc làm bức bách quan trọng của tất cả mọi người. Việc hiểu sử dụng các chiến lược ứng phó tích cực, hiệu quả sẽ đảm bảo cho con người dễ dàng thích nghi với những thách thức trong cuộc sống. Ngược lại, nếunhân xu hướng thường xuyên sử dụng các chiến lược ứng phó thụ động, kém hiệu quả thì sẽ gây nên những bế tắc, đau buồn trước những khó khăn của cuộc sống.
Tín đồ Phật giáo những người am hiểu về giáođạo Phật, sống làm việc theo chuẩn mực của người đạo. Để khẳng định mình trong gia đình, nhà trường hội, tín đồ Phật giáo đã đang phát huy khả năng sáng tạo, nhiệt huyết của mình trong cuộc sống. Điều này đã giúp họ thích nghi phát huy năng lực vốn của bản thân trước sức mạnh phát triển như bão của thời đại. Đây điểm tích cực tín đồ Phật giáo đã thể hiện sống đúng trên tinh thần “tùy duyên” của nhà Phật. Bên cạnh đó, vẫn một số tín đồ Phật giáo trẻ tuổi, còn ít kinh nghiệm trong cuộc sống, họ không thể giải quyết những khó khăn một cách triệt để cân bằng lối sống. Chính điều này dễ làm cho tín đồ Phật giáo rơi vào trạng thái căng thẳng, trầm cảm.
Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam trên thế giới, việc nghiên cứu stress của tín đồ Phật giáo vẫn chưa được quan tâm một cách thích đáng. thể khẳng định rằng mảng đề tài nghiên cứu này cần được chú trọng hơn nữa.
  1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    1. Khách thể nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên 464 tín đồ Phật giáo tại thành phố
 

Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Các tín đồ Phật giáo độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi, gồm 224 nam 240 nữ, hiện đang đi học, đi làm đang thất nghiệp. Hầu hết khách thể nghiên cứu là dân địa phương một số ít từ các tnh khác đến tham gia các tổ chức gia đình Phật tử.
    1. Công cụ thu thập dữ liệu tiến trình thực hiện
Nghiên cứu sử dụng thang (Depression – Anxiety – Stress Scale
- DASS) của Lovibond Lovibond (1995). Thang gồm 42 câu, đánh giá ba mặt, trầm cảm, lo âu căng thẳng, mỗi mặt gồm 14 câu. Tín đồ Phật giáo được yêu cầu xác định mức độ xảy ra với bản thân trong “tuần lễ vừa qua” của các biểu hiện/sự kiện trên thang đo gồm 4 mức độ từ ‘Hoàn toàn không xảy ra với tôi” (tương ứng với 0) đến “Rất thường xảy ra với tôi, gần như luôn xảy ra” (tương ứng với 3). Điểm thô được tính bằng tổng điểm của các câu ở mỗi mặt.mặt stress, điểm thô từ 0 -14 thuộc mức bình thường, từ 15
– 18 stress nhẹ, từ 19 – 25 stress vừa, từ 26 – 33 stress nặng lớn hơn hoặc bằng 34 stress rất nặng.
Bên cạnh thang DASS, nghiên cứu cũng sử dụng nhiều phương pp khác như: Bng hỏi, phỏng vn, quan sát… Trong các phương pháp trên, nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi phương pháp chủ yếu. Bảng hỏi được xây dựng thông qua việc trao đổi với chuyên gia tham khảo một số công trình đã công bố.
Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0.
  1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
    1. Các yếu tố hỗ trợ ứng phó với stress của tín đồ Phật giáo
      1. Mức độ stress
Điểm thô trung bình của thang DASS của tín đồ Phật giáo 8,6 mức tương đương với điểm thô trung bình của nhóm người cùng độ tuổi của Úc 8,72 (dẫn theo Australian Psychology Society, 2015).
Điểm thô của thang DASS được chuyển sang mức độ stress dựa trên việc đối chiếu với bảng quy ước chuẩn của DASS, gồm 5 mức độ: (1) Bình thường; (2) Stress nhẹ; (3) Stress vừa; (4) Stress nặng
 

(5) Stress rất nặng. Sử dụng phép phân tích tần số (Frequency) trong SPSS 16.0, chúng tôi thu được số lượng tỷ lệ tín đồ Phật giáo trên địa bàn thành phố Huếnăm mức độ stress như trong Bảng 1.
Bảng 1. Số lượng tỷ lệ tín đồ Phật giáocác mức độ stress
Mức độ stress Số lượng Tỷ lệ %
Bình thường 342 73,7
Stress nhẹ 67 14,4
Stress vừa 43 9,2
Stress nặng 12 2,5
Stress rất nặng 0 0.0
Tng 464 100

Bảng 1 cho thấy, xét tổng thể, đa số tín đồ Phật giáo tự đánh giá mức độ stress của bản thân Bình thường (73,7%). Thực tế khi tiếp xúc, quan sát, trò chuyện với tín đồ Phật giáo ở một số chùa trên địa bàn Thành phố Huế, chúng tôi nhận thấy rằng: Phần lớn tín đồ Phật giáo cuộc sống tinh thần khá ổn định. Một số anh/ chị chia sẻ: Những lúc mệt mỏi nhất chính lúc họ thấy giá trị của nhng buổi tng kinh, nghe pp và thư gn ti chùa. Theo h, vic thực tập những phương pháp đó giúp tâm trí của họ được cân bằng trở lại. Đồng thời, họđủ niềm tin để tự mình đối điện giải quyết những trở ngại trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, tổng số tín đồ Phật giao mức độ stress nhẹ, stress vừa stress nặng 110/464, chiếm tỷ lệ 23,6%. Kết quả này cho thấy, nhiều tín đồ Phật giáo đang có những biểu hiện stress. Tỷ lệ stress của tín đồ Phật giáo trong nghiên cứu này của chúng tôi khá tương đồng với tỷ lệ stress trong nghiên cứu ở Úc (cũng sử dụng thang đo DASS) năm 2013 trên nhóm khách thể nghiên cứu ở độ tuổi từ 18 35,37%[1]. Tuy nhiên, tỷ lệ tín đồ Phật giáo có mức độ stress nặng rất nặng thấp hơn nhiều so với tỷ lệ đó ở Úc. Tỷ lệ tín đồ Phật giáo bị stress nặng 2,5 % stress rất nặng 0,0%, trong khi ở Úc tỷ lệ stress nặng 6,4%, stress rất nặng 7,1%. Sự
 

khác biệt này thể liên quan đến yếu tố văn hóa, tôn giáo độ tuổi của hai nhóm khách thể nghiên cứu trong hai nghiên cứu.
Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Đạt về rối loạn căng thẳng, trầm cảm một số yếu tố tâm hội liên quan ở học sinh trung học phổ thông tại Nội cho kết quả 18,8% các biểu hiện rối loạn căng thẳng, trầm cảm 9,1% được khẳng định rối loạn stress, trầm cảm[2].
Như vậy, thể thấy mức độ stress của tín đồ Phật giáo được đánh giá bằng thang DASS là kng cao. Trong xã hi ngày nay, căn bệnh stress xuất hiện khá thường xuyên trong cuộc sống, thế nhưng ở tín đồ Phật giáo, căn bệnh này ít phổ biến với đa số tín đồ Phật giáo không bị stress hoặc ch bị stressmức độ nhẹ. Tuy nhiên, với số tín đồ Phật giáo bị stress, việc tìm hiểu nguyên nhân gây stress, cách ứng phó với stress để giúp tín đồ Phật giáo giảm thiểu mức độ căng thẳng vẫn việc làm hết sức cần thiết cấp bách.
      1. Chỗ dựa hội
nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau tác động đến vic ứng pvới stress của tín đPht giáo. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn ba yếu tố hỗ trợ bản hỗ trợ từ gia đình, bạn ngôi chùa.
  1. Hỗ trợ từ gia đình
Kết quả bảng 2 cho thấy, mức độ hỗ trợ của gia đình được tín đồ Phật giáo đánh giá ở mức trên trung bình (TBC từ 2,29 đến 2,58).
Bảng 2. Hỗ trợ từ gia đình
STT Hỗ trợ từ gia đình TBC Thứ bậc
1 Gia đình luôn bên cạnh 2,34 2
2 Gia đình luôn tìm mọi cách giúp đỡ 2,41 3
3 Gia đình hỗ trợ đưa ra quyết định 2,58 4
4 Tôi thường m svới gia đình 2,29 1
5 Tng 2,40  
 

Một trong những đặc trưng của văn hóa Á Đông con cái trưởng thành thì gia đình vẫn luôn chỗ dựa, chở che lý tưởng. Trong nhiu nghiên cứu, gia đình là chỗ dựa xã hi quan trng nht giúp thanh thiếu niên ứng phó với căng thẳng. Sự chia sẻ, tâm sự, lắng nghe những lời khuyên trong gia đình giúp thanh thiếu niên nhìn nhận vấn đề một cách lạc quan, biết đón nhận khó khăn chấp nhận thực tế. Không chỉ giúp thanh thiếu niên nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cựcchỗ dựa gia đình còn hỗ trợ các phương tiện vật chất tinh thần cần thiết để thanh thiếu niên giải quyết vấn đề.
Mặc dù gia đình chỗ dựa hội vững chắc giúp thanh thiếu niên nâng cao nội lực ứng phó của bản thân, trở nên bản lĩnh hơn để trực tiếp đương đầu, loại bỏ tác nhân gây stress như được đề cập ở trên. Trong nghiên cứu này, chỗ dựa xã hi là gia đình lại được tín đồ Phật giáo đánh giá ở mức trên trung bình thấp hơn so với sự hỗ trợ từ bn bè và từ chùa. Trong khi gia đình thường hỗ trtín đồ Phật giáo trong việc đưa ra quyết định thì ít nhưng lại nơi để họ tâm sự hoặc đơn giản để họ cảm nhận rằng gia đình bên cạnh. Đây một vấn đề cần được quan tâm tìm hiểu thêm, bởi Huế thành phố còn giữ nhiều giá trị truyền thống, trong đó sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình. Nghiên cứu tiếp theo cần làm sự gắn kết với gia đình thay đổi như thế nào trong hội ngày nay nếu sự gắn kết đó vẫn tồn tại thì lý do khiến tín đồ Phật giáo không đánh giá caovớicách chỗ dựa hội.
  1. Hỗ trợ từ bạn
Kết quả phân tích cho thấy, những tín đồ Phật giáo đánh giá mức độ hỗ trợ từ bạncao, thường được sử dụng như cách ứng phó tìm kiếm sự hỗ trợ hội nhiều hơn. Kết quả bảng 3 cho thấy, điểm trung bình của sự hỗ trợ từ bạn khá cao (TBC = 2,65) đứng thứ 2 trong 3 nhóm yếu tố. Điều này cho thấy, đây quả thật lứa tuổi thường xem trọng bạntrong các hoạt động sinh hoạt, lao động, học tập của họ.
 

Bảng 3. Hỗ trợ từ bạn
STT Hỗ trợ từ bạn TBC Thứ bậc
1 Bạn bè luôn động viên 2,78 1
2 Tôi có thể dựa vào bn bè 2,43 4
3 những ngươi tôi thể chia sẻ 2,74 2
4 Bạn đặc biệt quan tâm 2,67 3
5 Tng 2,65  

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên cứu của Firth (1989), Barba các cộng sự (2004). Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chỗ dựa bạnvới những người đặc biệt khác như thầy cô, người yêu… quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng cách ứng phó “tìm kiếm sự hỗ trợ hội” hơn chỗ dựa gia đình. Chúng ta thể lý giải điều này như sau: Ở lứa tuổi thanh niên, tín đồ Phật giáo chịu ảnh hưởng lớn từ bạn người yêu. Sự chia sẻ, tâm tình học hỏi giữa những người đồng trang lứa thường thuận lợi hơn bởi họ các đặc điểm tâm cùng đối mặt với các khó khăn giống nhau. Hơn nữa tác nhân gây stress cho tín đồ Phật giáo đa phần những sự kiện liên quan đến học tập, các mối quan hệ thế tín đồ Phật giáo thường tìm kiếm sự hỗ trợ của bạn thầy hơn gia đình.
Vai trò của bạnthường chỉ dừng lạiviệc lắng nghe, chia sẻ hoàn cảnh khó khăn, không trực tiếp giúp tín đồ Phật giáo giải quyết vấn đề. giải điều này, nhiều tác giả cho rằng lẽ với trải nghiệm cuộc sống còn ít, năng lực tài chính, vật chất khá hạn chế nên bạn khó thể giúp tín đồ Phật giáo loại bỏ tác nhân gây stress một cách triệt để (dẫn theo Barba cộng sự, 2004; Firth, 1989).
Ngoài ra, quan trọng hơn, những tín đồ Phật giáo chỗ dựa hội vững vàng đã không lảng tránh gặp gỡ mọi người hoặc thu mình lại khi gặp căng thẳng. Chính chỗ dựa hội đã giúp tín đồ Phật giáo cởi mở hơn, sẵn sàng chia sẻ cảm xúc tâm trạng của mình. Điều này hết sức quan trọng bởi nó tránh được khả năng xảy
 

ra stress nặng hơn khi cá nhân tự rút rui âm thầm chịu đựng trạng thái căng thẳng.
  1. Hỗ trợ từ chùa
Kết quả điều tra cho thấy rằng, chùa chỗ dựa hội tín đồ Phật giáo thường nương vào để tìm kiếm sự bình an đây chỗ dựa xã hi quan trng nht của tín đồ Pht giáo. Trong đó chùa, tự viện nơi tôithể thả hồn trong những giây phút an lạc, thảnh thơi khi gặp những thất bại trong cuộc sống” được tín đồ Phật giáo chọn cao nhất (2,82%).
Bảng 4. Hỗ trợ từ chùa
STT Hỗ trợ từ chùa TBC Thứ bậc
1 Tâm sự cùng các anh chị đi chùa 2,76 2
2 Tâm schia svi các thy cô trong chùa 2,47 6
3 Thực tập thiền giúp tôi thư thái tâm hồn 2,73 3
4 Chùa giúp tôi bình an 2,82 1
5 Nghe thuyết pháp giúp tôi tìm lại chính mình 2,6 5
6 Cầu nguyện 2,71 4
7 Tng 2,68  

Điều này cho thấy rằng, tôn giáo chính chỗ dựa vững chắc, nơi quay về để nương tựa sau những thất bại, đau buồn trong cuộc sống. Điều này được các nhà nghiên cứu tại Đại học Califonia (2004) kiểm chứng các học sinh, sinh viên có liên quan các hoạt động tôn giáothểsức khỏe tâm thần tình cảm tốt hơn những người khác”. Năm 2006, nghiên cứu được tiến nh tại Đại học Texas thy rằng, một cá nhân càng thường xuyên đi nhà thờ, chùa chiền thì tuổi đời càng cao. Kết luận tương tự cũng được lặp lại với nghiên cứu 2000 người dânbang California trong vòng 5 năm trong một dự án ý tế cộng đồng. Kết quả nghiên cứu này cho biết, những người đi nhà thờ, chùa chiền tỷ lệ mắc bệnh, tử vong chống
 

chọi với khó khăn tốt hơn so với những người không tham gia tôn giáo, chiếm tỷ lệ 36% [10].
Clark Lelkes (2008), cho rằng, những người niềm tin tôn giáo, ít khuynh hướng căng thẳng, trầm cảm. Chính niềm tin tôn giáo, nghi lễ tôn giáo, sự cầu nguyện thực tập thiền định đã dạy cho họ biết nhìn nhận thực tại để tự mình đối diện những khó khăn trong cuộc sống (dẫn theo Clark lelkes, 2008).
Năm 2010 Chaeyoon Lim Putnam đã công bố nghiên cứu cho thấy rằng, những người niềm tin tôn giáo hạnh phúc hơn những người không tôn giáo. Nghiên cứu cũng đã khẳng định niềm tin tôn giáo cóvtrí quan trọng trong vòng đời của mỗi con người. Chính niềm tin tôn giáo đã giúp con người cân bằng lối sống của mình [9].
nhiều lý do khiến tôn giáo nhiều lợi ích đối với sức khỏe tâm thần con người. Chaeyoon Lim cho rằng, những lúc đến nhà thờ, chùa chiền sẽ giúp con người một mạng lưới hội rộng hơn, nhiều người hỗ trợ hơn. Điều đó sẽ giúp cá nhân cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống cũng như cảm thấy được nâng đỡ khi cần. Qua đó để thấy được, mỗi đối tượng cách biểu hiện, nương tựa khác nhau khi gặp những thất bại, đau buồn, khó khăn trong cuộc sống. Từ đó giúp nhà nghiên cứu cái nhìn khái quát trong việc đưa ra biện pháp tác động phù hợp. Mặt khác, từ kết quả này cho thấy, sức mạnh của tôn giáo thể chuyển hóa đau khổ để con người tự tin đối đầu với những khó khăn phía trước.
Tóm lại, từ các kết quả trên cho thấy, mức độ hỗ trợ từ nhà chùa được các tín đồ Phật giáo lựa chọn ứng dụng cao nhất so với các hỗ trợ khác. Điều này phù hợp với vai trò sứ mạng của hoạt động tâm linh. Quan điểm của nhà Phật phục vụ chúng sinh tức cúng dường chư Pht. Chính nim tin tôn giáo và các nghi lễ tôn giáo đã dạy cho con người biết chấp nhận hơn cũng bằng cách đó giúp con người vượt qua những khó khăn, khắc nghiệt của cuộc sống.
  1. THẢO LUẬN KẾT LUẬN
Stress mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu Tâm lý học,
 

hội học Y khoa quan tâm. Bên cạnh những nghiên cứu lý luận về stress, nhiều công trình đã quan tâm đến việc xây dựng các công cụ đánh giá mức độ stress. Từ đó, hỗ trợ, tác động để giúp những người bị stress liệu pháp để giải quyết.Việt Nam, hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về mức độ stresscác nhóm người khác nhau, học sinh, sinh viên, người lao động. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu nào tập trung đến vấn đề stress của tín đồ Phật giáo, đặc biệt ở lứa tuổi thanh niên. Chính vậy, kết quả nghiên cứu này ý nghĩa khoa học thực tiễn cao, cung cấp những sở cần thiết cho các nhà tâm những người quan tâm đến chất lượng cuộc sống của những tín đồ Phật giáo. Từ đó xác định hướng hoạt động hỗ trợ, nhằm giảm thiểu mức độ stress, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của tín đồ Phật giáo.
Hiện nay, các công cụ thang đo chẩn đoán stress, trầm cảm khá đa dạng. Với ưu thế thang đo được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn được xác định bởi các hệ thống chuyên môn như DSM-V, ICD-10; DASS đang được nhiều nhà nghiên cứu thực hành đánh giá cao. Thang DASS đã được giới thiệu sử dụng nhiều hơn ở Việt Nam chứng tỏ khả năng đánh giá chính xác tình trạng căng thẳng, lo âu trầm cảm của người Việt.
Xét chung, kết quả đánh giá mức độ stress của thanh niên tín đồ Phật giáoThành phố Huế với thang DASS cho kết quả khá tương đồng với kết quả đánh giá trên tổng dân cư ở Australia năm 2013. Mức độ stress trong nghiên cứu này phần thấp hơn so với kết quả thu được trong các nghiên cứu khác về stress của thanh niên Việt Nam.
Trong các yếu ttác động đến ứng pvới stress, mức độ hỗ trợ từ ngôi chùa được các tín đồ Phật giáo lựa chọn ứng dụng cao nhất so với các hỗ trợ khác. Chính niềm tin tôn giáo các nghi lễ tôn giáo đã dạy cho con người biết chấp nhận hơn cũng bằng cách đó giúp con người vượt qua những khó khăn, khắc nghiệt của cuộc sống.
Mặc tỷ lệ tín đồ Phật giáo mức độ stress vừa nặng không cao nhưng vẫn cần quan tâm đến vấn đề stress của tín đồ Phật giáo.
 

Một mặt, cần phòng ngừa việc gia tăng tỷ lệ stressthanh niên tín đồ Phật giáo, đặc biệt tỷ lệ stress vừa stres nặng. Mặt khác, hỗ trợ những tín đồ Phật giáo đang bị stress ứng phó hiệu quả với stress can thiệp kịp thời để giảm thiểu mức độ stress cũng như hệ quả tiêu cực của stress đối với sức khỏe thể chất, tinh thần hoạt động của họ.
Từ kết quả nghiên cứu trên, để giúp Tín đồ Phật giáo nói riêng cộng đồng hội nói chung. Giáo hội Phật giáo tnh Thừa Th n - Huế các tổ chức Phật giáo liên quan cần quan tâm một số việc sau:
Cần nâng cao nhận thức, hiểu biết về stress ứng phó với stress cho các tín đồ Phật giáo, thông qua các tạp chí, hoạt động truyền thông. Bên cạnh đó, các buổi sinh hoạt, học tập giáocần lồng ghép nội dung về stress ứng phó với stress để tín đồ Phật giáo nắm bắt, ứng dụng cuộc sống thực tiễn.
Các chương trình giao lưu, hợp tác giữa các tín đồ Phật giáo cần được tổ chức phát triển theo hướng tích cực, ý nghĩa thiết thực để mọi người thể học hỏi, chia svàgp đỡ nhau vượt qua các khó khăn trong cuộc sống.
Hỗ trợ giảng dạy một số phương pháp ứng dụng Thiềntrị liệu cho tín đồ Phật giáo học tập thực hành trên nhiều phương diện khác nhau.



***
 



Tài liệu tham khảo
Australian Psychology Society (2015), Stress and wellbeing in australian survey 2013, Psychology Week, October, 2013.
Nguyễn Đạt (2002), “Rối nhiễu trầm cảmhọc sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, số 42.
Chen R., L. Wei. Hu, X. Qin, J.RCopeland, et al. (2005), “Depression in older peeple in rural china”, Arch Intern Med, 165, (17), pp.2.019- 2.025.
Chiu E. (2004), “Epidemiology of depression in the Asia Pacific re- gion, Australas psychiatry, 12 suppl, pp.4-10.
Lâm Xuân Điền (2004), Giáo trình sức khoe tâm thần tâm bệnh,
NXB Nội.
Nguyễn Thị Hà, Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Khắc Hải (2005), Điều tra stress nghề nghiệpnhân viên y tế, Báo cáo khoa học toàn văn trong hội thảo quốc tế Y học lao động vệ sinh môi trường lần thứ 2, Nội.
Đặng Phương Kiệt (2004), Stress sức khỏe, NXB Thanh niên. Nguyễn Công Khanh (2000), Tâm trị liệu, Nội.
Lim, C. & Putnam, R.D. (2010), Religion, social networks, and life satisfaction. American Sociological Review, 75 (6). 914-933.
Trần Thành Nam, Nguyễn Thị Kim Dung (2014). Giúp vị thành niên đương đầu tốt hơn với căng thẳngNiềm tin tôn giáo hay sự chấp nhận. Tạp chí Tâm lý học, số 6/2014.
Hồ Ngọc Quỳnh (2010), Sức khỏe tâm thần của sinh viên y tế công cộng sinh viên điều dưỡng tại đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009, Y học thực nh tnh phố HCMinh, 14, tr 95-100.
Thị Thanh Thùy (4-2009), Stress trong học tập và cách ứng phóhọc sinh cuối cấp trung học phổ thông, tạp chí tâm lý học, (số 4), tr 24-27.


366
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây