21. SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI CỦATRƯỞNGLÃOHÒATHƯỢNGTHÍCHMINHCHÂU

Thứ sáu - 06/12/2019 07:54
SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI CATRƯỞNGLÃOHÒATHƯỢNGTHÍCHMINHCHÂU
 
Chơn Tâm - Lương Châu Phước
 
Khi một vị Tỳ-kheo đức hạnh từ bỏ cõi đời, Phật tử như chúng ta thường cảm thấy thương tiếc cầu nguyện cho vị ấy sớm đạt cõi Niết-bàn. Khi một vị thầy cao thâm, một Tỳ-kheo lỗi lạc xả bỏ xác thân, những vị học trò Phật tử còn phải học tập gương mẫu của vị ấy, để củng cố niềm tín thành, để đáp lại một phần công ơn, để nỗ lực nh trì theo cnh pp. Trưởng lão Thích Minh Châu ra đi, chúng ta cùng họp với nhau đây, để tưởng nhớ Ngài cùng nhau học tập gương mẫu của Ngài.
  1. BA GIAI ĐOẠN TỐT ĐẸP CỦA CUỘC ĐỜI THANH CAO
Cuộc đời của đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu (dưới đây gọi Hòa thượng, Đại đức) thể chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn I từ thời trẻ đến năm 34 tuổi. Mười tám năm đầu tuổi trẻ lớn lên, đi học một cách bình thường; mười năm kế tiếp đời sống của một cư sĩ Phật giáo tích cực hoạt động; sáu năm tiếp theo nữa sinh hoạt của một tu sĩ Bắc tông dồi dào sinh lực trí tuệ.
Thời kỳ thứ II 12 năm du học. Ba năm đầu tu học, rèn luyện trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy Tích Lan; sáu năm kế, tiếp tục trau dồi kiến thức về ngôn ngữ Phật pháp; ba năm nữa những thể nghiệm đầu tiên về khả năng dịch thuật, nghiên cứu.
 

Thời kỳ này ngắn nhưng tính chất quyết định: nó hình thành nguyn vng dịch và phổ biến Tam Tng Pali, là mở trường Pht giáo cho quần chúng.
Thời kỳ thứ III gần 50 năm còn lại, khi ấy Hòa thượng đã nhà chững chạc, nhà giáo dục Phật học lớn, một trong những người đứng đầu các viện đào tạo Tăng Ni trên hết một dịch giả của tạng Kinh Nikaya.
Cuộc đời của Ngài, thể nói tốtđoạn đầu, tốtđoạn giữa, tốtđoạn cuối. Hãy cùng đi vào chi tiết cụ thể ở từng giai đọan.
Hòa thượng Thích Minh Châu tên thế tục Đinh Văn Nam. Ông sanh ngày 20/10/1918, năm Mậu Ngọ, tại làng Kim Thành, tỉnh Quảng Nam. Gia đình ông người gốc làng Kim Khê, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân từ một gia đình vọng tộc. Dòng họ Đinh đã 5 đời liên tiếp đậu tiến sĩ. Thân phụ cụ ông Đinh Văn Chấp đỗ tiếnkhoa năm 1913. Thân mẫu cụ Thị Đạt. Ông con trai thứtrong gia đình 11 anh chị em. Từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng cần mẫn, chăm chỉ học hành, trí tuệ1.
Năm 1939, ông đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm sau, đỗ tú tài tại trường Khải Định (nay trường Quốc học - Huế). Sau khi đỗ đạt, ông làm thư tòa Khâm sứ, nhưng chỉ được một năm thì xin thôi việc.
Từ nhng m 1930, ở min Trung Vit Nam, có phong to chấn hưng Phật giáo người đứng đầu cư sĩ Phật tử lỗi lạc, bác Đình Thám. Năm 1936, khi ấy mới 18 tuổi, ông Nam tham gia phong trào này, nhanh chóng được giao trách nhiệm Chánh thư ký. Rồi ông tham gia thành lập Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục Gia đình Phật tử, lúc bấy giờ gọi Gia đình hóa phổ.
Năm 28 tuổi, ông vào chùa Tường VânHuế, xin xuất gia làm chú điu(tức sa-di) với pp danh Tâm Trí. Hòa thượng tế độ là ngài Thích Tịnh Khiết, sau này đệ nhất Pháp chủ của Phật giáo



    1. Theo Video Sen Vàng Ngát Hương, cuộc đời đạo nghiệp Thích Minh Châu.
 

Việt Nam. Ba năm sau, ông được thọ đại giới Tỳ-kheo, với pháp tự Minh Châu pháp hiệu Viên Dung. Từ đây Đại đức Th Minh Châu đi giảng phápnhiều nơi, làm chủ bút tạp chí Vạn Hạnh (rồi đổi thành Tư Tưởng), ri hiu trưởng Trung học (Pht giáo) BĐ2.
  1. 12 NĂM DU HỌCTÍCH LANẤN ĐỘ
Trong khi nghiên cứu vkinh tạng, thy nhng chữ, nhng tên chuyển dịch từ tiếng Pali, Sanskrit sang tiếng Việt nhiều khó khăn, không đồng nhất, ông ý định tìm hiểu vấn đề này đi du dọc. Năm 1952, Đại đức du học ở Tích Lan (Sri Lanka), vừa học tiếng Anh, tiếng Pali, vừa học giới luật, Giáophápvà tự rèn luyện thành một Tỳ-kheo theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy của Tích Lan. Từ đó cho đến cuối đời ông vẫn giữ chiếc áo vàng Nguyên thủy.
Những năm 50 bắt đầu thời kỳ phục hưng Phật giáoTích Lan, với sự hiện diện nhiều kinh sách Phật giáo, nhiều trường sở, nhiều vị Hòa thượng uyên thâm, nhiều học giả lỗi lạc. học giả phương Tây, người Đức, người Anh đến đây cầu học. Tích Lan nơi xuất phát tổ chức truyền kinh tạng Pali bằng tiếng Anh Pali Text Society… Nhng skin này có lẽ đã nung nu ước vng dịch phổ biến Tam tạng Kinh gốc Pali, ra tiếng Việt mở những trường Phật giáo cho đại chúng của Đại đức Minh Châu3.
Năm 1955, sau khi đậu bằng Pháp (Sadhammacariya), mức độ đào tạo bản của một tu sĩ ở Tích Lan4. Lúc đó ở Colombo chưa



    1. Các chi tiết về tiểu sử, dựa vào bản tiểu sử chính thức, báo Giác Ngộ điện tử
2/9/2012.
    1. Thời đó kinh tạng được in ấn rất nhiều, các tu sĩ thâm sâu như HT. Ananda Metteya,
  1. Rahula, Narada, học giả G.P. Malalasekara, Guruge với nhiều tác phẩm, những học giả lớn ở phương Tây, như Nyanatiloka, Horner, Nanamoli, Nyanaponika…. Ngài U Silananda, tu sĩ Miến Điện, sang học ở Colombo năm 1954, sau này viện trưởng Viện Đại học Phật giáo Theravada…
    1. Cấp bằng Sadhammacariya của Tích Lan lẽ tương đương với bằng Dhammacariya của Miến Điện, cấp đào tạo rất bản khá khó khăn, đối với một tu sĩ. Cho đến những năm 2000, một tu sĩ Việt Nam tốt nghiệp trường Phật học cao cấp, khi sang Tích Lan, vị ấy học tiếp 3 năm để bằng Sadhammacariya. Trong khi, với văn bằng ấy của Việt Nam, nếu qua Ấn Độ, vị ấythể học lên cấp M.A. hoặc cấp Ph.D. Do đó, cùng một trình độ, người đi du học ở Tích Lan thì được bằng Sadhammacariya, người đi học ở Ấn Độ thì bằng Ph.D.
 

Đại học cao cấp Phật giáo, Ngài sang Ấn Độ, tiếp tục học tại viện Đại học Đại Tân Tùng Lâm Nalanda (Nava Nalanda Mahavihara). Nơi đây, Đại đức thấy thêm kho giáokhổng lồ bằng chữ Sanskrit. Đại đức rèn luyện thêm khả năng về ngôn ngữ, về dịch thuật nghiên cứu giáo pháp. Ngài đỗ cử nhân Pali, cử nhân tiếng Anh, đỗ thủ khoa cao học (M.A.) về Vi diệu pháp, về tiếng Pali. Năm 1961, Ngài trình luận án tiến sĩ.
3. HAI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU SO SÁNH KINH TẠNG
Luận án tiến sĩ của Đại đức Minh Châu một công trình quí u, hiếm có. Trước đó và cho đến 50 m vsau, gn như kng một công trình tương tự.
Trong lịch sPht giáo, sau khi Đức Pht tịch dit, nhng lời dy của Đức Phật được kết tập bằng tiếng nói của người xứ Ma-Kiệt- Đà, tạm gọi tiếng Pali. Khoảng 400 năm sau, khi các bộ phái Phật giáo bắt đầu phân chia thành nhiều nhánh, thì nhiều kinh tạng được chuyn sang thtiếng c học” của n Đ, là tiếng Sanskrit. Tng kinh được chuyển sang Sanskrit, gọi Kinh A-hàm (Agama Sutra). Những bản dịch Sanskrit đó lại chuyển sang các thứ tiếng khác, như tiếng Hán, tiếng Tây Tng… Tng A-m gốc đã tht truyn, nay chỉ còn tạng tiếng Hán, tiếng Tây Tng.
Công trình, luận án tiến sĩ của Đại đức Minh Châu nhằm so sánh tập Kinh Trung bộ, thuộc tạng Pali của hệ phái Thượng Tọa Bộ Theravadins, với tập Kinh Trung A-hàm, thuộc tạng chữ Hán, của hệ phái Nhất Thiết Hữu Bộ Sarvastivadins. Kinh Trung bộ bộ kinh cốt lõi, ở đây Phật chỉ dạy các đệ tử cách thức tu tập, hành thiền hướng đến giải thoát rốt ráo.
Công trình nghiên cứu, so sánh, đưa ra những điểm giống nhau khác nhau giữa hai phái Nguyên thủy Đại thừa. Đây công việc rất hữu ích cho sự am hiểu lịch sử phát triển của Phật giáo tính cht của các hệ phái. Trong giới tu sĩ và học gi, Đại đức là một người rất hiếm, đủ các điều kiện để làm việc nghiên cứu này. Ngài người đã tu tập theo truyền thống Đại thừa, nay tiếp cận
 

gần gũi với truyền thống Nguyên thủy; vốn đã thông thạo tiếng Hán, nay lại sành sỏi tiếng Pali.
Công trình nghiên cứu dày hơn 550 trang sách, được đánh giá rất cao. Ông S. Mookerjee, viện trưởng Đại học Nalanda tán dương: “Công trình của ông quả thực đã mở rộng chân trời hiểu biết của chúng ta. Ông đã thực hiện đề tài này với cái nhìn của học giả với thái độ tư, cốt đề cao chân chứ không với mục đích dựng lên một giáo điều hay phân phái. ” (…) Tôi hết sức hài lòngtác phẩm này đã được hoàn tất trong khuôn viên Tân tòng lâm Nalanda. Chúng tôi sẽ mãi mãi hãnh diện về những TiếnThích Minh Châu những người cộng scủa ông đã m.5
người Việt Nam đầu tiên đỗ tiến Phật học tại Ấn Độ với một luận văn xuất sắc, tu sĩ, tiến sĩ Thích Minh Châu được chính tay tổng thống nước này đứng ra trao văn bằng. Ngay sau khi tốt nghiệp, Ngài được trường Bihar, thuộc viện Đại học Nalanda, Ấn Độ mời ở lại dạy học.
Trong thời gian ba m ngn ngi, vừa dy học, vừa nghiên cứu, Đại đức xuất bản 3 tập sách bằng tiếng Anh: Huyền Trang nhà chiêm bái học giả, Pháp Hiển nhà chiêm bái khiêm tốn Nghiên cứu đối chiếu Kinh Milinda vấn đạo chữ Pali Kinh Na-tiên Tỷ kheo chữ Hán. Công trình của Huyền Trang (602-664 sau công nguyên) thì hoàn toàn nằm trong truyền thống Đại thừa với nhiều sự kiện kỳ bí. Còn trong kýstrước đó gần 300 nămca Pháp Hiển (337-424 saucông nguyên) thì đơn giản hơn, mang dáng dấp của một vị Nam tông với những ghi chép về đời sống của chư tăngẤn Độ,Tích Lan.
Trong khi đó, tác phẩm thba là tiếp tục so sánh 2 nguồn kinh tạng, Kinh Milinda vấn đạo, tạng chữ Pali Kinh Na-tiên tỳ-kheo, tạng chữ Hán. Tập Vua Milinda vấn đạo, xuất hiện khoảng thế kỷ thứ I. Dù không do Phật thuyết, tập kinh này được xếp vào thánh điển thuộc Kinh Tiểu bộ. Nội dung gồm những câu hỏi về nhiều




5. Lời giới thiệu sách So sánh kinh Trung A Hàm chữ Hán kinh Trung Bộ chữ Pali, bản dịch Thích Nữ Trí Hải.
 

vấn đề triết học rất khó, nhưng được trả lời bằng nhiều thí dụ thú vị lời giải thích bình dân, dễ hiểu. Kinh Milinda nội dung phong phú hơn rất nhiều so với Kinh Na-tiên. Đại đức Minh Châu, bằng những tài liệu của 2 hệ phái, đã chứng minh rằng, cả hai tập kinh này, gốc gác giống nhau, lẽ từ một bản kinh gốc tiếng Pali. bản Pali hiện nay đã được thêm một số phần vào bản gốc đã thất lạc.
Công trình nghiên cứu này, cũng đã được đánh giá cao. Giáo Nalinaksha Dutt của Đại học Calcutta, viết: “Tác gilà mt tu sĩ Việt Nam, đã tinh thông cả hai ngôn ngữ Pali, Hán đã hoàn thành mọi kiến thức về ngôn ngữ Pali tại học viện Pali Nalanda. Vốn uyên bác cả hai ngôn ngữ ấy, ngàithể so sánh cả hai bản này tận gốc trong từng vấn đề nêu các điểm tương đồng dị biệt. Do vậy, các kết luận của ngài rất có giá trị. Cách trình bày các tài liệu của ngài thật sáng tỏ gây ấn tượng. Qua tác phẩm này, ngài đãmột cống hiến xuất sắc vào sự nghiệp nghiên cứu Phật học.6
  1. ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
Trong thời gian Đại đức Minh Châu dy học ở n Đ, thời cuộc ở Việt Nam những biến cố trầm trọng liên quan đến đời sống Phật giáo. đất nước Việt Nam sắp bước vào thời kỳ chiến tranh khốc liệt. Đại đức rất quan tâm về những chuyển biến này. Năm 1964, khi đó đã 46 tuổi, Đại đức quyết định về nước được quần chúng đón chào rất nồng nhiệt, tại Sài Gòn sau đó tại Huế7. Đại đức được giao ngay nhiều trọng tráchGiáo hội Phật giáo Việt Nam: Pvin trưởng Vin Cao đng Pht học Sài Gòn, Tng vụ trưởng Tng vVăn hóa và Giáo dục thuộc Giáo hi Pht giáo Vit Nam Thống nhất.


    1. Lời nói đầu, Nghiên cứu đối chiếu Milinda vấn đạo, chữ Pali Kinh Na-Tiên tỷ kheo, chữ Hán. Bản dịch Trần Phương Lan.
    2. Chuyến trở lại Việt Nam 1964, E. Wuff, www.thuvienhoasen.org/
- Lời nói đầu trong Pháp Hiển, nhà chiêm bái: “Trong lúc soạn tác phẩm này trong bầu không khí thanh bình Đại Tòng Lâm Nalanda Mới, thì tại miền Nam Việt Nam, bi kịch của Phật giáo Việt Nam đang bùng nổ. Với lòng thán phục lẫn với lo lắng sâu xa, tôi đã theo dõi cuộc tranh đấu dũng cảm của Phật tử Việt Nam để bảo vệ tín ngưỡng mình, sự đàn áp tàn bạo của chế độ Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo.”
 

Năm 1965, Thượng tọa Thích Minh Châu tham gia thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh hiệu trưởng của trường này cho đến năm 1975. Khác với các học viện Phật giáo khác, thường chỉ dành cho Tăng Ni, Đại học Vạn Hạnh mở rộng cho mọi người trong nỗ lực tìm hiểu giáo lý của Đức Phật những lãnh vực khác của kiến thức nhân lọai. Đây lẽ mô hình gần giống với những Đại học Phật giáoTích Lan, như trường Vidyodaya Pirivena, hay Vidyalankara Pirivena. Lãnh đạo Đại học các tu sĩ, chương trình cũng bao gồm nhiều bộ môn, như một trường đại học bình thường.
Đại học này còn là nơi tập hợp nn tài, trí thức Sài Gòn. Trong thời kỳ chiến tranh,còn mái nhà che chở cho nhiều người, tránh bị lôi kéo vào cuộc chiến. Như các tu sĩ Tuệ Sĩ, Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hữu Ba, Kim Định, Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư…
Trong suốt 11 m hin hu, Đại học Vn Hnh đã đào to được trên 4.500 người, trong đó 215 tốt nghiệp bậc cao học, 568 người bậc cử nhân.8
Khi chiến tranh chấm dứt, nước Việt Nam bước vào một giai đoạn mới. Nhà nước đã nắm hết việc quảncác trường sở. Đại học Vạn Hạnh, vốn là một cơ sở của Bộ Giáo dục Chánh phủ Việt Nam Cng hòa, phải trlại cho nhà nước Xã hi Chnghĩa. TT. Thích Minh Châu chỉ còn giữ sởđường Duy Nguy (sau này đổi tên đường Nguyễn Kiệm), để rồi trở lại thành những sở Phật học, trong những năm sau đó.
Do những duyên lành, nhất do sự hỗ trợ đắc lực của người em là GS. Minh Chi, một cư sĩ Pht giáo, m 1976, TT. Thích Minh Châu lập lại Thiền viện Vạn Hạnh.
Năm 1981, cùng với chư tăng, ni khác, trong Nam, ngoài Bắc, TT. Thích Minh Châu tham gia tnh lp Giáo hi Pht giáo Vit Nam và ngài làm Tng Thư ký; tnh lp Trường Cao cp Pht học


    1. Sự đóng góp về giáo dục Phật học của Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh 300 năm, Phần V, Thích Thiện Nhơn.
 

Việt Nam, sở I ở Nội; 3 năm sau, mở thêm sở II tại Thành phố HCMinh tại đường Nguyn Kim. Năm 1997, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam được đổi thành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngài làm viện trưởng của các viện Phật học này.
  1. TẠNG KINH PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Trong thời gian làm vin trưởng Đại học và qua suốt cả 2 chế đ, dù bận rộn làm công việc giáo dục, đào tạo, Đại đức bắt đầu một công vic quan trng bậc nht, là phiên dịch toàn bộ Tng Kinh Pali sang tiếng Việt.
Tháng 5 năm 1965, tập I của Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya) ra đời. Tập sách dày 220 trang, chỉ 3 bài kinh song ngữ: tiếng gốc Pali tiếng Việt. Đến tháng 8 năm 1972, tức 7 năm sau, toàn bộ 4 tập Trường Bộ Kinh được hoàn thành. Sau đó, 4 tập gộp lại thành 2 tập bỏ đi bản gốc tiếng Pali. Năm 1978, 3 tập Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikaya), bộ kinh quan trọng hàng đầu trong tạng Pali đã xuất bản. Tiếp theo đó, lần lượt các bộ kinh còn lại ra đời: Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya) (4 tập), Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya) (5 tập), Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikaya) (chỉ được 10 tập).
Ít lâu sau khi được xuất bản, các bộ kinh được tái bản nhiều lần.những lần xuất bản đầu tiên, mỗi tập kinh đều lời nói đầu, nói mục đích, kể lại những khó khăn, nêu ra những nhận xét. Rất tiếc rằng, trong những lần tái bản sau, khi phổ biến trên internet, những lời nói đầu hữu ích đó đã không được giữ lại.
Kinh Tiểu Bộ bộ phức tạp nhất, dài nhất, gồm nhiều phần độc lập với nhau. Do tuổi tác đã cao bệnh Parkinson đã bắt đầu phát triển vào cuối những năm 90 (khi ấy Ngài đã 81 tuổi), sức làm việc đã giảm, chỉ 10 trong 18 phần được hoàn thành. những tập cuối cùng sự góp sức của một vị đệ tử cư sĩ, giáo Anh văn Trần Phương Lan.
Đến m 2004, công trình Tng Kinh đã xut bn gm 24 tập,
 

khoảng hơn 20.000 trang. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, pho sách những lời dạy đầy đủ của Đức Phật được xuất bản bằng tiếng Việt.
Việt Nam một nước Phật giáo rất lâu đời. Theo nhiều nhà nghiên cứu, lẽ Phật giáo đến Việt Nam trước khi đến các nước Trung Quốc, Triu Tiên, Nht Bn. Thế nhưng, kinh kPht giáo, nhất Tam tạng Kinh điển gốc tiếng Pali, vốn những lời dạy xác thực nhất của Đức Phật thì xuất hiện chậm nhấtViệt Nam, so với các nước Phật giáo khác. Các nước Phật giáo Nguyên thủy như Tích Lan, Miến Đin, Thái Lan, Cam Bốt… đã có bộ Tam Tng Pali bằng tiếng của nước họ từ lâu. Các nước Phật giáo Bắc tông khác như Tây Tng, Trung Quốc, Triu Tiên, Nht Bn, ngoài tạng gốc tiếng Hán, họ cũng đã tạng gốc tiếng Pali từ lâu.nước ta, chỉ khi ngài Thích Minh Châu bắt đầu dịch tạng kinh, thì bộ Đại tạng Kinh gốc tiếng Pali mới dần dần được hình thành.
Trước đây, mc dù cũng có giáo lý nhà Pht trong các kinh tạng Bắc tông, trong Hán Tng, nhưng kng đy đ. Người đọc các kinh Đại thừa thông dụng như Diệu Pháp Liên Hoa, Bát Nhã, Kim Cương, A-di-đà sẽ không tìm thấy những giáocăn bản nhất như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Pháp Duyên Khởi, 37 Phẩm Bồ Đề Những ý niệm này chỉ tồn tại rất “mơ hồ” trong quần chúng Phật tử ngay cả trong hàng Tăng, Ni.
Với nhng tập Kinh Trường B, Trung B, Tăng Chi, Tương Ưng, Tiểu Bộ, bất cứ ai dù tu sĩ hay cư sĩ, dù Nam tông hay Bắc tông đều thể tìm hiểu những lời Phật dạy trong suốt 45 năm hoằng pp. Nhng lời dy khá cn phương, dễ hiu, kng bí truyn, kng bit truyn, kng có nhiun dụ đòi hi nhng giải thích phức tạp, tùy mỗi vị thầy. đối với những người muốn tu tập cao hơn, thì kinh kệ này bản đồ chỉ dẫn cụ thể, đầy đủ thâm sâu, hướng đến sự giải thoát. Kinh kệ gốc Pali lại được các hội nghị các ng chư ng cao tm kết tập, tức kim kê lại từng tập, từng đoạn, từng chữ, qua 6 lần trong suốt quá trình dài hơn 2.500 năm. Cho nên, đây những bộ kinh ràng, nhất quán, chặt chẽ, khi
 

thực hành thì đạt những hiệu quả. không đòi hỏi sự tin tưởng quang, đòi hỏi cố gắng tìm hiểu, thực chứng.
  1. 30 TÁC PHẨM KHÁC CÒN ĐỂ LẠI
Song song với Tng Kinh, Hòa thượng Thích Minh Châu đã để lại khong 30 đu sách nghiên cứu, sách dịch, bài ging. Trong đó, có 2 tập Thắng pháp tập yếu luận (dịch từ Abhidhamma Atthasangaha của bộ Vi Diệu Pháp), Đại thừa sự liên hệ với Tiểu thừa (sách dịch, nguyên tác của N. Dutt), Từ điển Phật học Việt Nam (Minh Châu
& Minh Chi), Sách học tiếng Pali (3 tập), Lịch sử đức Phật Thích Ca, Chánh Pháp hạnh phúc, Hãy tự mình thắp đuốc lên đi, Hành thiền, Đường về xứ Phật9



9. Danh sách đầy đủ các tác phẩm: Đại Tạng Kinh (gốc Pali):
  1. Kinh Trường Bộ (2 tập)
  2. Kinh Trung Bộ (3 tập)
  3. Kinh Tương Ưng Bộ (5 tập)
  4. Kinh Tăng Chi Bộ (4 tập)
  5. Kinh Tiểu Bộ (10 tập đã dịch), gồm:
    1. Tiểu Tụng,
    2. Pháp Cú,
    3. Kinh Phật Tự thuyết,
    4. Kinh Phật Thuyết Như Vầy,
    5. Kinh Tập,
    6. Trưởng Lão Tăng Kệ,
    7. Trưởng Lão Ni Kệ,
    8. Truyện Thiên Cung,
    9. Truyện Ngạ Quỷ,
    10. Bổn Sanh (7 tập).
    • Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhamma Atthasangaha), hay Vi Diệu Pháp tinh yếu. Khoảng 30 tác phẩm tiếng Việt, tiếng Anh:
    • Phật Pháp (đồng tác giả),
    • Đường về xứ Phật (đồng tác giả),
    • Đại thừa sự liên hệ với Tiểu thừa (sách dịch),
    • Sách dạy Pàli (3 tập),
    • Từ điển Phật Học Việt Nam (& Minh Chi),
    • Chữ hiếu trong Đạo Phật,
    • Hành Thiền,
    • Lịch sử Đức Phật Thích Ca,
    • Hãy tự mình thắp đuốc lên đi,
    • Chánh Pháp hạnh phúc,
    • Đạo đức Phật giáo hạnh phúc con người,
 

Trong các tập sách, các bài ging, Hòa thượng truyn dy giáo pháp của đức Phật, mở lòng từ ái, vun bồi trí tuệ. Ngài chỉ dạy nếp sống đạo đức, biết giữ giới luật để một đời sống trong sạch, hạnh phúc. Ngài dạy hành thiền để thanh tịnh tâm. Ngài dạy thực hành Giới Định Tuệ để giải thoát khỏi vòng luân hồi.
Văn của Hòa thượng trong sáng, ràng, dễ hiểu, sức thuyết phục. Các bài giảng đều toát lên lòng từ ái; đôi lúc nó lời phê bình nghiêm khắc, trước những kiến (như bài Dịch kinh Đại học), hay chan chứa những tình cảm yêu nước, thương dân (như bài Chùa Việt Nam) lúc dạt dào tình cảm khi nó nói về dân tộc, về mẹ cha (như bài Người Việt Nam thương mẹ kính cha).
Từ ngày về nước, Ngài dịch kinh, giảng dạy giáoNguyên thủy. Ngài hoàn toàn dựa vào kinh tạng Pali. Nhờ Ngài, kinh tạng Nguyên thủy ngôn ngữ Pali được đưa vào hệ đào tạo chính thức các Tăng Ni, Bắc tông cũng như Nam tông, cũng nhưtrường Đại học Vạn Hạnh.
  1. QUAN HỆ QUỐC TẾ RỘNG RÃI
Dưới sự chỉ đạo của Ngài, chư tăng các tông phái đều sinh hoạt

    • Những mẩu chuyện đạo,
    • Tâm từ mở ra, khổ đau khép lại (trong đó tác phẩm Trước sự nô lệ của con người, viết năm 1970),
    • Những gì đức Phật đã dạy,
    • Hiểu hành Chánh Pháp,
    • Chiến thắng ác ma,
    • Tóm tắt Kinh Trung Bô,
    • Dàn bài Kinh Trung Bộ, Tóm Tắt Kinh Trường Bộ.
    • The Chinese Madhyama Àgama and the Pàli Mahjjhima Nikàya - A Comparative Study (So sánh Kinh Trung Bộ của tạng Pali kinh Trung A Hàm của tạng Hán. Bản dịch Trí Hải),
    • H’suan T’sang, The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang, Nhà Chiêm bái và Học giả. Bản dịch Trí Hải),
    • Fa-Hsien, the Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển, Nhà Chiêm bái khiêm tốn. Bản dịch Trí Hải),
    • Milindapanha and Nàgasena-bhikhusùtra - A Comparative Study (Nghiên Cứu So Sánh Vua Mi Linh Đa vấn đạo Kinh Na-Tiên Tỷ kheo. Bản dịch Trần Phương Lan).
    • Some Teachings of Lord Buddha on Peace Harmony and Human dignity (Vài lời dạy của Phật về hòa bình, hòa hợp nhân cách con người. Sách song ngữ).
Ngoài ra còn một số tác phẩm chưa in:
    • Từ điển Pali - Việt, Việt - Pali.
 

hòa hợp với nhau. Ngài vị Hòa thượng nhiều đệ tử nhấtViệt Nam, trong Nam, ngoài Bắc, thuộc hệ Bắc tông, Nam tông, tu sĩ, sĩ…
Trước 1975, ri sau chiến tranh, Ngài đã nhiu ln chở che cho nhiều người, nhiều nhân tài, tránh được hoàn cảnh trắc trở, để thể hội làm việc, sản xuất, đóng góp tích cực cho Phật pháp…
Nhưng dường như không nhiều đệ tử đi theo con đường của Ngài, vốn rất tế nhị, phức tạp khó khăn.
Một số đệ tử hỗ trợ những công việc của Ngài; một số khác hoạt động trong lãnh vực riêng, mỗi người cách đóng góp khác nhau vào sự nghiệp hoằng dương giáo pháp của Đức Phật.10
Ngài cũng nhiều hoạt động đối ngoại, giao lưu quốc tế. Như một đại diện, một sứ giả Phật giáo Việt Nam, Ngài đã tham gia nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế về Phật giáo, về Hòa bình, về Giáo dục ở hu hết các châu lụcTrong các hi nghị đó, Hòa thượng hô hào loại bỏ mọi hình thức chiến tranh, mọi biểu hiện bạo lực, hoan nghênh mọi nỗ lực hòa bình, động viên Phật tử tham gia các phong trào hòa bình, cổ tiến trình dân chủ hóa, nhân bản hóa ở mỗi nước cũng như trong quan hệ giữa các nước. Ngài kêu gọi:
Chúng tôi, những người Phật tử xem hết sức khẩn thiết xây dựng một nền kinh tế mới, một nền trật tự đạo đức mớikhả năng làm lắng dịu mọi sân hận mọi biến động, làm lành mạnh hóa không khí chính



10. người dịch, nghiên cứu kinh tạng Pali, như Thích nữ Trí Hải (dịch Thanh Tịnh Đạo, một thánh điển của tạng Pali, viết Tóm Tắt Kinh Trung Bộ dịch nhiều sách Phật giáo khác), cư sĩ Trần Phương Lan (dịch một số tập trong Kinh Tiểu Bộ từ bản dịch tiếng Anh, soạn giáo trình dạy tiếng Anh, dựa nhiều trên tạng kinh Pali, dịch nhiều sách về đời Đức Phật), Hòa thượng Thích Chơn Thiện (viện trưởng Viện Phật học, Huế, soạn công trình thuyết nhân tính qua kinh tạng Pali, viết Tìm Hiểu Trung Bộ Kinh).
người xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Phật giáo Việt Nam, như thầyMạnh Thát (Phó viện trưởng Việc Phật học, Thành phố Hồ Chí Minh), người góp phần dịch đại tạng kinh từ chữ Hán, như thầy Tuệ Sĩ.
người lo tổ chức dạy học, dạy thiền viện như thầy Tâm Đức (Phó viện trưởng Viện Phật học, Thành phố Hồ Chí Minh), Bửu Chánh (trưởng khoa bộ môn Pali, Viện Phật học, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời trụ trì thiền viện Phước Sơn), Tịnh Vân (giáo tiếng Pali, Viện Phật học, Thành phố Hồ Chí Minh)…
 

trị quốc tế hiện tại, chuẩn bị cho một kỷ nguyên mới nhân đạo hơn có ý nghĩa hơn.11
Với những công việc to lớn đã làm, Ngài được tặng thưởng tiếndanh dự, nhiều loại huân chương, tuyên dương công đức. Đấy phần việc của hội, của người đời, dường như Ngài không quan tâm đến những chức danh, những lợi lạc đời thường.
  1. CÔNG TRÌNH ĐẠI, SỰ NGHIỆP ĐỘC ĐÁO
thể nói một cách tóm tắt rằng vai trò, đóng góp của Hòa thượng Thích Minh Châu cho Phật giáo Việt Nam rất độc đáo cũng rất đại.
Độc đáo Việt Nam nước duy nhất trên thế giới cả hai hệ phái: Phật giáo Đại thừa Phật giáo Nguyên thủy, dù hệ phái Đại thừa chủ đạo. Hòa thượng Thích Minh Châu gạch nối hết sức cần thiết giữa hai hệ phái này. Ngài vị Hòa thượng Bắc tông, vai trò lãnh đạo Giáo hội, nhưng ăn mặc, sinh sống theo Nam tông, dịch kinh sách Nguyên thủy giảng dạy, truyền giáo pháp Nguyên thủy. Trên thế giới ngay trong lịch sử Phật giáo, chưa một mẫu tu sĩ Phật giáo nào giống như Ngài.
Ngài Minh Châu nhiều đóng góp đa dạng cho Phật giáo Việt Nam, nhưng chỉ với công trình tạng kinh Pali, nhiều người đã gọi ngài Huyền Trang của Việt Nam. Điều đó quả không quá xa với thực tế.
Hãy tìm hiểu về việc chuyển dịch tạng kinh của Ngài. Việc dịch kinh không phải dễ dàng, không nhiều thuận lợi. Vào những năm 1960, ở Việt Nam, chỉ tu sĩ gốc người Cam Bốt mới biết tiếng Pali quen với kinh kệ Pali. Nói chung Phật tử Việt Nam chưa biết gì nhiu vkinh kgốc Pali. Trong hệ phái Bắc tông gn như kng có người nào tnh tho tiếng Pali. Trong hệ phái Nam tông, giáo hội Phật giáo Nguyên thủy mới được thành hình vào năm 1957, các vị tăng đang tập trung xây dựng công việc nội bộ. dịch kinh từ



  1. Đạo Phật nền trật tự, đạo đức mới, 1989.
 

nguồn Pali thì chủ yếu để tụng đọc, làm lễ. Do đó, Đại đức Thích Minh Châu phải làm việc một mình, hay gần như một mình gần suốt 50 năm.
Cũng không nhiều tài liệu để thể nương tựa. Bntiếng Hán thì “tối nghĩa” không thống nhất, chỉ dùng được những từ ngữ đã dịch sẵn. Đại đức phải dựa vàobn ghi chép riêng (khi còn họcColombo), bn tiếng Anh ca hi Pali Text Society và bn tiếng Nht.12
Ngài lại quá ít thì giờ cho dịch thuật, luôn luôn bận bịu với các công việc của các viện Phật học. Ngài tranh thủ từng giờ khắc, những lúc đáng lý được nghỉ ngơi: Chúng tôi chỉthể để dành những ngày nghỉ, những buổi sáng thật sớm những buổi tối (nếu không quá mệt mỏinhững công việc ban ngày), để phiên dịch.13
Một trong những khó khăn không kém phần quan trọng luận, những gièm pha, chỉ trích tại sao lại đi dịch, đi truyền kinh tạng Nam tông. Đáp lại, Ngài khẳng định:
người sẽ cho, dch Tng Pāli là tuyên truyền cho Tiểu thừa, phn lạitưởng Đại thừa. Chúng ta nên chấm dứt ngay thái độ ngây thơ buồn cười này. Đạo Phật khôngĐại thừa, Tiểu thừa, khôngNam tông, Bắc tông. Đạo Phật gồmmột số giáo căn bản học phái nào cũng phải tôn trng, một số pháp môn thiết yếu Phật tử nào cũng phải y cứ để tu hành, nếu không muốn lạc vào giáo, ngoại đạo. Cho dch Tng Pāli là chúng i muốn giới thiệu và m hiểu số go lý n bn y và số pp môn thiết yếu y.14


  1. Theo Lời nói đầu, Kinh Trung Bộ, bản in 1973: “Tôi dựa theo nguyên bản Pàli của Hội Pàli Text Society để phiên dịch và dùng ba bản dịch làm tài liệu. Tài liệu thứ nhất là những ghi chú bằng tiếng Anh chữ Hán, tôi đã tự mình ghi vào bản Pàli, từng chữ, từng hàng, từng trang một, khi tôi theo học bản Pàli này, từ năm 1952 đến năm 1955 tại Hội Dharmaduta VidhyalayaColombo, Tích Lan, do Ngài Pannananda diễn giảng. Bản tài liệu thứ hai bản dịch “The Middle Length Sayings” của L. B. Horner, hội Pàli Text Society, một công trình dịch thuật rất chu toàn; bản thứ ba bản dịch ra tiếng Nhật của bộ Nam truyền Đại Tạng Kinh. Thỉnh thoảng tôi tham khảo các bản kinh Hán Tạng tương đương nếu thấy cần thiết.” (…) “Các bài Kinh chữ Hán tương đương trong bộ Trung A Hàm không giúp đỡ được nhiều (…) Cho nên, bản Hán Tạng nhiều khi tối nghĩa dễ phát sinh hiểu lầm.”
  2. Lời giới thiệu Kinh Trường Bộ, 1972.
  3. Lời giới thiệu Kinh Trường Bộ, tập IV, 1972.
 

Ngài xác định mục đích của việc chuyển dịch kinh tạng Pali:
“Khi chúng tôi dịch từ tiếng Pàli ra tiếng Việt chúng tôi muốn giới thiệu ba Tng Pàli cho c Pht tử và hc giViệt Nam, mt Tam tng Kinh điển rất phong phú, rất gần với lời dạy Nguyên thủy của đức Phật, lại được phổ biến rất rộng rãi khắp năm châu, qua công trình dịch thuật của Hội Pàli Text Society, London.”15
tỏ thái độ không phe phái:
“Chúng tôi dịch kinh Pàli, không mục đích muốn ủng hộ hay không muốn ủng hộ một học phái nào, một lập trường nào.”16
“Chúng tôi cũng không trách nhiệm nêu lên cho độc giả rõ, đoạn nào Nguyên thủy, đoạn nào không phải Nguyên thủy. Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân, mớithể tự mình tìm hiểu thấy đoạn nào thật sự Nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm nhân trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch,Đạo Phật Đạo đến để thấy chớ không phải Đạo đến để nhờ người thấy hộ, Đạo của người có mắt (Cakkhumato), không phải Đạo của người nhắm mắt; Đạo của người thấy, của người biết (Passato Jànato), không phải Đạo của người không thấy, không biết (Apassato Ajànato). Nên chỉ có người đọc mớithể tự mình thấy, tự mình hiểu và tự mình chng nghiệm.” (…)
nơi đây, chúng tôi cố gắng dịch trọn vẹn, không bỏ qua một kinh nào, dịchin nguyên bản Pàli đối chiếu với dụng ý để người đọcthể tự mình tìm hiểu nguyên nghĩa của từng chữ từng câu, khỏi rơi vào những giải thích hay lệch lạc của người dịch.17
Càng đi sâu vào việc phiên dịch, Ngài càng khám phá rathâm ý của những người kiến, những xu hướng chống đối lại Phật giáo, từ thời Đức Phật còn hiện hữu đến ngày nay. Ngài viết:



  1. Dịch Kinh Đại học, trong Chánh Pháp Hạnh Phúc, 1996.
  2. Lời nói đầu, Kinh Trung Bộ, bản in 1986.
  3. Lời giới thiệu, Kinh Trường Bộ, tập IV, 1972.
 

Càng dịch, chúng tôi càng thấy ác ý của các nhà Bà-la-môn đã dùng danh từ Tiểu thừa để gán vào những lời dạy thực sự Nguyên thủy của đức Phật khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy dụng tâm hiểm độc của các vị Bà-la-môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất củatưởng nhân loại, đã bị nhữngtưởng giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che giấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành 18.
Cũng không phải dễ dàng hiểu hết được hiện tượng Thích Minh Châu, một vị chức sắc thuộc vào hàng lãnh đạo của Phật giáo Bắc tông, nhưng lại đổ hết tâm sức vào việc phiên dịch, truyền giáo pháp Nguyên thủy. Hãy nghe đôi lời tâm sự của Ngài:
Tôi tự đánh dấu hỏi, làm Viện trưởng hay làm một vị dịch kinh, làm chức vụ nào có lợi cho Phật giáo hơn? tôi phải tự thẳng thắn để trả lời, dịch kinh có lợi hơn! tôi chỉthể vớt vát, bằng cách để những thời giờ thong thả, chú tâm vào vấn đề phiên dịch. Chúng tôi viết những dòng chữ này vừa để sám hối, vừa mong các Phật tử các Học giả thông cảm cho”. “Cứ xem thời gian hoàn thành từng tập một, mới thấy chức vụ đa đoan của một Viện trưởng làm trở ngại cho sự phiên dịch như thế nào. Về nước năm 1964, nếu tôi không nhận chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh thời nay tôi đã dịch ít nhất cũng trọn bộ Kinh Tng Pāli ri 19.



  1. Như trên (17)
- Câu nói người ta thường cho của nhà bác học Einstein là: “Nếu một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.”
(If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Bud- dhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science).
(Trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp,stanford,edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).
  1. Trong khi HT. Thích Minh Châu dịch Tạng Kinh Pali thì HT. Tịnh Sự thuộc Phật giáo Nguyên thủy dịch toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp vào những năm 1975-1983, từ bản tiếng Thái.
 

Phần này, Ngài viết vào năm 1972. Nếu Ngài dốc sức hoàn toàn vào việc dịch thuật thì thể không những Ngài hoàn thành toàn bộ tạng kinh, (với phần chú giải tài liệu kèm theo Ngài đã nghĩ tới) thể thêm một phần của tạng Luật tạng Vi Diệu Pháp.
Khi càng đi sâu vào việc dịch Kinh Pali, Ngài một nhận xét rất thú vị, gần giống với nhận xét nổi tiếng của nhà bác học Einstein:
Hơn nữa, ngày nay người ta dần dần ý thức rằng chỉđạo Phật Nguyên thủy mới đáp ứng được những đòi hỏi của một thế giới khoa học hiện tại. Một tôn giáo muốn được giới trí thức trẻ hiện tại chấp nhận, vừa phải không mâu thuẫn với những phát minh khoa học mới mẻ nhất, vừa phải giải quyết được những vấn đề thuộc phạm vi của con người ở thế kỷ thứ hai mươi, hai mốt này. ChỉĐạo Phật Nguyên thủy mới may ra đáp ứng được những đòi hỏi trên.”
Ngày nay, rằng đọc các bản kinh Ngài dịch, người ta thể thấy một số chỗ chưa chính xác hoặc còn chưa nghĩa. Điều đó không lạ, đối với việc lần đầu tiên kinh tạng Pali được biết đến được chuyển dịch. Những bản dịch đều thống nhất, trong sáng, chân phương, trung thực.chưa phải bản dịch chuẩn mực, cho đến nay, tạng kinh do ngài Thích Minh Châu dịch vẫn bản kinh đy đủ nht, và gn như là duy nht để đông đo chư Tăng, Ni, sinh viên người nghiên cứu thuộc nhiều thế hệ dựa vào đó, để tìm hiểu, nghiên cứu, thực tập giáo lý của đức Phật.
Bằng công sức chính yếu của cả một đời người, Ngài đã dịch được gần trọn bộ tạng kinh. Công trình đại này đã làm viên đá tảng bản đầu tiên. Dựa trên đó, những công trình khác, những




Các đệ tử của Ngài tu chỉnh xuất bản vào những năm 2003-2005. Đại đức Nguyệt Thiên đã dịch xuất bản toàn bộ Tạng Luật, từ nguyên gốc Pali, vào những năm 2003-2005. Đại đức đang tiếp tục dịch lại một số tập trong Kinh Tiểu Bộ (như Chuyện Thiên Cung, Chuyện Ngạ Quỷ, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ) dịch thêm những tác phẩm khác (như Phật Sử (Buddhavamsa), Hạnh Tạng (Cariyapitaka), Milinda vấn đạo, Phân Tích Đạo (Patisambhid- amagga), Thánh Nhân Sự (Apadana)) góp phần hoàn thiện Tam Tạng Pali.
Trong khi đó thì Đại tạng Kinh Việt Nam gốc chữ Hán cũng đã bắt đầu được chuyển dịch xuất bản, dưới sự chỉ đạo của các Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Thanh Từ, Thích Đức Nghiệp…
 

tập khác, những tạng khác, lần lượt được bổ sung, được hoàn thành về sau này.
Tóm lại, cuộc đời của Hòa thượng Thích Minh Châu một tấm gương rất sáng cho việc phục vụ giáo pháp, phục vụ dân tộc, phục vụ loài người. Hiện tượng Thích Minh Châu lẽ rồi sẽ còn được tìm hiểu sâu hơn nữa, được đánh giá đúng mức hơn nữa, còn sẽ được học tập, làm thành tấm gương cho thế hệ sau noi theo, không những cho người Việt Nam còn cho cả thế giới Phật giáo…
Mãi mãi những Phật tử Việt Nam sẽ ghi công đức lớn lao này của Hòa thượng Thích Minh Châu. Những đóng góp đã thấy được của ngài cho nền Phật giáo Việt Nam đại chưa từng có:
  1. Ngài đã phiên dịch đầy đủ, hệ thống, trong sáng gần như toàn bộ 1 trong 3 Tng Kinh điển, là tạng Kinh, gồm nhng lời dy suốt 45 năm hoằng pháp của Đức Phật.
  2. Ngài đã góp phần so sánh, soi sáng những điểm giống khác nhau trong một số tác phẩm lớn của 2 hệ phái Phật giáo.
  3. Ngài đã góp phần quan trọng vào việc xóa đi những định kiến sai lm vTiu tha, vPht giáo Nguyên thy.
  4. Đã đem giáo Phật giáo Nguyên thủy ngôn ngữ Pali vào giảng dạy trong các trường đào tạo Tăng Ni, phần lớn thuộc hệ Phật giáo Đại thừa.
  5. Đã đào tạo hàng chục ngàn Tăng Ni cho cả 2 miền Nam Bắc, cho cả 2 hệ phái Phật giáo Nguyên thủy Phật giáo Đại thừa.
  6. Đã đưa giáo lý của Đức Phật vào quần chúng, bằng các trường, lớp, bằng việc phổ biến kinh sách, tổ chức các buổi thuyết pháp tập thiền hàng tuần cho công chúng.
9. CÁI LÕI CÂY, CÁI ẤY SẼ TỒN TẠI LÂU DÀI
Sau nhiều năm bệnh tật, ngày 1/9/2012, tức ngày 16 tháng 7 âm lịch, PL 2556, Hòa thượng Thích Minh Châu đã xả bỏ xác thân tại thiền viện Vạn Hạnh, với tuổi đời 95 năm tuổi đạo 64 hạ. Hòa


thượng Thích Minh Châu đã ra đi, để lại sự thương tiếc cùng lớn lao cho giới Pht giáo, trí thức trong và ngoài nước. Trong nhng ngày đầu tháng 9, hàng trăm, hàng nghìn vòng hoa phân ưu, hàng vạn người đủ các tầng lớp, nhiều đoàn thể, nhiều đại diện trong nước, ngoài nước đã đến thiền viện Vạn Hạnh để tỏ lòng thương tiếc, kính yêu biết ơn đối với Hòa thượng Thích Minh Châu.
Hòa thượng đã ra đi, nhưng những tốt đẹp nhất sẽ cònlại lâu dài, như Hòa thượng đã ghi lại trên bảo tháp của Ngài: Yo sāro thassati. i gì là lõi cây, i y sẽ tồn ti lâu i. Phải cng đó là tạng kinh, những công trình, bài giảng, lời dạy cả một cuộc đời phục vụ giáo pháp, phục vụ dân tộc, vượt lên những qui ước, những định kiến.
Chúng ta mặt hôm nayđây, hầu hết không may mắn được gặp mặt Ngài, không được trực tiếp đảnh lễ Ngài. Nhưng thể nói, chúng ta đều những đệ tử của Ngài. Bởi vì, từ khi hiểu giáo pháp của Đức Phật, chúng con đã đọc tụng, nghiên cứu kinh kệ trong Đại tạng Kinh Việt Nam do Ngài Minh Châu chuyển dịch.
Như đệ tử, chúng con xin cùng đốt nén hương tưởng nhớ ân đức của Thầy. Chúng con sẽ cùng tụng những lời Phật dạy do Ngài phiên dịch, Hãy tự mình đt đuc lên mà đi. Và… chúng con nguyện sống trong chánh pháp, hành trì đúng chánh pháp nương nhờ theo nhng lời dy của Thy, Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây