20. NHÌN TỪ“MỘT THỜI”: KÍNH TƯỞNG NHỚ HÒA THƯỢNG MINH CHÂU

Thứ sáu - 06/12/2019 07:51
 
 NHÌN TỪ“MỘT THỜI”: KÍNH TƯỞNG NHỚ HÒA THƯỢNG MINH CHÂU
HT. Thích Phước Sơn

 
 
  1. CÔNG TRÌNH BIÊN SOẠN PHIÊN DỊCHCỦA TRƯỞNG LÃO HT. THÍCH MINH CHÂU
Mặc bận rộn nhiều công việc cho Giáo hội, cho Quốc hội, cho việc giảng dạy, nhưng HT. Thích Minh Châu vẫn quan tâm dành nhiều thời gian cho việc dịch kinh giảng kinh. Từ khi về nước cho đến nay, tác phẩm của Ngài ngày càng phong phú. Sau đây những tác phẩm còn để lại:
    • Dịch kinh tạng Pali:
  1. Trường Bộ kinh (2 tập)
  2. Trung Bộ kinh (3 tập)
  3. Tương Ưng bộ kinh (5 tập)4. Tăng Chi bộ kinh (5 tập)
  1. Tiểu Bộ Kinh: Tập 1 / Tập 2 / Tập 3 / Tập 4 / Tập 5 / Tập 6 / Tập 7 / Tập 8 /
Tiểu bộ kinh: gồm các tập sau



*. Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam giảng viên lâu năm của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 
 
    1. Pháp (Kinh Lời vàng)
    2. Kinh Phật tự thuyết
    3. Kinh Phật thuyết như vầy
    4. Kinh Tập
    5. Trưởng lão Tăng k
    6. Trưởng lão Ni k
h. Bổn sanh (2 tập)
g. Kinh Pháp
  1. Kinh Kalama
  1. Kinh Không Sợ Hãi
  2. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
  • Dịch từ Abhidhamma:
  1. Phật pháp (đồng tác giả)
  2. Đường về xứ Phật (đồng tác giả)
 
 
  1. Những ngày những lời dạy cuối cùng của đức Phật
  2. Đại thừa sự liên hệ với Tiểu thừa (dịch)
  3. Sách dạy Pali
  4. Dàn bài Kinh Trung bộ (chưa in)
  5. Toát yếu Kinh Trường bộ (chưa in)
  6. Toát yếu Kinh Trung bộ (chưa in)
  7. Chữ Hiếu trong đạo Phật (đồng tác giả)
  8. Hành thiền
  9. Lịch sử đức Phật Thích ca
  10. Hãy tự mình thắp đuốc lên đi
  11. Chánh pháp hạnh phúc
  12. Đạo đức Phật giáo hạnh phúc con người (2002)
  13. Những mẩu chuyện đạo (2004)
  14. Đức Phật nhà đại giáo dục (2004)
  15. Đức Phật của chúng ta (2005)
  16. Tâm Từ mở ra, khổ đau khép lại (2006)
  17. Những đức Phật đã dạy (2007)
  18. Hiểu hành chánh pháp (2008)
  19. Chiến thắng ác ma (2009)
  20. Trước sự nô lệ của con người
  1. “MỘT THỜI” CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU
Thông thường thì trải qua bao nhiêu thời gian để được gọi “một thời”? thể một tháng, vài ba tháng, nửa năm, một năm hay nhiều hơn nữa? Hầu như tất cả những thời lượng vừa nêu đều đúng, nhưng chủ yếu trong những quãng thời gian ấy phải có, đã một điều đấy rất nổi bật: hoặc một sự việc, hoặc một hình ảnh, hoặc một chuyển đổi, một bước ngoặt, một cuộc gặp gỡ…
 

đã tác động đến đời sống khiến tâm tư của chúng ta luôn nhớ đến, nhớ mãi, trở thành một sự kiện gắn liền với hành trang tri thức của cả đời mình mới được gi là một thời.
Theo chiều hướng như vậy, đối với chúng tôi, thì “một thời” được nói đến trong bài viết này chính là m học sau cùng ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, năm học 1967 - 1968, chúng tôi đã được thọ giáo trực tiếp nơi Hòa thượng Minh Châu - ngày ấy còn Thượng tọa - Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, giáo thỉnh giảng của Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Hình nh một vị tu sĩ Pht giáo Việt Nam, mình khoác tấm y vàng sậm, dáng dấp ung dung, khuôn mặt tròn đẹp, vầng tráng rộng, đôi mắt hiện đậm chất trí tuệ, thông thái, nụ cười luôn nở trước mọi người đối diện, nhất khi gặp các học Tăng trẻ, tất cả, đúng tất cả, đối với chúng tôi thời bấy giờ quả một hình ảnh tuyệt vời. Hình ảnh ấy như thể đã làm rực sáng cả khuôn viên trường Đại học Văn khoa mỗi khi Thượng tọa Minh Châu1 xuất hiện, bước nhanh lên cầu thang, đi qua các hành lang để đến phòng X, phòng dành cho các sinh viên theo học chng chỉ Triết học n Đ.
Đã 45 năm trôi qua, hình ảnh kia vẫn luôn hiện hữu trong vùng trí nhớ của chúng tôi, cho đến bây giờ (2013), nhân sắp tròn một năm ngày Đại lão Hòa thượng Minh Châu viên tịch, tưởng nhớ đến bậc Đại lão tôn túc, thì cái hình ảnh tuyệt vời của Thượng tọa Minh Châu ở Trường Đại học Văn khoa thời y đã hin vrt rõ.
Nói cho đầy đủ thì hơn 10 năm về trước, tính từ năm 1967, danh xưng Tỳ-kheo Thích Minh Châu đã được chúng tôi biết đến. Tức vào khoảng giữa năm 1956 hay 1957, người thân trong gia đình chúng tôi đi xuống Quy Nhơn thăm một người bạn rồi ghé vào chùa Long Khánh, hôm ấy nhằm ngày 14 tháng 7 âm lịch, cận ngày lễ Vu lan, nên được nhà chùa biếu cho một quyển sách mỏng, bìa màu vàng nhạt. Đó bài viết của Tỳ-kheo Thích Minh Châu



  1. Chúng tôi dùng danh xưng Thượng tọa Thích Minh Châu để chỉ cho Hòa thượng Minh Châu thời ấy.
 

nhan đề ChHiếu trong đo Pht. Chc là một bài viết đã đăng báo, được vị trụ trì chùa Long Khánh ngày ấy Thượng tọa Tâm Hoàn đem in để phát cho bổn đạo nhân mùa Báo hiếu. Chúng tôi được biết đến cái tên Tỳ-kheo Thích Minh Châu từ đó.
Sau đấy, vào chùa xuất gia, khi công việc ăn ở, tu học đã tạm ổn định, chúng tôi bắt đầu dành dụm chút ít tiền bạc được để mua sách, lần lượt tạo dựng tủ sách Phật học cho mình, thì quyển sách chúng tôi “thỉnh” đầu tiên cuốn Phật pháp, tác giả bốn vị: Thích Minh Châu, Thích Thiên Ân, Thích Đức Tâm, Thích Chơn Trí. Sách tuy tài liệu dành cho lớp thanh thiếu nhi gia đình Phật tử, nhưng cũng tài liệu tham khảo rất tốt cho hàng xuất gia bước đầu học Phật như chúng tôi. Sách ấy đã được tái bản rất nhiều lần.
Lúc này nếu như người hỏi nội dung của sách viết về những vấn đề gì, chắc chắn chúng tôi phải tìm lấy sách đọc qua rồi mới trả lời được. Những câu đối rất hay nơi tháp của Tổ Liễu Quán (1667 - 1742) sách này đã nói đến thì chúng tôi thuộc lòng ngay từ lần đọc đầu tiên nhớ mãi: Bảo đạc trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy. Pháp thân độc lộ y nhiên tọakhán thanh sơn (Tiếngvang lừng trước ngõ không ngừng dòng suối biếc. Pháp thân vòi vọi, quanh tòa cao ngất dãy non xanh). Nhớ mãi cũng như nhớ mãi tên tác giả: Tỳ-kheo Thích Minh Châu.
Năm 1965, chúng tôi ghi danh học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, cũng năm Đại học Vạn Hạnh chính thức được thành lập (Trước đó mang tên là Vin Cao đng Pht học), dời từ cơ stạm đặt tại chùa Pháp Hội về sở mới khang trang, bề thế ở đường Trương Minh Ging, gn cu Trương Minh Ging. Lý do khiến my anh em chúng tôi học ở Văn Khoa, không học ở Vạn Hạnh cũng đơn giản thôi. Chúng tôi nghĩ Đại học Vạn Hạnh của mình, dù sao thì chúng tôi cũng đã những hiểu biết ít nhiều về Phật pháp. Điều chúng tôi mong muốn vào lúc ấy những kiến thức về lịch sử, văn học, triết học Đông phương gồm cả Phật-Nho-Lão, những hiểu biết bộ về triết học Tây phương v.v… Còn nếu ghi danh học cả hai nơi thì chúng tôi không kham nổi.
 

Đâu như đu m học 1966 - 1967, Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn thông o cho biết văn bng Cử nn Triết học ở đây được pn làm hai: Cử nn Triết học Tây phương và Cử nn Triết học Đông phương. Bng Cử nn Triết học Đông phương gồm chng chỉ dự b(Năm thứ nht) và bốn chng ch: (1) Lịch sTriết học Đông phương. (2) Lịch sTriết học Tây phương. (3) Triết học Trung Hoa. (4) Triết học n Đ. Bốn chng chỉ y, nếu ly đủ thì được cấp bằng Cử nhân Giáo khoa. Nếu chỉ lấy được ba chứng chỉ, chứng chỉ còn lại thi hai ba lượt vẫn không đậu thì thể thi lấy một chứng chỉ nào đấy (Văn chương, Sinh ngữ, Ngữ pháp, Sử địa…) để đủ bốn, tức được cấp bằng cử nhân tự do. Tất nhiên cử nhân tự do chỉ như một thứ con ghẻ nên giá trị không bằng văn bằng kia.
Một vài người bn thuộc loại “Người Vit gốc sư, đi dy nơi các trường trung học công lập còn cho biết nếu nhập ngạch giáo đệ nhị cấp (giáo viên cấp ba bây giờ) thì chỉ số lương của anh giáo khoa ngang bằng với sinh viên tốt nghiệp Đại học phạm, còn anh tự do thì chỉ số lương thấp hơn. Một sinh viên trong một năm học ở Đại học Văn khoa thể ghi danh học tối đa 2 chứng chỉ. Như vậy, nếu vào loại khá cố gắng thì thể trong 2 năm lấy đủ 4 chứng chỉ. Nếu không được như thế thì 3, 4 năm hoặc hơn nữa. Anh em học tăng chúng tôi 4 người, chia đều Huế 2 người, Bình Định 2 người.
Sau khi qua được năm dự bị thì đều đồng ý cùng theo học Ban Cử nn Triết Đông, m đu học 2 chng chỉ Lịch sTriết Đông và Triết học Trung Hoa. ChHán cổ của cả 4 cũng vào ng m tạm đều vượt qua cửa ải tú tài từ ban D (Văn chương, cổ ngữ: Hán) rồi năm dự bị nhiệm ý Hán, nên chúng tôi chút ít tự tin khi theo học 2 chứng chỉ ấy. Đúng chúng tôi đã được khá nhiều thong thả trong năm học này, phần lớn chương trình học đều nơi các sách chúng tôi đã mua đã đọc hoặc mới mua: Đạo Đức kinh của Lão Tử 2 quyển, Nam Hoa kinh của Trang Tử, 3 quyển (bn dịch của Nguyn Duy Cn). Đại cương Triết học Trung Quốc, 2 tập của Giản Chi Nguyễn Hiến Lê…
 

Những thì giờ rảnh, chúng tôi hoặc ra phố Lợi dạo qua mấy nhà sách, nhất mấy hiệu sách nhỏ chuyên bán sách cũ. Hoặc qua bên Khánh Hội ghé thăm thầy Giản Chi (1904 - 2005). Thầy Giản Chi phụ tch phần Đại cương Triết học Trung Hoa, mi tun 2 giờ, thuộc chng chỉ Lịch sTriết Đông, là vgiáo sư duy nht mà chúng tôi trong mấy năm theo học ở đại học, đã đến tận nhà để thăm hỏi cùng hầu chuyện. Tài liệu giảng dạy của thầy chính bng tóm lược từ bộ sách Đại cương Triết học Trung Quốc do thy học giả Nguyễn Hiến (1912 - 1984) biên soạn. (NXB. Cảo Thơm, S, 1966, 2 tập, hơn 1.500 trang). Đấy một công trình khảo cứu công phu, có giá trị lớn, giới thiu đy đủ về din mo của Triết học Trung Quốc trong 25 thế k, từ thế kỷ 6 trước Tây lịch đến đu thế kỷ XX, được trình bày theo từng lĩnh vực, từng đề mục, khác với lối trình bày theo hướng Lịch triều như hầu hết các sách viết về lịch sử triết học đã xuất bản.
Đây là nhng ghi nhận của hai v son giv dân tộc Trung Hoa Phật giáo nơi phần “Một chút địa lịch sử” đầu Tập 1: “Họ sức đồng hóa mãnh liệt không dân tộc nào bằng. Tuy nhiên trong lịch sử của họ, cũng đã hai thời kỳ họ tiếp xúc với những nền văn minh rất cao, họ đã hăng hái học cái mới của người, sau “một thời” gian nghi kỵ. Lần thứ nhất, họ thâu nhập văn minh Ấn Đ, trong các thế kỷ thứ VI, VII và VIII (Đời Lục Triu và Đường). Sự tht, đo Pht vào Trung Quốc từ đời Tn nhưng phải đến đời Lục Triu, nn xã hi Trung Hoa gp hi suy lon, tư tưởng đã cn cỗi, văn minh Ấn Độ mới theo rợ Hồ xâm nhập dễ dàng, do đó đo Pht phát trin mạnh mẽ vô cùng(Đại cương Triết học Trung Quốc, Tp Thượng, Nxb. Co Thơm, S, 1966, tr.24).
Sau giải phóng, khoảng năm 1986 - 1987, một người trong số 4 anh em Học Tăng ngày ấy, lúc này cán bộ biên tập của một nhà xuất bản ghé thăm thầy Giản Chi vài lần, cũng để xin in lại một tác phẩm của nhà văn người Anh W.S. Maugham (1874 - 1965) do thầy Giản Chi Việt dịch (trước 1975 do Nxb. Cảo Thơm in). Đầu năm 1994, sách Vương Duy thi tuyển của học giả Giản Chi đã được
 

phát hành rộng khắp (Nxb.Văn học, 1993) hợp tuyển Việt dịch 134 bài thơ của thi hào Vương Duy (701 - 761), một trong những gương mt thơ xut sc của văn học Trung Quốc đời thịnh Đường, người được hậu thế xưng tụng Thi Phật, bên cạnh Bạch (701
- 762) Thi Tiên, Đỗ Phủ (712 - 770) Thi Thánh. Về khía cạnh Phật học, chúng tôi được biết: “Vương Duy rất yêu thiên nhiên, thâm tín đạo Phật, mỗi ngày đều ăn chay, tụng kinh, tâm hồn thanh cao, khoáng đt. (Nguyn Hiến Lê, Đại cương Văn học sTrung Quốc, Tập 2, 1964, tr.214). Rồi 2 câu thơ nổi tiếng của ông, một đúc kết về kiếp người theo cái nhìn của người mộ Phật:
Nhất sinh kỷ hử thương tâm sự Bất hướng không môn xứ tiêu.
Năm học 1965 - 1966, học dự bị - nhiệm ý Hán văn (năm thứ nht), người phụ tch môn Đại cương Văn học sTrung Quốc là Giáo sư Trn Trng San cũng hay nhc tới 2 câu thơ trên của Vương Duy nhưng chưa về xuất xứ. Tất nhiên cả 4 anh em chúng tôi đều rất thích Giáo San đã dịch thành thơ lục bát:
Một đời bao nỗi thương tâm Không về cửa Phật
biết làm sao khuây.
Bấy giờ (1994) với sách Vương Duy thi tuyển, chúng tôi được biết đó 2 câu sau nơi bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Than tóc bạc:
Túc tích chu nhan thành mộ xỉ Tu du bạch phát biến thùy thiều Nhất sinh kỷ hử thương tâm sự Bất hướng không môn xứ tiêu.
học giả Giản Chi đã dịch đúng với nguyên thể:
Ngày nào đỏ nay răng móm Phút chốc màu sương
nhuộm trái đào
 

Một kiếp bao nhiêu niềm khổ hận Không về cửa Phật gột làm sao.
(Vương Duy thi tuyển, sđd, tr.280 - 281)
Hoặc khi chúng tôi dành cả nhiều buổi chiều để đến giảng đường của Đại học Vạn Hạnh, tham dự những buổi thuyết trình của các vị giáo sư bên ấy giảng nêu về các vấn đề thuộc văn học, triết lý, Phật học v.v… Nếu buổi thuyết giảng do Thượng tọa Viện trưởng phụ trách thì chúng tôi phải đi sớm. Đi sớm mà về trễ. Đi sớm là để được ngi phía trước, để nghe rõ hơn và nht là để chiêm ngưỡng, để nhìn kỹ hơn về dung mạo của Thượng tọa Minh Châu.
Bởi thời gian trước đấy chỉ thấy biết Thượng tọa Viện trưởng nơi sách báo, hoặc chỉ nhìn thấy từ xa, nếu gặp thì chúng tôi cũng chỉ cúi đầu vái chào rồi đi tiếp. Nên đây những dịp để được nhìn kỹ, nhìn rõ, lắng nghe lời giảng nói của Thượng tọa. Còn về trễ chúng tôi hay tạt vào thư viện để nhìn ngắm cho mát mắt mình thư viện mới thành lập này. Phòng ốc rộng, thoáng, bàn ghế sạch mới, sách thì quá nhiều, phòng chứa sách đặttầng cao nhất, cũng rộng thoáng. Vào giữa năm sau, chúng tôi nhận được món tiền trợ cấp của Đại học Vạn Hạnh dành cho các anh em học tăng đang theo học đại học. Rồi chúng tôi được mời đi làm công quả mỗi tuần một buổi tại thư viện của Đại học Vạn Hạnh, nên chúng tôi đã dịp tham quan khá kỹ phòng chứa sách, phải nói số sách của thư viện ấy. Chỉ ngắm nhìn, xem qua thôi cũng cảm thấy sung sướng lắm rồi. Phần lớn sách ngoại văn của thư viện do uy tín ngoại giao của Thượng tọa Viện trưởng có.
Làm Viện trưởng, công việc tất nhiên bề bộn, nhưng Thượng tọa Minh Châu vẫn dành thì giờ để dịch sách, viết báo, dịch kinh. Thượng ta đã dịch xong kinh Trường bộ (1965) mở đu cho công việc Việt dịch 5 Bộ Nikàya, góp phần chính để hoàn thành phần Phật giáo Nam truyền của Đại tạng Kinh Việt Nam, tạo thuận lợi lớn cho các thế hệ nghiên cứu Phật học trẻ tìm hiểu về Tng Kinh của Thượng tọa bộ vốn được xem nhiều chất nguyên thủy hơn hết.
 

Nhưng đấy chuyện về sau này, còn hồi đó chúng tôi đều rất thích đọc cuốn Đường về xứ Phật, xuất bản năm 1964. Tác giả của sách tuy ghi ba vị nhưng chắc chắn người giữ vai trò chính Thượng tọa Minh Châu. Đây tập bút ghi chép,tả rất chi tiết đầy đủ về hầu hết các Phật tích nơi xứ Phật - Ấn Độ, nhân một chuyến hành hương - chiêm bái của ba vị Tăng sĩ kia: Hai người Việt Nam (Thượng tọa Minh Châu, Thượng tọa Thiện Châu) một người Đức (Sư Pasadika).
Mục đích của sách cùng lộ trình chiêm bái đã được Thượng tọa Minh Châu nêu nơi Lời giới thiệu: “Quyển Đường về xứ Phật ra đời để thực hiện việc giới thiệu các Phật tích cho Phật tử Việt Nam dân chúng Việt Nam. Chúng tôi đã đi thăm các Phật tích sau đây: Vương Xá, với Núi Linh Thứu, Động Kỳ Quật, Tinh xá Trúc Lâm. Bồ ĐĐo Tràng chỗ Đức Pht tnh đo. Lộc Uyn, nơi Đức Phật đã thuyết pháp lần đầu tiên. Song Lâm với pho tượng Đức Phật nhập Niết-bàn khổng lồ. Lâm Tỳ Ni, ngôi vườn lịch sử đánh dấu nơi Đức Phật đản sinh. Vệ, chốn Đức Phậtlâu nhất thuyết những kinh rất quan trọng… Mỗi Phật tích, chúng tôi đều tả tỉ mỉ điểm nổi bật, ghi chép một vài nhận xét, cảm tưởngnhân, nhắc lại những tích truyện tiêu biểu nhất trong khi Phật tại thế, tìm hiểu lịch sử của Thánh tích ấy dịch những đoạn sự của hai ngài Pháp Hin và Huyn Trang(Đường vxPht, bn in 1989, tr.3 - 4).
tất cả 65 ảnh được chụp tại chỗ, in kèm với phần giới thiệu,tả về các Thánh tích2. Hai ảnh khiến chúng tôi cảm động nhất ảnh 22 (tr.97): Nơi cử hành lễ trà tỳ kim thân Đức Phật, ảnh 29 (tr.117): Ảnh chụp chung với một gia đình họ Thích Ca. Hồi chưa đi tu, chúng tôi cũng được đọc hơn chục số báo Từ Bi Âm của Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, mượn từ một ngôi chùalàng quê, ngôi chùa này vốn thân quen với chùa Liên Tôn của Hòa



  1. Bản in lần đầu năm 1964, các ảnh chụp in trên giấy đẹp. Bản in năm 1989 ảnh chụp in trên giấy thường nên không rõ, nhiều ảnh quá xấu. Đề nghị những lần xuất bản sau nên lưu ý vấn đề này.
 

thượng Liên Tôn (1882 - 1951) từng Phó Chủ bút của tạp chí Từ Bi Âm trong nhiều năm.
Trên nhiều số báo Từ Bi Âm đăng bài viết về Lịch sử Đức Phật Thích Ca kèm theo tranh vẽ, chúng tôi nhớ rất lâu hình vẽ Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, nhục thân đã được liệm vào kim quan, Tôn giả Đại Ca Diếp do hành hóa nơi phương xa nên trở về muộn, đã đi quanh kim quan Đức Phật với tâm trạng cùng thương tiếc… Bấy giờ (1965 - 1966) đọc đoạn văn trong Đường về xứ Phật (tr.91) nhắc lại sự việc ấy, rồi nhìn bức ảnh chụp ghi: “Nơi cử hành lễ trà tkim tn Đức Pht, chúng tôi nghĩ người Pht tử nào mà chẳng xúc động! Còn bức ảnh kia (ảnh 29, tr.117) thì đấy lần đầu tiên chúng tôi mới biết dòng họ Thích Ca vẫn nối tiếp tồn tại ở Ấn Độ.
Nói chung, sách Đường về xứ Phật đã hoàn toàn đạt được mục đích đề ra, “để các Phật tử Việt Nam (trong ấy chúng tôi) khi đọc sách đều cảm giác như mình đang sống trên đất Phật tai nghe mắt thấy những Phật tích ấy” (Lời giới thiệu, tr.5).
Thượng tọa Minh Châu còn lập ra Ban Tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh, xuất bản tạp chí Tưởng, những thứ cần của một Viện Đại học, không chỉ chuyên về giáo dục bậc đại học còn bao hàm khía cạnh nghiên cứu. Ban Tu thư thì đảm nhiệm việc in ấn, xuất bản các tác phẩm khảo cứu, dịch thuật mới, cùng tái bản một số tác phẩm giá trị. Tạp chí Tưởng đúng nghĩa một chuyên san của Viện, đã tập hợp được một số cây bút nghiên cứu chuyên sâu về các lãnh vực Phật học, triết học, văn học, lịch sử… vốn giáo của Viện hoặc các giáo sư, học giả bên ngoài cảm tình với Viện.
Trong số nhng sách được Ban Tu thư Vin Đại học Vn Hnh thời ấy tái bản, theo chúng tôi, đáng chú ý nhất tác phẩm Thường Kiệt của Giáo Hoàng Xuân Hãn (1906 - 1996). Được biết Thượng tọa Minh Châu trong một lần đi công tác sang Pháp, đã tìm gặp GiáoHãn để xin phép được in lại sách Thường Kiệt - một thành tựu lớn của ngành sử học Việt Nam thế kỷ XX (Sách in lần đầu năm 1949. Viện Đại học Vạn Hạnh tái bản năm 1966).
 

Chúng tôi hết sức tán dương việc làm này của Thượng tọa Viện trưởng, chứng tỏ tầm nhìn văn hóa của nhà giáo dục Phật giáo nhiều tâm huyết trách nhiệm. Nhờ lần tái bản sách Thường Kiệt ấy nhiều lớp sinh viên Phật tử (tại gia, xuất gia) như thế hệ chúng tôi tài liệu đọc để kiến thức về lịch sử Phật giáo được mở rộng, được củng cố. Sách Thường Kiệt gồm 3 phần, 15 chương, trong ấy 2 chương cuối được dùng để nói về “Đạo Phật đời Lý” (chương 14) “Lý Thường Kiệt với đạo Phật” (chương 15).
đây, Phật giáo Việt Nam nói chung, cũng như đạo Phật đời nói riêng, tuy chỉ được trình bày một cách ngắn gọn, nhưng vẫn thể hiện khá đủ tầm nhìn, cái công tâm của vị học giả chân chính. Như bàn về Sự du nhập của đạo Phật vào Việt Nam, Giáo Hoàng Xuân Hãn, sau khi đưa ra một số dẫn chứng, đã kết luận: “Xem mấy thí dụ trên, ta thấy rằng nhiều vị Tăng dịch kinh Phật người Ấn Độ hay Tây Vc. Ngoài nhng vđã đi đường bộ tới Trung Quốc, một số đã đi đường bể. Những vị này tất nhiên phải học Hán tự. Các vị ấy chắc phần lớn đã qua đất Giao. thế, đạo Phật rất thể đã tới nước ta trước khi đến nước Trung Quốc(Lý Thường Kit, sđd, tr.417). Ức đoán của Giáo Hoàng Xuân Hãn những khơi gợithú đối với chư vị viết Lịch sử Phật giáo Việt Nam tiếp sau như Nguyễn Lang, Mạnh Thát… Hoặc như ghi nhận về Sự gắn bó từ buổi đầu giữa Phật giáo dân tộc Việt Nam, Giáo Hoàng Xuân Hãn viết: “Câu chuyện làm thơ đầu tiên trong lịch sử độc lập nước ta là thuộc vhai vsư.
sau khi dịch bài từ Vương Lang Quy của Thiền Khuông Việt (933 - 1011), một trong 2 vị làm thơ đầu tiên, vị kia Thiền Pháp Thuận (915- 990), Giáo Hãn nhận xét: “Đó lời tửu chúc từ thân thiện đầu tiên trong lịch sử ngoại giao của nước Việt. lại của một vị sư” (Lý Thường Kiệt, sđd, trang 431 - 432). Nhận định về ảnh hưởng tổng quát của Phật giáo đối với triều Lý, tác giả sách Thường Kiệt viết: “So sánh với hai triều Đinh Lê, ta nhận thấy rằng trong đời Lý, phong tục triều đình thuần hậu hơn nhiều…
 

Nói tóm lại, sau các đời vua hung hãn họ Đinh, Lê, ta thấy xuất hiện những kẻ cầm quyền độ lượng khoan hồng, những người giúp việc ít tham lam phản bạn. Đời thể gọi đời thuần từ nhất trong sử nước ta. Đó chính nhờ ảnh hưởng của đạo Phật” (Lý Thường Kiệt, sđd, tr.429). Còn về Thường Kiệt với đạo Phật, thì chính nhờ sách Thường Kiệt anh em chúng tôi (cũng như rất nhiều sinh viên Phật tử khác) được biết, trong khoảng hơn 19 m, từ m 1082 đến 1101 đời vua Lý Nn Tông (1066 - 1128), Thường Kiệt (1019 - 1105) đã lãnh trách nhiệm trấn nhậm đất Thanh Hóa, bấy giờ vùng địa đầu của miền Nam tổ quốc, khắp miền luôn được an ổn, chứng tỏ ông không chỉ tài cầm quân còn giỏi trong việc trị nước an dân.
Cũng chính trong khoảng thời gian này, đạo tâm của Thường Kiệt được thể hiện đậm nét, Phật giáo Việt Nam đã thêm một gương mặt hộ pháp sáng giá, như một đoạn trong bài Minh nơi Văn Bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (Do Thiền Pháp Bảo soạn) đã nêu rõ:
công nước Việt Noi dấu tiền nhân Cầm quan tất thắng Trị nước yên dân Danh lừng trung hạ Tiếng nức xa gần Vun trồng phúc đức Đạo Phật sùng tin….
(Huệ Chi dịch, Thơ Văn Lý Trn, tập 1, 1977, tr.365)
… Qua năm sau, chúng tôi hầu như không còn những thong thả như trước. Cả 4 anh em đều phải cố gắng hết sức để thể vượt khi cửa ải hp là chng chỉ Lịch sTriết Tây. Ban ging hun chứng chỉ này năm vị, ba người Việt còn hai người Pháp: một già một trẻ. Vị giáo già người Pháp một linh mục, luôn mặc áo chùng đen, mang kính cận thuộc loại cực nặng, đi chiếc Ves-
 

pa loại nhưng vẫn còn mới, khi giảng bài, cần viết lên bảng thì viết từ giữa bảng đen đi lên theo đường cạnh huyền của một tam giác vuông, rồi từ trên viết xuống cũng giống như trước. Vị giáo trẻ hơi ốm, cao ráo, đẹp trai, bộ râu mép vẻ được chăm chút kỹ, hay cười, tất nhiên vui vẻ hơn vị kia. Vị già giảng dạy tóm tắt về Descartes (1596 - 1650) triết gia Pháp thế kỷ XVII. Vị trẻ thì giới thiệu về Kant (1724 - 1804) triết gia lớn của Đức, thế kỷ XVIII. Bài giảng của hai vị đều được quay ronéo sẵn phát không cho sinh viên, chắc đã biết các sinh viên Việt Nam này - chỉ trừ một số ít các vốn học từ trường Pháp - tiếng Pháp không khá mấy, nghe thì nghe vậy nhưng lãnh hội thì chẳng bao nhiêu.
Bài giảng ấy, chúng tôi đem về chùa, cặm cụi tra từ điển để dịch nhưng cũng chỉ hiểu sơ. Vậy phải đi tìm tài liệu tiếng Việt liên hệ để đọc. Kant thì hơi khó, Descartes thì dễ tìm hơn, nhất thời ấy, tập Méditations của Descartes đã được Linh mục Trần Thái Đỉnh Việt dịch phần dẫn nhập rất đầy đủ (Những suy niệm siêu hình). Sởchúng tôi nhớ khá kỹ về 2 vị giáo người Pháp này cuối m học y, thi chng chỉ Lịch sTriết Tây để gi là tốt nghip, sinh viên đã đậu thi viết rồi còn phải thi vấn đáp nữa, giáo phụ trách vấn đáp vị linh mục già kia.
Bên chng chỉ Triết học n Độ thì chúng tôi có rt nhiu vui v thoải mái. Thượng tọa Minh Châu vị giáo giờ dạy nhiều nhất của chứng chỉ này. Giáo trình giảng dạy bộ Thắng pháp tập yếu luận (Abhidammatthasangaha) gồm 2 tập, do Thượng tọa đã dịch từ nguyên văn tiếng Pàli (Ban Tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh xuất bản, 1965). Tài liệu tham khảo thì khá nhiều: Lược sử Phật giáo Ấn Độ (Thích Thanh Kiểm), Các tông phái đạo Phật (Đoàn Trung Còn), Lịch sử triết học Đông phương tập 3 (Nguyn Đăng Thục), Đại cương triết học Phật giáo của Tưởng Duy Kiều (Thích Đo Quang dịch), Pht giáo trong ba bài din thuyết (Trn Trng Kim), Pht giáo Triết học (Phan Văn Hùm)3.



  1. đây chỉ nêu một số sách xuất bản trước năm 1967.
 

Thắng pháp tập yếu luận tiếng Pàli Abhidammatthasangaha, Hán dịch A-tỳ-đạt-ma giáo nghĩa cương yếu, còn gọi Nhiếp A-tỳ-đạt-ma nghĩa luận, tác giả một học giả người Tích Lan tên A Na Luật (Anuruddha) soạn thuật, ra đời vào khoảng thế kỷ XII Tây lịch. Nội dung của sách phân làm 9 phẩm (chương), bản Việt dịch của Thượng tọa Minh Châu in làm 2 tập: Tập 1 5 chương (phẩm). Tập 2 gồm 4 chương.
Th đối chiếu tên của 9 chương theo bản dịch của Thượng tọa Minh Châu với tên của 9 phẩm theo Hán dịch: (1) Chương I: Citta: Tâm Vương (Hán: Nhiếp  tâm  phân  biệt). (2)  Chương II: Các Cetasika hay Tâm sở (Hán: Nhiếp tâm sở phân biệt). (3) Chương III: Pakinnaka: Linh tinh (Hán: Nhiếp tạp phân biệt). (4) Chương IV: Lộ trình của tâm: Citta - vithi (Hán: Nhiếp lộ phân biệt). (5) Chương V: Ra ngoài lộ trình: Vithimutta (Hán: Nhiếp ly lộ phân biệt). (6) Chương VI: Sắc: Rùpa. (Hán: Nhiếp sắc phân biệt). (7) Chương VII: Tập yếu những danh từ Abhidamma: Samuccaya - Sangaha - Vibhàgo. (Hán: Nhiếp tập phân biệt). (8) Chương VIII: Trợ duyên tập yếu: Paccaya - Sangaho. (Hán: Nhiếp duyên phân biệt). (9) Chương IX: Kammathàna: Nghiệp xứ hay đối tượng tu hành. (Hán: Nhiếp nghiệp xứ phân biệt).
Tác phẩm Thắng pháp tập yếu luận  này  thuộc  loại  cương yếu đi với Tng A-t-đàm  (Abhidhamma)  của  Thượng  ta bộ (Theravàda), nên Thượng tọa dịch giả đã nhấn mạnh: “Quyển Abhidammatthasangaha này sách căn bản cho những ai muốn tham cứu học Tng A-t-đàm và trở tnh sách đu giường cho chư Tăng Miến Đin, Tích Lan, Thái Lan. (Thng pp tập yếu luận, Lời nói đầu, trang VII).
Chúng ta cần biết thêm    nếu  nhìn  sang  Nhất  thiết  hữu bộ (Sarvàstivàdin) thì các lun thuộc Tng A-t-đt-ma (Abhidharma) của bộ ấy cũng rất phong phú, như luận A-tỳ-đạt-ma lục túc, luận A-tỳ-đạt-ma phát trí, luật A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa, luận A-tỳ-đạt-ma câu xá, luận A-tỳ-đạt-ma tạng hiển tông, toàn bộ do Pháp Huyền Trang (602 - 664) đem từ Ấn Độ về Hán
 

dịch, được bảo lưu nơi Đại tạng kinh Đại chánh tân tu, trong ấy, thể xem luận A-tỳ-đạt-ma câu (Abhidharmakosa - sàstra) của Luận Thế Thân (Vasubhandhu) cương yếu đối với tạng A-tỳ- đạt-ma của Nhất thiết hữu bộ.
Tức cần những đối chiếu như Thượng tọa Minh Châu đã viết nơi cuối Lời nói đầu: “Chúng tôi cũng hy vọng tập này sẽ mở đầu cho một sự so sánh giữa tập Pàli Abhidhamma tạng SanskritAbhidharma (Tức tạng Luận của Nhất thiết hữu bộ vừa nói ở trên), tập Abhidhammatthasangaha (Thắng pháp tập yếu luận) tập Sanskrit Abhidharmakosa (luận A-tỳ-đạt-ma câu xá) một sự so sánh rất hào hứng, đầy những khám phá mới lạ thích thú” (Thắng pháp tập yếu luận, Lời nói đầu, trang VIII)4.
Đối chiếu, nêu bày, ghi nhận về Thắng pháp tập yếu luận cùng những liên hệ như trên chúng tôi đứng ở thời điểm hiện tại (2013) để bàn, chứ hồi ấy chúng tôi chỉ biết đi mua sách (Thắng pháp tập yếu luận) rồi xem qua, lại đọc kỹ, ghi ghi chép chép, những chỗ không hiểu thì thưa hỏi. Tập sách ấy 9 chương, mỗi chương nhiều phần, nhiều chi tiết, Thượng tọa Minh Châu đã dịch, giải theo thứ lớp: (1) Pàli văn; (2) Thích văn; (3) Việt văn; (4) Thích nghĩa. Như thế chúng tôi cũng được học tiếng Pàli. Học cũng khá nhiều nhưng để lâu không dùng tới nên dần quên hết. Rốt lại, chỉ chữ Hán cổ vốn gắnnhiều với chúng tôi từ thời trung học, rồi lên đại học, nên đã trụ lâu trong hành trang tri thức của mình.
Chúng tôi nhớ mãi lời khuyên của Thượng tọa Minh Châu ngày ấy, khi biết bốn anh em chúng tôi: Pàli thì lõm bõm, Pháp văn thì sơ, chỉ Hán cổ đỡ đỡ, đều đi lên từ tú tài ban D, Đại học Văn khoa theo nhiệm ý Hán v.v… nên khuyên phải cố gắng trau dồi phần sở trường của mình, sau này thể sẽ chỗ dùng…
Được gần gũi với Thượng tọa Minh Châu trong một năm học,



  1. Bây giờ thì các Luận của Tạng Pàli (Thượng tọa bộ) đã được Việt dịch. Các Luận của Tạng Sanskrit (Nhất thiết hữu bộ) cũng đã được Việt dịch (do Đại tạng kinh Tuệ Quang thực hiện). Mong rằng sẽ có những nghiên cứu so sánh như Thượng tọa Minh Châu đã nêu.
 

chúng tôi cũng dần biết thêm về thân thế của Thượng tọa. Thượng tọa Minh Châu xuất thân từ một gia đình truyền thống khoa bảng yêu nước mộ Phật. Nội tổ Đinh Văn Chất (1847 - 1887), thân phụ Đinh Văn Chấp (1882 - 1953) đều tiếnHán học. Người em ruột của nội tổ Đinh Văn Châu cũng đậu cử nhân năm 1906. Tiến sĩ Đinh Văn Chất tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp nên danh vị tiếnđã bị loại bỏ trong số các tiến sĩ của triều Nguyễn. Chính Giáo Hoàng Xuân Hãn người đã phát hiện ra sự việc này khi đối chiếu các tài liệu cũ. Tiến sĩ Đinh Văn Chấp không chỉ giỏi Hán văn còn những am hiểu về thi ca, về Phật học. Năm 1927, trên tạp chí Nam Phong, các số 114, 115, 116, Tiến sĩ Đinh Văn Chấp đã cho công bố các bản Việt dịch của mình gồm 123 bài về mảng thi ca thời Lý-Trần, trở thành người mở đầu cho công việc dịch thơ thiền thời Lý-Trần. Hồi đó (1967, 1968) chúng tôi đọc trong Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm thấy nêu dẫn mấy bài thơ dịch của cụ Đinh Văn Chấp.
Phải đến sau năm 1970, khi sách Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi được Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa của chính phủ Sài Gòn tái bản, thì chúng tôi mới đọc được khá nhiều bài thơ dịch thờ thời Lý-Trần của cụ Đinh Văn Chấp. Một pháp lữ của tôi, cư sĩ Nguyên Huệ (Đào Nguyên), một trong 4 anh em chúng tôi từng theo học mấy nămĐại học Văn khoa ngày ấy, đã sưu tập được hơn 40 bài thơ dịch của cụ Đinh Văn Chấp để viết bài giới thiệu, ghi nhận trên Nguyệt san Giác Ngộ số 126, tháng 9/2006: “Đinh Văn Chấp, người mở đầu cho công việc dịch thơ Thiền thời Lý-Trần”, cũng một cách để tri ân HT. Thích Minh Châu, vị giáo khả kính của những năm tháng đầy ắp kỷ niệmĐại học Văn khoa ngày nào.
Tháng 7/2012, Tuần lễ Văn hóa Phật giáo Nghệ An được tổ chức, cư sĩ Đào Nguyên tham dự đã gặp anh Đinh Văn Niêm, người đại diện của tộc họ Đinh Văn ở Kim Khê, được mời tham dự Tuần lễ Văn hóa ấy. Anh Niêm đã tặng cho cư sĩ Đào Nguyên quyển sách Tuyển dịch thơ đời Lý-Trần của Tiến sĩ Đinh Văn Chấp
 

(Hoàng Hng Cm hiu đính, Nxb. Lao Đng, Trungm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2011, 300 trang). Như vậy toàn bộ các dịch phẩm thơ từ thơ đời Lý-Trần của cụ Đinh Văn Chấp đã được xuất bản, một việc làm lúc sinh tiền, cố Giáosư Minh Chi - emruột Hòa thượng Minh Châu - rất mong muốn nhưng chưa thực hiện được.
Cuối năm học 1967 - 1968, chúng tôi thi 2 chứng chỉ Lịch sử Triết Tây và Triết học n Đ, nếu đu hết tức xem như là tốt nghip. Chng chỉ Triết học n Đvn bình thường, nhưng chng chỉ Lịch sTriết Tây thì lại có chút vướng mc. Các sinh viên đã đu phần thi viết rồi còn phải thi vấn đáp nữa. Vấn đáp bằng Pháp văn do vị giáo già người Pháp làm giám khảo. Chúng tôi đi xem bảng, chưa kịp vui mừng thì nghe tin kia khiến anh nào cũng xanh mặt. Hỏi ra mới biết do chứng chỉ này chỉ một vị giáo người Việt ra đề thi. Hai vị kia không do đâu vào gần ngày thi thì vắng mặt. Vậy phải điều một giáo người Pháp thế vào.
Cũng may vị linh mục già ấy vốn độ lượng, thay thi vấn đáp thì ông tổ chức thi bút đáp. Ông viết khoảng 20 đề thi trên 20 miếng giấy nhỏ, gấp lại bỏ vào thùng giấy để trên bàn. Sinh viên đến ngồi nơi ghế, lần lượt theo số báo danh lên bốc lấy một trong số các đề kia, trở lại chỗ ngồi viết bài, khoảng từ nửa giờ đến 45 phút, giơ tay để lên đọc cho giáo giám khảo nghe. Lâu quá nên chúng tôi không nhớ được đề thi, chỉ nhớ mình cũng dốc sức viết được gần một trang giấy khổ A4 theo bây giờ, lên đọc, vị giáo già kia lắng nghe, mỉm cười, đầu gật gật. Như thế đậu rồi, sau buổi thi, hầu hết đám thí sinh đều nhận định như vậy. Chỉ mấy anh khi đọc bài bị ông linh mục già lắc đầu, bĩu môi thì mới rớt, tức số sinh viên bị rớt rất ít.
Sau mùa an năm ấy, trước khi về lại trụ xứ Phật học viện Nha Trang để nhận công tác mới, chúng tôi ghé thiền viện Vạn Hạnh để bái chào Thượng tọa Minh Châu. Chúng tôi nghĩ lẽ khó ngày được gần gũi Thượng tọa nữa. Vậy sau ngày đất nước thống nhất, chúng tôi lại vào sốngSài Gòn. Nhân duyên đưa đẩy, rốt cuộc chúng tôi lại về trụ nơi thiền viện Vạn Hạnh, đến khi


trường Cao cấp Phật học được thành lập, Hòa thượng Minh Châu làm Hiệu trưởng, chúng tôi cũng được mời vào Ban Giảng huấn.
Đã 45 năm đã trôi qua. Bốn anh em đồng học ở Đại học Văn khoa ngày ấy đều còn, tất cả đều bước qua cửa tuổi Thất thập cổ lai hy” ít nhấtba bước. Một người sống nước ngoài, ba người sống trong nước. Một người tôi (Phước Sơn) còn Tăng sĩ, ba người kia đều xuống cấp nên chỉcư sĩ, nhưng hết thảy đều tùy theo khả năng tri thức của mình những đóng góp nhiều ít cho Đạo pháp. Tất cả đều thừa nhận “một thời” để nhớ của đời mình chính những năm tháng học ở Văn khoa Sài Gòn.
đấy, hình ảnh nổi bật nhất, đậm nét nhất đã khiến chúng tôi nhớ mãi trong niềm tôn kính, hình ảnh Giáo - Thượng tọa Thích Minh Châu, mình khoác tấm y vàng sậm, bước nhanh lên cầu thang, đi qua các hành lang để đến phòng X, phòng dành cho các sinh viên theo học chng chỉ Triết học n Đ.




***

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây