20. GIÁO DỤC TRIẾT LÝ PHẬT GIÁO QUA TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN

Thứ bảy - 07/12/2019 06:15


 
GIÁO DỤC TRIẾT PHẬT GIÁO QUA TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN
 

PGS.TS. Nguyễn Thanh* ThS. Đào Thị Ngân Huyền



 
  1. PHẬT GIÁO DÂN TỘC “NHƯ BÓNG VỚI HÌNH”
Phật giáo truyền  trực  tiếp  từ  Ấn  Độ  vào  nước ta đầu công nguyên. Bắt rễmảnh đất văn hóa Việt, dung hòa với tính cách dân tộc một số tôn giáo ngoại lai cũng như bản địa khác, Phật giáoViệt Nam mangtưởng nhập thế rất nét: “Đạo pháp bất ly thế gian pp. Trong tín ngưỡng người Vit có hệ thống các đng ti cao là Tri, Ngọc hòang, Thượng đế, Ông Xanh, Tiên, Bụt… thì ông Bụt bình dân gần gũi với con người hơn cả, nhất với những con người nghèo khổ, bất hạnh. Thẩm thấu rất sâu vào mỗi gia đình Việt để rồi Phật trở thành một thành viên, thành một con người vừa cụ thể, vừa trừu tượng, vừa gần gũi thân quen vừa thành kính thiêng liêng. Trên dưới hai ngàn năm đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo đã góp phần hình thành bản sắc Việt, đặc biệt trong việc giáo dục đạo đức, hòan thiện nhân cách đạocon người. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “… tôn chỉ, mục đích của



*. Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
**. Đại học phạm Thể dục Thể thao Nội.
 

đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần m, chí thiện, bình đẳng, yên vui no ấm”1. Người nhận xét rất tinh tế Phật giáo dân tộc “như bóng với hình”2, về hình thức hai (hình bóng) nhưng về bản chất thì một (bóng từ hình có). tưởng triết học Phật giáo về giáo dục đã hòa nhập sâu vào văn hóa dân tộc, qua thời gian đã khẳng định đó những yếu tố tích cực, tiến bộ, do vậy cần phát huy, kế thừa, phát triển nâng cao các tinh hoa giá trị ấy để góp phần làm lành mạnh hóa hội.
Tại sao ngày xưa nền tảng văn hóa gia đình bền chắc ảnh hưởng tích cực đến hội? một nguyên nhân các cụ ta rất chú ý coi trọng việc giáo dục đạo đức bằng tác phẩm văn học ngày nay rất cần học tập, phát huy, kế thừa, phát triển nâng cao để góp phần làm lành mạnh hóa hội. Những bài học đạolàm người, thương yêu con người, căm ghét cái ác, lòng từ bi hỷ xả, tinh thần hướng thiện được văn học Việt Nam tiếp thu từ Phật giáo để sáng tạo những hình tượng nghệ thuật thẩm m đặc sắc.
Chúng tôi xin chọn hai tác phẩm đặc sắc để chứng minh Quan Âm Th Kính (chèo cổ, tiêu biểu phía Bắc) Trương Ngáo (tuồng cổ, tiêu biểuphía Nam)
  1. VỞ CHÈO QUAN ÂM THỊ KÍNH TRIẾT CHỮ NHẪN
Vở chèo cổ Quan Âm Th Kính tỏa sáng vào bầu trời văn hóa Việt Nam đã hàng mấy thế kỷ, làmđắm, thổn thức hàng triệu trái tim bao thế hệ bởi được thu nhận những ý nghĩa nhân văn tận thiện, tận m. Bởi được xây cất bằng vật liệutưởng về con người của văn hóa dân gian, văn hóa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo nên đa dạng, nhiều vẻ về cấu trúc hình tượng. Bởi được khúc xạ tích hợp từ nhiều nguồn m học nên đa nghĩa phát ra những ánh sáng văn hóa lạ, độc đáo.
Kiệt tác được cấu trúc một cách đặc biệt theo tinh thần của văn


    1. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb. Chính trị Quốc gia, tập 8, tr. 290.
    2. Thượng tọa Thích Đức Nghiệp (1/1991), Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam, Nội san đặc biệt, Phân viện Nghiên cứu Phật học, Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
 

hóa to tiếu dân gian là xây dựng nhng tình huống ngượcvà l. Một người vợ Thị Kính hiền ngoan đảm đang yêu chồng lại bị vu oan thành kẻ giết chồng. Cái nguyên cớ bên ngoài “hiểu nhầm” nhưng sâu xa bên trong tính cách yếu nhược, nông cạn của người chồng học trò Thiện S, tính cách gia trưởng, độc đoán của “nhà chồng” Sùng Ông Sùng cay nghiệt thiếu nhân tính. Giả trai đi tu lại bị vu “mượn màu thiền dở thói mưa mây” con với Thị Mầu. “Lạ” ở chỗ Thị Kính “đành chịu tiếng thế tình mai ma” chịu phận nữ nhi khôn đường phải trái, oan thì oan cũng chẳng nói sao. Nàng cam chịu, nhẫn nhục, vừa đáng thương, vừa đáng trách. Bên cạnh Thị Kính, nạn nhân của tục quyền, thần quyền, dân gian đặt Thị Mầu phơi phới một tâm hồn khoẻ khoắn mạnh mẽ. Cũng là cái lạ đờiHai nn vt đi lp nhau để bt ra cái khát khao xuân tình, cái hừng hực táo bạo đến liều lĩnh của tâm hồn đòi được yêu thương. Từ cái nền “ngược” “lạ” này dân gian đã tài tình xây cất một tòa lâu đài nghệ thuật, trong đó nhân vật cũng đều ngượcvà l.
sự hợp lưu ánh sáng từ quan niệm lành mạnh, khỏe khoắn, táo bạo của dân gian; quan niệm từ bi hỷ xả của đạo Phật; từ cái nền nếp khắt khe của Nho giáo nên tác phẩm đã tạo ra những cuộc đổi ngôi nn vt ngược đời mà vn hợp lý. Trong đó nn vt Thị Kính bị “lộn ngược” một cách triệt để nhất, đau đớn nhất. Bi kịch cuộc đời nàng lại nguyên nhân khởi đầu lòng tốt, tình vị tha.
Tại sao Thị Kính tốt, hiền lành cam chịu như thế bị oan, oan thảm, oan hai ba lần? Hạt nhân hợp lý ở đâu? Cái ý bật thoát ra thật sâu sắc: trong cái hội đầy tai ương, đầy mâu thuẫn, phinhư thế thì người tốt, cái tốt không tồn tại được. muốn cho cái tốt, người tốt tồn tại thì phải thay đổi cả cái hội ấy. Đó việc không thể. Dân gian biết thế. người tốt cái tốt thì rất cần phải có, nên dân gian đã làm một cuộc hoán vị thân phận đổi ngôi cho họ. Đó cũng một cách trốn tránh cái phi lý ở đời. Thế nên mới thấy tại sao Thị Kính dễ chấp nhận nỗi oan, cái tiếng than của nàng cũng yếu ớt, chỉ cất lên ít lần, một lần than với mẹ đẻ, hai lần than
 

với cha đẻ (Oan con lắm, mẹ/cha ơi!), một lần than với làng (Trình lạy làng, oan kẻ tu hành này lắm!), một lần than với cụ (Oan con lắm, thày ơi)!!!. Cũng không nhiều lần Thị Kính “độc thoại nội tâm” (hát sru, vãn láy): Oan này nhẫn chịu, thác rày thời thôi!. Tức chấp nhận nỗi oan đến hết đời, đến chết, cũng tức chấp nhận sự đổi ngôi thân phận. Từ kiếp gái bị đổi thành kiếp trai rồi kiếp tu hành rồi bị đổi về kiếp đàn ông kiếp làm cha. Cuối cùng mới được đổi thành kiếp Phật. Đây vừa quan niệm nhà Phật “Đời bể khổ trầm luân!” nhưng cũng quan niệm “hóa kiếp” nhân ái của tín ngưỡng tình thương (với người Việt trước khi giết con vật dù nhỏ cũng nói câu Hóa kiếp mày thành kiếp khác!). Đời người khổ quá nên dân gian “hóa kiếp” cho nhân vật để được sống sung sướng hơn. Quan niệm con người ta phải chữ “Nhẫn” làm đầu hiền gặp lành trong văn hóa Việt đã gặp gỡ tinh thần “cứu độ” Phật giáo để cùng đưa Thị Kính hoá thân thành Quan Âm trong vòng hào quang thánh thiện của tình người.
Th Kính rất tiêu biểu cho chữ Nhẫn mà ngày nay rất cần phải có!
Thị Mầu cũng đổi ngôi từ phận nữ nhi con nhà giàu nõn xuân tình thành phận gái chửa hoang kinh hòang, rồi kiếp làm mẹ tủi phận. Từ tính cách trong sáng (lên chùa cầu Phật) đến lẳng(với Tiểu Kính) liều lĩnh ngược đời với “tình yêu” kẻ đi ở (anh Nô), đáo để bất chấp (với làng) rồi trắng trợn (với Tiểu Kính cụ) một quá trình nổi loạn của một tính cách chống phá mãnh liệt. Một mình Thị Mầu chống lại cả một hội nặng nề ngột ngạt của sự khắc cai trị bởi chính quyền, thần quyền, tục quyền… “đổi ngôi” để chống lại, hay chống lại bị đổi ngôi, cũng một vấn đề triết học nhân sinh cần bàn sâu. Cũng cần lý giải tương tự, Thị Mầu đáng thương hay đáng trách, đáng giận…? Nhưng không ai phủ nhận Thị Mầu một biểu hiện sức sống rờ rỡ, mãnh liệt, đầy cá tính khát khao đổi thay. Đây đích thực hình tượng nghệ thuật bởi sự vươn lên khỏi cái tầm thường nhợt nhạt. Nósmãi vĩnh cửu bởi vẻ đẹp, bởi sự đa nghĩa. Th Kính chủ yếu đối thoại với chính mình, với phận mình còn Th Mầu đối thoại với cả hội, với cả kiếp người!
 

Đó tiếng cười dân chủ, tiếng cười không biết sợ. Nhân dân lao động đã gửi vào ngôn ngữ Mẹ Đốp (một hình thức của ngôn ngữ hề chèo) khát vọng công bằng. Ch trên sâu khấu chèo người dân nghèo nhất mới thể sai khiến được kẻ cường hào, bắt chúng làm kẻ đầy tớ. Tiếng cười của hề san phẳng các ngăn cách đạo lý, luân lý để đưa tất cả trở về với sự tự do tuyệt đối. Trái ngược hẳn với tính minh triết này, ngôn ngữ bọn quan lại cường hào luôn bị đặt trong xu hướng ri lon, sa vào tình trng nhi, nhầm ln. Thế nên tt cả đám nn vt này đu bmt ý thc. Trong đi đáp với MĐp, nhân vật trưởng bị lép vế đến mức nói cũng sai cả, lão ta chống chế lại bằng tiếng quát vô hồn “Láo!, Chỉ láo!, Con mẹ này chỉ láoTiếng láoblp tới 10 ln nói lên tính cht cơ giới, máy móc của nhân vật…
Đậm đà một tinh thần nhân văn, khát khao một tinh thần dân chủ, cháy bỏng một khát vọng yêu được yêu, sâu sắc một tinh thần nữ quyền, vở chèo một viên ngọc văn hóa tỏa sáng vào cả tương lai góp phần làm rạng rỡ thêm bản sắc Việt.
Thế trong chương trình giáo dục phổ thông học sinh không được học, chỉ được giới thiệu như một bài tham khảo.
  1. VỞ TUỒNG TRƯƠNG NGÁO THẤU HIỂU NHÂN TÂM VÀ TÔN TRỌNG BẢN THỂ
Bản in cũ nhất của vở tuồng cổ Trương Ngáo (tên đầy đủ Trương Ngáo đòi nợ Phật) được in ở nhà xuất bản Claude et Cie Impimerie (Sài Gòn, 1904) 40 trang với 17 lớp tuồng 12 nhân vật. Nhiều nhà nghiên cứu tuồng cho rằng vở này tuổi đời trên dưới 200 năm. Đã nhiều dị bản dân gian tác giả bác học viết lại, bổ khuyết để dựng thành vở nhưng cái lõi ý nghĩa nội dung thì hầu như vẫn giữ nguyên.
Tuồng hát bội truyền thống thường đi theo đề tài “quân quốc” tức chuyện vua quan liên quan đến vận mệnh đất nước đề cao tính lý tưởng trung quân, như các vSơn Hu, Tam nữ đồ vương, “Đào Phi Phng, Võ Hùng Vươngcó đc đim là tính ước lệ rất cao. Nhân vật được miêu tả theo lối công thức: “Người trung
 

mt đỏ đôi tròng bạc/ Đứa nịnh u đen my sợi còi. Nhưng lại có một số vở như Nghêu, Sò, Ốc, Hến hay Trương Ngáo thì lại rẽ theo một lối khác - lối tuồng hài với sự cách tân nét: phá vỡ đề tài quen thuộc, đưa nhân vật người thường, thậm chí tầm thường làm nhân vật trung tâm.vở Trương Ngáo còn gắn ý nghĩa triết lý nhân sinh với triết lý tôn giáo (đạo Phật) nhằm mục đích đề cao ý nghĩa con người cuộc sống đời thường.
Anh cng Trương Ngáo vốn có bn tính tht thà đến mức ngô nghê được vợ cho năm quan tiền đi buôn, để mụ rảnh rang rước trai về nhà. Trên đường đi nghe thấy chuyện mang của cúng chùa thì sau này sẽ hưởng phước, thế chàng ngốc ta vào chùa cho Phật vay tiền. Về khoe,nhiên bị vợ cho ăn gậy bắt đi đòi lại. Ngáo ta hồn nhiên đi, nhưng không đòi ở chỗ đã cho vay sang tận Tây thiên đòi Phật Tổ… Tác phẩm mang đậm cảm quan dân gian về Phật giáo gần gũi, đời thường, bình đẳng với con người.
Nhân vật chàng ngốc đã nhiều trong truyện dân gian,vở tuồng này còn ngược lạ đời hơn… Ngáo gọi Phật Tổ “anh” (Gần chùa gọi Bụt anh). Bật cười trước bộ dạng, hành vi ứng xử của Ngáo, rồi Phật thương Ngáo hay thương người tâm thiện nhận Ngáo làm đệ tử đặt tên mới Chơn Tâm…
Hành trình của thy trò Đường Tăng trong Tây du ký đi Tây Trúc thỉnh kinh hay hành trình của con người đi tìm lý tưởng? Tôn Ngộ Không biểu trưng cho trí tuệ Trư Bát Giới biểu trưng cho tình cảm thống nhất trong một con người Đường Tăng. Ai cũng thế, sống ở đời phải trải qua bao tai ách (81 nạn) mới thể tìm tới lý tưởng (Kinh Pht). Trong cuộc nh trình đó con người phải luôn dùng trí tuệ (Tôn NgKng) mới vượt qua được kkn trở ngại (yêu quái). Ý nghĩa phổ quát ấy của thiên kiệt tác làm sayhàng triệu trái tim của bao thế hệ, không chỉ ở phương Đông còn ở cả nhân loại.
Còn nh trình của Trương Ngáo đến Tây phương đòi nợ Pht hay hành trình của con người kiếm tìm sự thật? Đó những triết lý lớn chỉ những tác phẩm lớn. Trên mọi cuộc hành trình, cuộc
 

đời cũng như khoa học, nghệ thuật cũng như tôn giáo, lao động cũng như tình yêu thì cái đáng quý quá trình khám phá, tìm hiểu chứ kng phải mục đích. “Đi là sng, đến là chết. Ngn ngphương Tây đã nói vậy. Tính hiện đại của vở tuồng chính sự phân tích quá trình biến đi nn vt Trương Ngáo từ chưa biết đến biết, từ sự ngờ nghệch, ngốc nghếch đến minh triết sáng láng. Ta thấy vở tuồng rất ít nhân vật, nhân vật chính chiếm gần trọn không thời gian tác phẩm. Kết cấu tình tiết, cảnh vật, hình ảnh của vở tuồng đi theo bước hành trình của nhân vật chính.
Ý nghĩa bản của tác phẩm như muốn đưa ra một bài học: muốn thay đổi, làm mới mình phải “lên đường” tức phải bước vào quá trình học hỏi dù phải trải qua bao khó khăn. Điều quan trọng nhất người ta phải đủ ý chí, trí tuệ niềm tin!
Khi đã “tư duy” được tượng Phật chưa phải Phật, cho tượng Phật vay tiền nên không thể đòi, thế thì phải đòi Phật Tổ,ngàn trùng xa xôi. Tức Ngáo đã “ngộ” để “đổi ngôi” sang một thân phận khác, thân phận của trí tuệ trí huệ. Nhà Phật định nghĩa về trí tuệ, “thông đạt sự tướng hữu vi” (tức hiểu thông cái vỏ sự vật) thì gọi trí, “thông đạt không tướng vi” (tức hiểu thông cái lõi sự vật) thì gọi tuệ. Vượt lên trí tuệ trí huệ. Nếu trí tuệ kết tinh từ những trải nghiệm ngoài đời thì trí huệ sự kết tinh của thế giới nội cảm tâm linh bên trong của con người. Trí huệ chỉ được qua sự tích lu, sự giác ngộ của nhiều kiếp sống. Như vậy Ngáo ta từ thân phận một chàng ngốc được làm đệ tử Phật Tổ tức một sự đổi ngôi triệt để, đã hòan thành một cuộc hành trình đại từ ngốc nghếch vươn tới tầm trí huệ. Ngáo đã tìm được chân lý của đời mình!
Ngáo đã vượt qua cái khoảng không gian ngàn trùng tức vượt qua cái hèn kém của con người, cái thử thách của cuộc đời. Cái hay đặc sắc của tuồng Trương Ngáo chính quá trình đến gặp Phật, tức gặp được sự thật. Nếu Ngáo không “ngộ” tức không bản lĩnh Ngáo sẽ không đến được Tây thiên. Ở đời vẫn thế, nhiều người, dù lắm tiền nhiều của nhưng vẫn thể chết mòn cùng với tiền của không hề biết một cuộc sống khác, chưa nói tới chuyện được
 

gặp chân lý. Cái tuyệt vời của Ngáo gặp Phật nhưng vẫn quyết giữ bản thể, bản sắc của mình. Ngáo chỉ đòi tiền cho vay chứ không xin xỏ một cáikhác, một điềukhác. Ngáo đã biết dừng lại (tri chỉ) thế nào đủ (tri túc). Ta thấy Ngáo hơn hẳn Trư Bát Giới hay Sa Tăng xin Phật Tổ cho mình hoá thành Phật. Phật Tổ đổi tên cho sánh duyên với nàng Như Ý nhưng Ngáo cũng không cảm ơn coi đó việc của nhà Phật. Phật cho Ngáo nhành cây soi tình đời hay chấp tay lạy hái ra tiền, Ngáo cũng từ chối. Ngáo đã “đổi ngôi” quyết không đổi nữa Ngáo đã thấy đủ, thấy được đích thực mình, nếu đổi mất mình. Ngáo đã nêu ra bài học: hành trình của con người kiếm tìm sự thật được “đổi ngôi” khi thấy cần, nhưng cũng giữ vững “ngôi” khi thấy đủ! Biết đủ đủ không hề đơn giản, phải một quá trình “biết” rất khó khăn để thấy cái “đủ” nhẹ nhàng!
Vợ Ngáo Ba Bành người tình Lục Tồn cũng tự đổi ngôi bởi tính cách xấu xí, tráo trở, lẳng lơ, dâm đãng. Đang làm ăn khấm khá, nhà cửa đề huề, saysắc dục Lục Tồn bỏ vợ bỏ nhà lấy Ba Bành. Kết cục sự nghiệp Lục Tồn tiêu ma, từ giàu thành trắng tay, tức blộn ngược. Ba Bành cũng chịu chung skiếp
Cái lõi thẳm sâu bên trong của vở tuồng những khao khát nhân văn thánh thiện luôn muốn cựa quậy, muốn bung phá, muốn vươn lên thế giới của cái đẹp, cái hạnh phúc!
Câu chuyện đi “đòi nợ” lại câu chuyện về đối thoại. “Đòi nợ” chuyện mong muốn được đối thoại. Khi Ngáo cho tượng Phật vay tiền trở về “khoe” với vợ liền bị đánh. Ngáo ta than thở: “Cúng Phật đắc tội/ Cho vay lại phải đòn” thì không phải than với vợ than với công lý. Ngáo ta trở lại chùa nơi cho vay liền bị quát “Thằngđâu lếu láo/ Làm những sự dại ngây/ Của cúng của mt. Ngáo ta kng thèm nói lại vì chủ thể lời quát này kng xng để đi thoi. Ngáo đã bừng tỉnh về tri thức: phải đi tìm người xứng đáng để đối thoại. Ngáo lên đường…
Để tạo ra một cuộc đối thoại cần phải bốn yếu tố bản: hiểu biết, bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe. Thì ta thấy Ngáo đang dần đủ những sở ấy. Khi đủ trí tuệ niềm tin,
 

Ngáo lên đường. Gặp Phật, Ngáo không quỳ lạy tức Ngáo muốn bình đẳng với Phật. Ngáo tôn kính Phật nên không xin xỏ. Lắng nghe Phật nhưng Ngáo làm theo ý mình. Còn Phật lúc đầu bật cười vì sngược đời mà cho rằng họ Trương mc chng điên cuồngnhưng lắng nghe thấu hiểu lại thấy Ngáo “vốn nhà lòng tnh kính. Pht Tđã nhận Ngáo làm đệ tử” tức Pht đã thấu hiểu để thấu cảm về Ngáo. Thì ra để thấu hiểu thấu cảm về nhau cả một quá trình. Không đối thoại các bên sẽ không bao giờ sự kết nối, giao lưu, hòa nhập.
Đã ý kiến cho rằng vở tuồng ảnh hưởng từ Tây du . Cũng nh trình đi Tây Trúc, cũng qua bao gian nan, cũng gp Pht TNhưng như ta thấy, nó chỉ chịu ảnh hưởngphương diệntíp, còn nội dung ý nghĩa khác nhau. Mục đích cũng khác nhau, thầy trò Đường Tăng đi “xin” (thỉnh kinh) còn Ngáo ta đi “đòi” (đòi nợ). Ngáo ta hồn nhiên hơn (không suy tính, nghĩ ngợi nhiều); bản lĩnh hơn (đi một mình): khảng khái, tự tin hơn (không lạy, không xin)… Đó cũng một nét bản sắc Việt!
  1. KIẾN NGHỊ
Tìm vào văn học dân gian sẽ thấy nhiều tác phẩm mang tinh thần Phật giáo tác dụng giáo dục trẻ em sâu sắc. Đó hình tượng cô Tm (Tm m) mi ln gp tai ách khổ nạn do mẹ con Cám gây rađược Bụt hiện lên cứu giúp. Nghe thấy tiếng thở dài phiền não của anh chàng nghèo khổ phải đi kiếm cây tre trăm đốt mới cưới được vợ Bụt hiện ra giúp anh thành công (Cây tre trăm đốt)… Bụt (phiên âm từ Buddha) chính Phật, đã mang hạnh phúc đến cho cô Tm, cho anh cng nông dân nghèoBụt chẳng phải là một biểu trưng cho khát vọng được che chở, được giúp đỡ, được bình yên, hạnh phúc sao? Đó cũng cách hiểu của người Việt về tư tưởng nhà Pht cứu độ chúng sinh. Truyn Thoi Khanh - Châu Tuấn bài ca ca ngợi đức hiếu thảo của nàng dâu Thoại Khanh thay chồng nuôi mẹ, từng cắt thịt cánh tay mình nướng cho mẹ chồng ăn thoát qua cơn đói. Từng tự khoét mắt mình dâng thần để mẹ khỏi bị bắt đi. Phật Thích Ca thương tình cho nàng cây đàn thần, nàng


dùng tiếng đàn kiếm cơm nuôi mẹ, lấy tiếng đàn ai oán não nề nhắn gửi tới chồng Châu Tuấn… Phật đã trở thành ân nhân của vợ chồng Thoại Khanh - Châu Tuấn…
Tại sao ngày nay giàu có, sung túc, trí tuệ, hiện đại, văn minh hơn ngày xưa nhiều nhưng đạo đức thì lại ngược lại. một lý do nhà trường đang thiên về dạy chữ hơn dạy người. dạy người thì phải cần đào sâu vào kho tàng văn hóa cha ông để tìm những hạt ngọc đạo lý được lắng đọng, kết tinh trong những tác phẩm văn học dân gian như đã bàntrên.



***

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây