19. ỨNG DỤNG CÁC GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO PHẬT TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ bảy - 07/12/2019 07:01
ỨNG DỤNG CÁC GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO PHẬT TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thanh thiếu niên người chủ tương lai của đất nước. Cho nên, những vấn đề liên quan đến sự phát triển của thanh thiếu niên luôn



 

NCS. Tấn Lộc



 
Đạo đức thanh thiếu niên một đề tài toànhội đang quan tâm. Đứng trước thực trạng đạo đức thanh thiếu niên đang đi xuống, câu hỏi đặt ra làm thế nào để giải quyết vấn đề đó. Câu hỏi này không chỉ đặt ra cho riêng ngành giáo dục cho tất cả mọi nhân, tổ chức tronghội. Bài viết này khái quát lại thực trạng đạo đức thanh thiếu niên Việt Nam qua một vài ghi nhận của cácquanthẩm quyền các nghiên cứu khoa học. Điều quan trọng bài viết cũng sẽ tổng quan lại các nghiên cứu trong nước quốc tế về việc áp dụng các giá trị của đạo Phật trong giáo dục thanh thiếu niên nói chung giáo dục đạo đức thanh thiếu niên nói riêng với mục đích đóng góp thêm những bằng chứng về vai trò tích cực của đạo Phật trong công tác giáo dục đạo đức thanh thiếu niên.
luôn được hội quan tâm. Nhất trong bối cảnh giáo dục Việt Nam nói chung giáo dục đạo đức nói riêng còn nhiều bất cập, những vấn đề liên quan đến sự phát triển đạo đức của thanh thiếu niên mảng đề tài rộng được nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm đến.
Ở một số nước Phật giáo phương Đông như Thái Lan, Nhật Bn, Trung Quốcvic ứng dụng Pht giáo vào lĩnh vực giáo dục không còn một đề tài mới. Ngay cả một số nước phương Tây, Phật giáo không phải tôn giáo truyền thống ngay cả việc tiếp cận Phật giáo cũng muộn hơn nhiều so với các nước phương Đông, mãi đến thế kỷ XIX việc nghiên cứu Phật giáo mới được tiến hành một cách căn 1. Thế nhưng, việc nghiên cứu ứng dụng những giá trị của đạo Phật để giải quyết những vấn đề bức thiết của hội phương Tây, trong đó giáo dục đạo đức thanh thiếu niên rất hiệu quả.
Việt Nam, một đất nước truyền thống Phật giáo từ lâu đời (đạo Phật du nhập vào Việt Nam khoảng từ thế kỷ đầu Tây lịch2). Giáo Trần Văn Giàu nhận định rằng “Suốt một vài nghìn năm tồn tại phổ biến trên đất nước ta, Phật giáo tất đã phải in dấu ấn khá sâu sắc vào văn hóa dân tộc, phong tục nhân dân, đức tính con người, nghĩa là đến các giá trtinh thần truyn thống.3 Tuy nhiên, đứng trước thực trạng đạo đức hội nói chung đạo đức thanh thiếu niên nói riêng đang đi xuống, việc nghiên cứu ứng dụng những giá trị của Phật giáo để giải quyết vấn đề nêu trên còn rất hạn chế.
Chính vậy, bài viết này khái quát lại thực trạng đạo đức thanh thiếu niên Việt Nam. Đồng thời bài viết cũng tổng quan lại một số công trình nghiên cứu trong ngoài nước liên quan đến việc ứng dụng các giá trị của đạo Phật vào lĩnh vực giáo dục đạo đức cho



    1. Coleman, J. W. (2001), The new Buddhism: The western transformation of an ancient tra- dition, Oxford: Oxford University Press, tr.55.
    2. Nguyễn Lang (2012), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Phương Đông, tr.15.
    3. Trần Văn Giàu (2011), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.124.
 

thanh thiếu niên, từ đó cho thấy rằng việc nghiên cứu ứng dụng Phật pháp cho lĩnh vực nêu trên hiện nay rất thiết thực.
  1. THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục4, tình hình vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học sinh khá nghiêm trọng. đến 8% học sinh tiểu học thực hiện hành vi quay cóp trong thi cử tỉ lệ này gia tăngcác cấp học trên: Học sinh trung học sở 55% học sinh trung học phổ thông 60%. Hành vi nói dối cha mẹ cũng gia tăng theo cấp học: tiểu học 22%, trung học sở 50%, trung học phổ thông 64%. thế, nhận xét của hai tác giả Đặng Văn Chương Trần Đình Hùng làm cho những ai trách nhiệm phải suy ngẫm: “Càng học lên cao thì số học sinh, sinh viên vi phạm đo đức càng ng lên.5
Theo số liệu thống của Bộ Công an, trong sáu tháng đầu năm 2017, số vụ án hình sự do thanh thiếu niên gây ra 2.258 vụ6, tăng 164 vụ so với cùng kỳ của năm 20167. Còn theo số liệu thống của Bộ Giáo dục Đào tạo, khoảng 1.600 vụ học sinh đánh nhau xảy ratrong ngoài trường học trong một năm học, tính trên phạm vi toàn quốc (trung bình khoảng 5 vụ/ngày)8.
Trước thực trng đo đức học sinh đi xuống như thế, Văn png Chủ tịch nước cũng đã tiến hành khảo sát tình hình đạo đức học


  1. Trần Hữu Quang (2012), Đi tìm nguồn gốc của tình hình suy thoái đạo đức trong hội, Thời đại mới, 24, 1-30.
  2. Đặng Đình Chương Trần Đình Hùng (2012), “Vận dụngtưởng Phật giáo vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh – sinh viên Việt Nam hiện nay”, Phật giáo Kiên Giang, truy cập ngày 29-4-2018 tại địa chỉ http://www.phatgiaokiengiang.com/vn-dng-t-tng-pht- giao-vao-vic-giao-dc-o-c-li-sng-cho-hc-sinh-sinh-vien-vit-nam-hin-nay.html
  3. Chung (2017), “Báo động xu hướng phạm tội tuổi “teen””, Tin tức, truy cập ngày 10-4-2018 tại địa chỉ https://baotintuc.vn/phap-luat/bao-dong-xu-huong-toi-pham-tuoi- teen-20170929062754896.htm
  4. Anh Đức (2016), “Tội phạm vị thành niên ngày càng gia tăng”, Tuổi trẻ thủ đô, truy cập ngày 09-4-2018 tại địa chỉ http://m.tuoitrethudo.vn/toi-pham-vi-thanh-nien-ngay-cang-gia- tang-n43083.html
  5. Mai Chi (2017), “Xuống cấp về đạo đức hội: Không ngăn chặn sớm sẽ mất gốc”, Pháp luật Việt Nam, truy cập ngày 29/12/2018 tại địa chỉ http://baophapluat.vn/giao-duc/ xuong-cap-ve-dao-duc-xa-hoi-khong-ngan-chan-som-se-mat-goc-340285.html
 

đường tại 7 tỉnh thành trong cả nước với phương pháp lấy ý kiến bằng phiếu khảo sát đối với 295 giáo viên 1.494 học sinh của 22 trường từ tiểu học cho đến phổ thông trung học. Kết quả đã thể hiện rằng đạo đức của học sinh đang xuống cấp trầm trọng theo thời gian cấp học: Càng học lên cao, tỷ lệ học sinh hạnh kiểm tốt càng giảm xuống, thay vào đó tỷ lệ học sinh hạnh kiểm trung bình yếu tăng. Biểu hiện hành vi vi phạm đạo đức phổ biến nhất trốn học, gian lận trong thi cử, thiếu tôn trọng thầy giáo, ngay cả đến vi phạm pháp luật phạm tội,…9
Khi nghiên cứu về đạo đức của học sinh phổ thông trung học, tác giả Duy Hùng (2013) đã lựa chọn mẫu nghiên cứu 120 học sinh tại 3 trường phổ thông trung học ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy các hành vi vi phạm đạo đức phổ biến chửi thề, gây gổ, đánh nhau, trốn học, gian lận trong thi cử10.
Khi nghiên cứu về quản hoạt động giáo dục đạo đức học sinh tại trường trung học phổ thông Quan Lạn, tỉnh Quảng Ninh, hai tác giNguyn Văn Hà và Trn Anh Toàn (2016) đã thống kê ng loạt hành vi vi phạm đạo đức của học sinh tại trường như gian lận trong thi cử, gây gổ, hút thuốc lá, uống rượu bia, bỏ giờ trốn tiết, trộm cắp, v.v...11
cùng một chủ đề nghiên cứu của hai tác giả nêu trên, tác giả Nguyễn Thị Thi (2017) cũng đã khảo sát thực trạng đạo đức của 400 học sinh tại 5 trường phổ thông trung học tại thành phố Nội. Kết quả cũng cho thấy các hành vi vi phạm đạo đức tương tự như trên rất phổ biến12.


  1. Duong, H. (2014, April 27), “Đạo đức học đường: Quá xuống cấp!”, Lao Động, truy cập ngày 20/8/2019 tại địa chỉ https://laodong.vn/archived/dao-duc-hoc-duong-qua-xuong- cap-674515.ldo
  2. Lê Duy Hùng (2013), “Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông: Thực trạng, nguyên nhân giải pháp”, Tạp chí Khoa học Đại học phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 50, 29-37.
  3. Nguyễn Văn & Trần Anh Toàn (2016), “Quảnhoạt động giáo dục đạo đức học sinh tại trường trung học phổ thông Quan Lại, Quảng Ninh”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, 41-45.
  4. Nguyễn Thị Thi (2017), Quản giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông thành
 

Ở một phạm vi nghiên cứu rộng hơn, tác giả Đinh Thị Hồng Vân (2017) nghiên cứu hành vi lệch chuẩn của 921 thanh thiếu niên đang theo học tại các trường trung học sở trung học phổ thông ở 6 tỉnh tnh: Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên – Huế, Qung Tr, Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi phân tích số liệu từ việc điều tra bằng bảng hỏi, kết quả thể hiện hàng loạt hành vi lệch chuẩn được thực hiện, trong đó một số hành vi chiếm tỷ lệ cao như: Quay cóp; chửi nhau, cãi nhau; nói bậy; nói dối thầy cô, cha mẹ người lớn tuổi13.
Đi vào nghiên cứu sâu về biểu hiện của hành vi vi phạm đạo đức của thanh thiếu niên, tác giả Nguyễn Thị Như Trang (2017) khảo sát tình trạng bạo lực học đường của 285 học sinh phổ thông trung học ở Hà Nội bằng phương pháp quan sát tham dự, điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu. Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 40% học sinh trả lời đã từng xô xát với bạn học, trung bình cứ 5 học sinh thì 1 học sinh từng vài lần xô xát với bạn trong năm học trước. Tác giả cũng đã so sánh với kết quả nghiên cứu trong năm 2013, kết quả so sánh cho thấy việc sử dụng bạo lực học đường của học sinh xu hướng tăng lên14.
cùng mối quan tâm về đề tài nghiên cứu nêu trên, tác giả Phạm Minh Thu (2017) nghiên cứu hành vi bạo lực học đường trên mẫu gồm 198 học sinh của các khối lớp 7, 8, 9 11 tại một số trường trung học sở trung học phổ thôngthành phố Hồ Chí Minh Nội. Kết quả phân tích từ số liệu điều tra bằng bảng hỏi cho thấy hàng loạt hành vi bạo lực được thực hiện như gọi bạn bằng biệt hiệu xấu hoặc đưa bạn ra làm trò đùa, chửi nhau cãi nhau, trêu chọc chế diễu bạn, đấm, đá, xô đẩy, nói xấu bạn, v.v…15




phố Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục, Luận án Tiến Quảngiáo dục, Học viện QuảnGiáo dục.
  1. Đinh Thị Hồng Vân (2017), “Hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên”, Tạp chí Tâm học, 5 (218), 8-18.
  2. Nguyễn Thị Như Trang (2017), Bạo lực học đường từ góc nhìn của người trong cuộc: Một số vấn đề thực tiễn luận, Nxb. Đại học quốc gia Nội.
  3. Phạm Minh Thu (2017), “Hành vi bạo lực học đường của học sinh”, Tạp chí Tâm
 

Cùng nghiên cứu về khía cạnh bạo lực học đường, tác giả Phạm Văn (2018) xem xét ảnh hưởng của cảm xúc đến hành vi gây hấn của học sinh trung học sở. Tác giả đã khảo sát bằng bảng hỏi đối với 905 học sinh phỏng vấn 20 phụ huynh. Nghiên cứu được tiến hành tại 5 tỉnh thành gồm Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Nguyên. Kết quả cho thấy dù ở mức độ thấp, nhưng một bộ phận học sinh trung học sở đã hành vi gây hấn khi thực hiện hành vi đó, một số đã cảm thấy vui sướng thích thú16.
Trong khi đó, tác giNguyn Thị Nn Ái và Phạm Thị Diu Thúy (2019) tiến hành khảo sát thực trạng hành vi gây hấn đối với
1.018 học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tại 5 tỉnh thànhViệt Nam (Hà Nội, Lào Cai, Nghệ An, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên biểu hiện rối nhiễu hành vi gây hấn chiếm tỷ lệ đáng kể (14.1%) tỷ lệ học sinh nguy rối nhiễu hành vi gây hấn lên đến 72% 17.
Hành vi vi phạm đạo đức còn biểu hiệnviệc sử dụng chất gây nghiện. Tác giả Đỗ Ngọc Khanh (2019) nghiên cứu về việc lạm dụng cht gây nghin ở học sinh trung học phthông. Tác giđã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với 758 học sinh trung học phổ thông tại 3 tnh thành (Hà Nội, Thanh Hóa, Hòa Bình). Kết quả khảo sát cho thấy đến 31.8% mẫu khảo sát sử dụng chất gây nghiện18.
Hành vi vi phạm đạo đức của thanh thiếu niên không chỉ thể hiện ở môi trường học tập còn biểu hiện bên ngoài môi trường trường học. Tác giả Phan Thị Mai Hương (2016) nghiên cứu biểu hiện đặc trưng của sự cảm trong gia đình ở trẻ vị thành niên trên
1.028 học sinh trong độ tuổi từ 13 đến đến 17 tuổi ở Nội



học, 5(218), 54-66.
  1. Phạm Văn(2018), “Ảnh hưởng của xúc cảm đến hành vi gây hấn của học sinh trung học sở”, Tạp chí Tâm học, 3(228), 53-62.
  2. Nguyễn Thị Nhân Ái & Phạm Thị Diệu Thúy (2019), “Thực trạng hành vi gây hấn của thanh thiếu niên Việt Nam trong bối cảnh học đường. Tạp chí Tâm học, 1 (238), 50-62.
  3. Đỗ Ngọc Khanh (2019), “Lạm dụng chất gây nghiện các nguy nghiện chất ở học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm học, 2 (239), 67-79.
 

thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu bao gồm điều tra bằng bảng hỏi phỏng vấn cấu trúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy các dạng biểu hiện của sự cảmcác đối tượng nêu trên là: Sự ích kỷ, chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân, đòi hỏi lờ đi sự mệt mỏi, vất vả của người nhà, đặc biệt cha mẹ mình, thậm chí thể những lời nói, hành động làm tổn thương họ; Không thể hiện tình cảm yêu thương phải có, sự quan tâm cần thiết, sự giao tiếp thân mật giữa những người ruột thịt trong gia đình; Thái độ dửng dưng, đứng ngoài việc gia đình, không quan tâm chuyện xảy ra trong nhà, không tham dự vào các việc quan trọng trong gia đình, ít chia sẻ với người thân; Th u đi cảm giác lỗi, hối hận khi làm điều đó không phải với người thân; thiếu khả năng nhạy cảm để nhận biết những thay đổi bất thường của người thân trong gia đình19.
Trên sở số liệu khảo sát nêu trên của tác giả Phan Thị Mai Hương, tác giả Thúy Hạnh (2016) nghiên cứu một số mô hình dự báo sự thay đổi hành vi thực hiện việc nhà hành vi giúp đỡ người khác của trẻ vị thành niên. Nghiên cứu chỉ ra rằng học sinh càng những biểu hiện cảm trong gia đình thì càng ít thực hiện việc nhà (như lau dọn, quét nhà, sắp xếp đồ đạc, v.v...) càng ít giúp đỡ người khác.
Tình trạng xuống cấp về đạo đức của thanh thiếu niên thể do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân xuất phát từ yếu tố tâm(do sự thay đổi tâm lý lứa tuổi sự tác động của môi trường hội đến trạng thái tâm lý). Thực tế nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng những trạng thái tâmnhư lo âu, căng thẳng, hoặc trầm cảm đều liên quan trực tiếp đến những hành vi vi phạm đạo đức của thanh thiếu niên20.



  1. Phan Thị Mai Hương (2016), “Biểu hiện đặc trưng của sự vô cảm trong gia đình ở trẻ vị thành niên”, Tạp chí Tâm học, 8(209), 21-33.
  2. Barnes, V., Bauza, L., & Treiber, F. (2003), Impact of stress reduction on negative school behavior in adolescents. Health and Quality of Life Outcomes, 1(1), 1–7.
Saarni, C., Campos, J. J., Camras, L. A. & Witherington, D. (2008), Principles of emotion and emotional competence. In Damon, W. & Lerner, R. M. (Eds)., Child and Adolescent Devel- opment: An Advanced Course, 361-405. New Jersey: John Wiley & Sons.
 

Thanh thiếu niên Việt Nam cũng đang đối mặt với những vấn đề tâmnêu trên. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Thành Nam (2015), tâm trạng lo âu của học sinh trung học phổ thông đang chiều hướng gia tăng. Nghiên cứu trên 235 học sinh tại hai trường phổ thông trung học tại Nội qua phương pháp điều tra bảng hỏi phỏng vấn sâu, tác giả đã đưa ra một kết quả bất ngờ như sau: đến 25.1% trong tình trạng rối loạn lo âu, 47.2% lo âu vừa, 18.7% lo âu nhẹ,chỉ 8.9% không lo âu. nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lo âu ở học sinh phổ thông trung học, nhưng phải kể đến những nguyên nhân hàng đầu liên quan đến môi trường học tập như lo âu về quan hệ với giáo viên lo âu về các tình huống kiểm tra21.
Một vấn đề khác liên quan đến sức khỏe tâm lý của thanh thiếu niên tình trạng căng thẳng (stress). Sau khi nghiên cứu về thực trạng stress trong học tập của học sinh lớp 12 tại một trường trung học phổ thông tại tỉnh Ninh Bình, hai tác giả Thị Thu Nguyễn Thị Tâm (2015) đã chỉ ra rằng đến 29.13% trong tổng số 103 học sinh được khảo sáttrong trạng thái rất căng thẳng, 54.37% căng thẳng, chưa tới 2% không bị căng thẳng. Đáng quan ngại, tình trạng căng thẳng của học sinh không những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập còn dẫn đến những hành vi phi đạo đức như: Ngủ trong lớp, làm việc riêng trong lớp, gây gổ với bạn, quậy phá trong lớp, phản ứng thái quá với thầy giáo… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng căng thẳng cũng xuất phát từ môi



Anderson, M., Cesur, R., & Tekin, E. (2012), Youth Depression and Future Criminal Be- havior (IZA Discussion Paper No. 6577). Truy cập từ trang thông tin của the Institute for the Study of Labor (IZA) tại Bonn, Đức, https://www.nber.org/papers/w18656.
Fazel, S., Wolf, A., Chang, Z., Larsson, H., Goodwin, G. M., & Lichtenstein, P. (2015), Depression and violence : a Swedish population study. The Lancet Psychiatry, 2(3), 224–232.
Heinze, J. E., Stoddard, S. A., Aiyer, S. M., Eisman, A. B., & Marc, A. (2017), Exposure to Violence during Adolescence as a Predictor of Perceived Stress Trajectories in Emerging Adulthood. Journal of Applied Development Psychology, 49, 31–38.
Mestre, A. L., Vidal, E. M., & García, P. S. (2017), Depression and aggressive behaviour in adolescents offenders and non-offenders, 29(2), 197–203.
  1. Trần Thành Nam (2015), “Lo âu ở học sinh trung học phổ thông mối liên hệ với lòng tự trọng, động học tập, thành tích học tập”, Tạp chí Tâm học, 7 (196), 45-55.
 

trường học tập như: Lượng kiến thức phải học nhiều, làm bài thi kiểm tra nhiều, lịch học dày đặc, bị điểm thấp, v.v...22
Tình trạng căng thẳng của thanh thiếu niên còn dẫn đến nhiều hành vi tiêu cực khác ngoài những hành vi được dẫn ra trong nghiên cứu hai tác giả Thị Thu Nguyễn Thị Tâm (2015). Chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng (2015) tiến hành trên 639 học sinh tại 5 trường trung học phổ thông Nội về cách ứng phó với căng thẳng đã chỉ ra rằng bên cạnh cách ứng phó tích cực như nghe nhạc, xem tivi, nói chuyện với bạn thân, v.v... cũng một bộ phận học sinh chọn cách ứng phó tiêu cực như lập bản thân, dùng chất gây nghiện, bỏ học đi lang thang…23
Bên cạnh đó, trầm cảm vấn đề một bộ phận thanh thiếu niên đang đối mặt. Tác giả Đỗ Ngọc Khanh đã tiến hành nghiên cứu 745 học sinh phổ thông trung học tại 3 tỉnh, thành phố (thành thị, nông thôn, miền núi) bằng phương pháp điều tra bảng hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy số học sinh vấn đề về trầm cảm nặng vừa chiếm một tỷ lệ đáng kể, 12.4% tổng số mẫu lựa chọn24.
  1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC QUỐC TẾ VỀ VIỆC VẬN DỤNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO PHẬT VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH THIẾU NIÊN
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống hội Việt Nam hiện nay, tác giả Văn Đính (2007) cũng đã chỉ ra những điểm tích cực trong việc vận dụng đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên của Gia đình Phật tử, dụ: những giá trị đạo đức Phật giáo góp phần ngăn chặn tệ nạn hội xung đột ngoài đường25.

  1. Lê Thị Thu & Nguyễn Thị Tâm (2015), “Thực trạng nguyên nhân stress trong học tập của học sinh lớp 12, trường trung học phổ thông Kim Sơn B – Ninh Bình”, Tạp chí Tâm học, 9 (198), 83-88.
  2. Đỗ Thị Lệ Hằng (2015)., “Cách ứng phó với căng thẳng của học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm học, 7 (196), 65-73.
  3. Đỗ Ngọc Khanh (2018), “Biểu hiện trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm học, 5 (230), 44-59.
  4. Văn Đính (2007), “Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống hội Việt
 

Nhìn vai trò của Phật giáo đối với giới trẻmức độ rộng hơn, tác giả Hữu Tuấn (2010) xem xét ảnh hưởng của Phật giáo đối với tuổi trẻ ngày nay. Tác giả đã phân tích một số nội dung bản giáoPhật giáo như khổ nguyên nhân của khổ đặt ra câu hỏi làm sao để giới trẻ sống tốt trong thế giới ngày nay đang nhiều biến đổi. Trên nền tảng giá trị đạo đức Phật giáo, tác giả khuyến nghị tuổi trẻ phải dấn thân, đương đầu với khó khăn, phải học, hiểu thấm nhuần tưởng “sự phụ thuộc lẫn nhau” của đạo Phật và điều cần thiết thiết lập cho mình một đời sống tâm linh26.
Nghiên cứu vấn đề liên quan đến giới luật trong Phật giáo, Newman cộng sự (2006) xem xét vấn đề sử dụng rượu của thanh thiếu niên Phật tử tại Thái Lan. Sau khi tiến hành phỏng vấn 20 trường hợp cá nhân, tổ chức cho 80 học sinh tham dự phỏng vấn nhóm tập trung (mỗi nhóm từ 6-9 thành viên), và điều tra khảo sát bằng bảng hỏi đối với 2.064 học sinh phổ thông tại 3 tỉnh của Thái Lan về việc uống rượu thái độ đối với việc uống rượu. Kết quả cho thấy thanh thiếu niên thực hành năm giới ít uống rượu hơn, ít khi để rơi vào trạng thái say rượu, đồng thời có thái độ không đồng thuận với việc uống rượu27.
cùng mối quan tâm với nhóm nghiên cứu của Newman (2006), tác giả Hoàng Văn Năm (2010) đánh giá ảnh hưởng của giới luật Phật giáo trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay. Bên cạnh việc phân tích nội dung của năm giới của người Phật tử tại gia ý nghĩa của giới luật nói chung, tác giả cũng đã đưa ra những nhận định về ảnh hưởng của giới luật Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên thể hiệncác khía cạnh: Giáo dục tư tưởng đạo đức, giáo dục niềm tin tưởng đạo đức, giáo dục nghĩa vụ hành vi đạo đức28.



Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 10, 16-24.
  1. Hữu Tuấn (2010), “Đạo Phật với tuổi trẻ để sống tốt hơn trong thế giới ngày nay”,
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 2, 21-29.
  1. Newman, I., Shell, D. F., Li, T. & Innadda, S. (2006), Buddhism and adolescent alco- hol use in Thailand, Substance Use & Misuse, 41, 1789–1800.
  2. Hoàng Văn Năm (2010), Ảnh hưởng của giới luật Phật giáo trong giáo dục đạo đức thanh
 

Cũng xem xét về ảnh hưởng giới luật Phật giáo, nhưng hai tác giả Mahaarcha & Kittisuksathit (2013) lại giới hạn trong mối quan hệ giữa việc thực hành năm giới hành vi thuận hội của thanh thiếu niên Thái Lan Phật tử trong độ tuổi từ 15 đến 24. Các hành vi thuận hội được nghiên cứu bao gồm: (1) Giúp đỡ bất kỳ ai không kể người thân, (2) tỏ lòng biết ơn khi được giúp đỡ, (3) nhường người khác, (4) tha thứ cho những ai biết hối lỗi, (5) bố thígiúp đỡ người khác khi có cơ hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh thiếu niên giữ nghiêm năm giới của người Phật tử thì mức độ hành vi thuận hội cao hơn29.
Khác với Mahaarcha & Kittisuksathit (2013), hai tác giYeung
& Chow (2010) chỉ xem xét ảnh hưởng của niềm tin đối với đạo Phật của thanh thiếu niên Hồng Kônggóc độ chung. Hai tác giả đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc đối với 22 học sinh trong độ tuổi từ 13 đến 17 về ảnh hưởng của đạo Phật đến cuộc sống hàng ngày. Kết quả cho thấy rằng một số nội dung bản của Phật giáo như thuyết nghiệp báo luân hồi, buông xả, năm giới, từ bi, Bát chánh đạo, thiền đã ảnh hưởng tích cực đến đời sống của thanh thiếu niên, thể hiện qua việc các em kiểm soát được cảm xúc của mình, một cái nhìn tích cực hơn trong cuộc sống, quan hệ tốt hơn với mọi người30.
Khi nghiên cứu về vai trò của Phật giáo đối với đạo đức trong hội Việt Nam, tác giả Cao Thu Hằng (2014) lại một cách tiếp cận trực diện hơn trước thực trạng của công tác giáo dục đạo đức trong hội hiện nay. Đứng trước thực tế một bộ phận thanh thiếu niên đến chùa để trau dồi đạo đức trong thời gian gần đây, sau khi phân tích một số nội dung của đạo đức Phật giáo như lòng từ




niên Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc Triết học, Đại học quốc gia Nội-Trường Đại học Khoa học hội Nhân văn.
  1. Mahaarcha, S. and Kittisuksathit, S. (2013), Relationship between Religiosity and Prosocial Behavior of Thai Youth, Journal of Social Sciences, Humanities, and Arts, 13 (2), 69-92.
  2. Yeung, G. K. K. & Chow, W. (2010) ‘To take up your own responsibility’: The reli- giosity of Buddhist adolescents in Hong Kong, International Journal of Children’s Spirituality, 15(1), 5-23.
 

bi, tình yêu thương muôn loài, thuyết nhân quả, v.v… tác giả đặt ra những câu hỏi liên quan đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay như: phải các bài giảng đạo đức ở gia đình, hội, nhà trường không đủ cho các em hoàn thiện đạo đức? Hay giáo dục đạo đức của Phật giáo đã bổ khuyết cho những hạn chế của những chủ thể đạo đức trong hội ta hiện nay?
Để trả lời cho hai câu hỏi hỏi thẳng vào thực trạng giáo dục đạo đức trong hội hiện nay, tác giả đã phân tích các lý do Phật giáo đã làm tốt việc giáo dục đạo đức: (1) Phật giáo coi trọng việc tự giáo dục; (2) Phật giáo chú ý đến các đối tượng các biện pháp giáo dục khác nhau; (3) Phật giáo coi trọng việc thực hành31.
Liênquanđếnphươngthcgiáodục Phtgiáo, tácgiThanissaro (2018) nghiên cứu ảnh hưởng của việc thờ Phật tại nhà đối với thanh thiếu niên Anh quốc. Nghiên cứu của tác giả Thanissaro được tiến hành trên sở điều tra bằng bảng hỏi. 417 thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 13 đến 20 tham gia trả lời bảng hỏi trực tiếp được phát tại các chùa hoặc trả lời qua mạng hội Facebook. Số liệu thu thập được xử phân tích bằng phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy 70% thanh thiếu niên sống trong gia đình không gian thờ Phật tại nhà ít đến chùa hơn nhưng lại thực hành tu tập thường xuyên hơn thái độ kính trọng cha mẹ hơn. Số thanh thiếu niên trên thái độ vui vẻ tinh thần tập thể cao hơn ở trường thái độ nghiêm khắc đối với việc sử dụng các chất gây nghiện32.
Tiếp cận một vấn đề tương đối nhạy cảm đối với hội nói chung thanh thiếu niên nói riêng, tác giả Jennings đồng sự (2013) nghiên cứu việc áp dụng thiền chánh niệm để trị liệu chứng lạm dụng tình dục ở thanh thiếu niên. Bằng phương pháp tổng quan lại các nghiên cứu trong quá khứ nghiên cứu trường hợp cụ thể, nhóm tác giả kết luận trong các liệu pháp tâm lý, thiền chánh niệm


  1. Cao Thu Hằng (2014), “Phật giáo với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, 7(278), 35-42.
  2. Thanissaro, P. N. (2018), Buddhist shrines: bringing sacred context and shared mem- ory into the home, Journal of Contemporary religion, 33(2), 319-335.
 

thể được xem một liệu pháp trung tâm trong việc trị liệu lạm dụng tình dục ở thanh thiếu niên, nhưngcần được kết hợp với các liệu pháp khác33.
Quach, Mano, and Alexander (2016) lại nghiên cứu về tác dụng của thiền chánh niệm trong việc cải thiện trí nhớ của thanh thiếu niên. Đối tượng nghiên cứu những thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 12 đến 17 tuổi được chọn từ một trường trung học công lậpM. Các đối tượng này được chia làm ba nhóm: một nhóm được hướng dẫn thực hành thiền, một nhóm được hướng dẫn thực hành yoga một nhóm học giáo dục thể chất theo thời khóa biểu. Mỗi nhóm thực hành khoảng 45 phút trong giờ học giáo dục thể chất kéo dài trong 4 tuần. Ngoài ra, nhóm thực hành thiền và yoga được khuyến khích thực hành thêmnhà mỗi ngày từ 15 đến 30 phút. Số liệu thu từ kết quả quan sát thảo luận nhóm được phân tích bằng phần mềm SPSS công cụ đo trí nhớ OSPAN. Kết quả so sánh giữa thực hành thiền yoga cho thấy thiền giúp cho thanh thiếu niên phát triển trí nhớ tốt hơn. Điều đặc biệt kết quả còn cho thấy thiền còn giúp cho thanh thiếu niên giảm căng thẳng âu lo, một trạng thái tâm ảnh hưởng đến những hành vi đạo đức34.
Ditrich (2017) tiến hành nghiên cứu định tính về tác dụng của thiền Phật giáo trong việc cân bằng cảm xúc cho học sinh tại một trường trung học ở Úc. Hàng loạt câu hỏi tác giả mong muốn tìm ra câu trả lời: Học sinh trải nghiệm thiền như thế nào? Những phương pháp thiền nào học sinh cảm thấy hiệu quả nhất hoặc dễ chấp nhận nht? Trong nhng trường hợp nào và tại sao? Chương trình nh hưởng như thế nào đến khả năng hiểu biết về thân tâm của học sinh? Thiền tác dụng như thế nào đến k năng giải quyết mâu thuẫn? Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng phỏng vấn


  1. Jennings, J. L., Apsche, J. A., Blossom, P. & Bayles, C. (2013), Using mindfulness in the treatment of adolescent sexual abusers: Contributing common factor or a primary modality, International Journal of Behavioral consultation and Theraby, 8, 17-22.
  2. Quach, D., Mano, K. E. J., and Alexander, K. (2016), A Randomized Controlled Trial Examining the Effectof Mindfulness Meditation on Working Memory Capacity in Adoles- cents, Journal of Adolescent health, 58, 489-496.
 

bằng câu hi bán cu trúc. Trong suốt 12 tun học và nh thin, 8 học sinh gồm cả nam nữ được lựa chọn để phỏng vấn, mỗi trường hợp được phỏng vấn bốn lần: 03 lần phỏng vấn được tiến hành trong suốt thời gian chương trình diễn ra. Lần phỏng vấn thứ tư được tiến hành sau hai tháng chương trình kết thúc35.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết học sinh lựa chọn thiền chánh niệm trên hơi thở quán lòng từ bi làm cho học sinh cải thiện được mối quan hệ với bạn bè, gia đình thầy cô, tránh hoặc giải quyết được các mâu thuẫn. Chánh niệm lại một phương pháp thiền được vận dụng những lúc rơi vào trạng thái tinh thần không tốt. Chẳng hạn, khi học sinh bị căng thẳng, học sinh giữ chánh niệm bằng việc nương vào hơi thở, trong khi quán lòng từ bi khi gặp xung đột cá nhân bởi trong lúc đó học sinh cảm thấy tâm trạng lắng xuống.
Tiếp cận đối tượng nghiên cứu khá đặc biệt, Rawlett (2017) ng- hiên cứu về thiền chánh niệm đối với những học sinh nữ trong độ tuổi vị thành niên xuất thân từ những cộng đồng nghèo, yếm thế, gặp rủi ro cao. Những đối tượng này đối mặt với những hoàn cảnh bất hạnh: gia đình nghèo, không cha mẹ, bị xâm hại về thể chất nên mang một tâm trạng căng thẳng, nổi loạn buồn bực. Sau 6 tuần thực hành tại trường học, 22 trường hợp trong độ tuổi từ 11 đến 18 được lựa chọn để phỏng vấn. So sánh với biện pháp can thiệp y tế tại trường, không cải thiện được tình hình thì thiền đã giúp cho các bạn nữ sinh nêu trên thay đổi tâm trạng từ buồn bực, giận dữ, nổi loạn sang vui tươi, yêu đời, thư giãn36.
Carreres-Ponsoda cộng sự (2017) nghiên cứu tác động của chương trình thiền chánh niệm đến việc giảm căng thẳng cải thiện cảm xúc cho thanh thiếu niên. Đối tượng nghiên cứu 30 học


  1. Ditrich, Tamara (2017), Meditation in Modern Education: Outlining a Pilot Programme from Australia, In Dasho Karma Ura, Dorji Penjore & Chhimi Dem (Eds), Mandala of 21st Century Perspectives: Proceedings of the International Conference on Tradition and Innovation in Vajrayana Buddhism, 205-221, Thimphu: Centre for Bhutan Studies.
  2. Rawlett, K. (2017), Adolescent experience with mindfulness, JSM Health Educ Prim Health Care, 2(3), 1-3.
 

sinh trung học (15 nam 15 nữ) trong độ tuổi từ 16 đến 18. Các đối tượng nghiên cứu được chia thành 2 nhóm: Một nhóm được tham dự chương trình thiền chánh niệm ngoài giờ học nhóm còn lại không tham gia. Sau 8 tuần thực hành thiền tại trường (01 tuần thực hành 01 buổi kéo dài từ 45 đến 60 phút) khuyến khích các học sinh thực hànhnhà từ 20 đến 30 phút mỗi ngày, nhóm tác giả thu thập thông tin bằng bảng hỏi, bảng tự đánh giá, phỏng vấn với những câu hỏi mở. Sau khi phân tích số liệu, các tác giả chứng minh rằng thiền chánh niệm giúp giảm căng thẳng làm tăng cảm giác lạc quan37.
Cùng nghiên cứu về ứng dụng thiền Phật giáo, hai tác giả Bluth
& Eisenlohr-Moul (2017) xem xét thiền quán về lòng trắc ẩn đối với bản thân làm giảm căng thẳng, trầm cảm, lo âu tăng khả năng hồi phục tinh thần, lòng biết ơn, sự khám phá hay không. Đối tượng nghiên cứu 47 thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 11 đến 17, đang học sinh phổ thôngM với điều kiện chưa từng tham dự khóa thiền quán về lòng trắc ẩn đối với bản thân, khả năng đọc nói tiếng Anh, khả năng sử dụng internet. Kết quả khảo sát được thực hiện trước buổi học đầu tiên (nhóm nghiên cứu gửi bảng khảo sát qua họp thư điện tử cho học sinh). Sau 8 buổi học thực hành (không nêu thời lượng), khảo sát được tiến hành một lần nữa38.
Sau khi hai tác giả phân tích thông tin thu được bằng các công cụ đo về mức độ chánh niệm, lòng tự trắc ẩn, trạng thái căng thẳng, lo âu, trầm cảm, mức độ phục hồi tinh thần kết hợp với thang đo Likert về lòng biết ơn sự mong muốn khám phá, đồng thời so sánh kết quả phân tích giữa các lần khảo sát, đã đi đến kết luận khá thú vị như sau: Khả năng chánh niệm, mức độ về trắc ẩn đối với bản


  1. Carreres-Ponsoda, F., Escarti, A., Llopis-Goig, R. & Cortell-Tormo, J. M. (2017), The effect of an out-of-school mindfulness program on adolescents’ stress reduction and emotional wellbeing, Cuadernos de Psicología del Deporte, 17(3), 35-44.
  2. Bluth, K. & Eisenlohr-Moul, T. A. (2017), Response to a mindful self-compassion intervention in teens: A within-person association of mindfulness, self-compassion, and emo- tional well-being out comes, Journal of Adolescence, 57, 108-118.
 

thân, lòng biết ơn, mức độ phục hồi về tinh thần cải thiện, đồng thời trạng thái căng thẳng, trầm cảm, lo âu giảm đi.
  1. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
Nhìn chung, dù các nghiên cứu được tiến hànhnhiều phạm vi không gian thời gian khác nhau nhưng tất cả đều cho thấy rằng tình trạng sức khỏe tâm những hành vi vi phạm đạo đức của thanh thiếu niên đáng báo động. Về phương pháp nghiên cứu, đa số các nghiên cứu đều được tiến hành bằng sự kết hợp giữa nghiên cứu định lượng phương pháp nghiên cứu định tính cho nên kết quả độ tin cậy cao.
Từ thực trạng xuống cấp về đạo đức của thanh thiếu niên, hơn lúc nào hết việc phối hợp giữa ba yếu tố gia đình, nhà trường, hội trong việc giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên hết sức cần thiết. Thực tế, một số sở tự viện của Phật giáo trong thời gian qua đã đang chung tay trong công việc nêu trên qua việc tổ chức các khóa tu mùa hè, các khóa tu trong các dịp ngh lễ, các ngày tu học định kỳ cho thanh thiếu niên… được hội đánh giá cao. Thế nhưng, hiệu quả mang lại đến mức độ nào cần các nghiên cứu để đánh giá cụ thể, từ đó củng cố thêm niềm tin của hội đối với vai trò của Phật giáo trong lĩnh vực giáo dục nói chung giáo dục đạo đức thanh thiếu niên nói riêng.
Bên cạnh đó, qua các công trình nghiên cứu được tổng quan cho thấy rằng những giá trị của đạo Phật, từ giáo lý, giáo luật cho đến thiền Phật giáo đã có tác dụng tích cực trong việc giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên. Tuy nhiên, so với các công trình nghiên cứu của nước ngoài, các công trình nghiên cứu trong nước vẫn còn ít về số lượng hạn chế về tính thực tiễn do việc nghiên cứu chỉ dừng lạiviệc phân tích tài liệu đưa ra nhận định, chưa tiến hành điều tra khảo sát trên đối tượng cụ thể để kết luận mang tính thuyết phục.
Đối với thanh thiếu niên, một lực lượng được tổ chức Liên Hiệp Quốc xem đảm bảo cho sự phát triển bền vững của một quốc


gia39, thì một bộ phận đang đối mặt với những vấn đề về sức khỏe tâm lý. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi vi phạm đạo đức. Qua tổng quan các nghiên cứu cho thấy rằng thiền Phật giáo tác dụng tích cực trong việc khắc phục vấn đề nêu trên. Thế nhưng, việc nghiên cứu cũng như ứng dụng phương tiện này cho việc giáo dục thanh thiếu niênViệt Nam chưa được quan tâm.
Tóm lại, đạo Phật chứa đựng nhiều giá trị thiết thực cho cuộc sống nhân loại, thì không lý do phải ngần ngại áp dụng những giá trị đó để giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hiện nay, trong đó vấn đề đạo đức thanh thiếu niên.nhiên, tùy vào nền văn hóa hoàn cảnh thực tế, giá trị nào của đạo Phật được áp dụng áp dụng như thế nào thì cần những nghiên cứu cụ thể.



***


















 


  1. United Nations (2016), Young people: United Nations brief 2012-2016, truy cập ngày 26-4-2019 tại địa chỉ https://vietnam.unfpa.org/sites/default/files/pub-pdf/Final%20 UN%20Brief%20on%20Young%20People.pdf

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây