18. THIỀN TRONG TRƯỜNG HỌC Ở PHƯƠNG TÂY VÀ CƠ HỘI TẠI VIỆT NAM

Thứ bảy - 07/12/2019 06:12
18. THIỀN TRONG TRƯỜNG HỌC Ở PHƯƠNG TÂY VÀ CƠ HỘI TẠI VIỆT NAM
 
THIỀN TRONG TRƯỜNG HỌC Ở PHƯƠNG TÂY HỘI TẠI VIỆT NAM

 
ThS. Phạm Thị Ngọc Thủy




 
  1. SỰ DU NHẬP THIỀN VÀO PHƯƠNG TÂY
Từ khi tiếp xúc với Phật giáo cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, các học giả phương Tây phóng khoáng, nhất những người thuộc các dân tộc Đức, Nga, Anh, Pháp đã sớm nhận biết Phật giáo một lối sống hiền thiện dựa trên tình thương trí tuệ, khả năng mang lại cuộc sống hài hòa giữa người với người, giữa người với các sinh vật khác thiên nhiên. thể góp phần làm dịu sự khủng hoảng về niềm tin tâm linh đang gây nên những đau khổ cho người phương Tây lúc bấy giờ. Các học giả tiên phong ấy đã cố gắng truyền lối sống ấy cho dân chúng của họ, nhưng do lòng tự tôn dân tộc quan niệm cho rằng người phương Tây vẫn văn minh hơn cho nên các học giả tiên phong này vẫn chưa đạt được thành quả rệt.
Sau hai cuộc thế chiến những cuộc chiến tranh cục bộ ở thế kỷ XX, nhiều người châu Á sangtrúchâu Âu châu M, trong số họ nhiều hành giả Phật giáo sinh hoạt trong các khu vực dân cư Âu M. Điều này, đã dần làm thay đổi cách nhìn của người phương





*. Học viên Thạc Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM.
 

Tây đi với Pht giáo. Tiếp đến, nhng người Tây Tng lưu vong phải di cư đến hầu khắp thế giới phương Tây sự tích cực giao tiếp với các nhà khoa học phương Tây của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã truyền cảm hứng để các nhà khoa học nghiên cứu Phật giáo các k thuật hành trì Phật giáo một cách nghiêm túc.
Một trong những k thuật hành trì Phật giáo được người phương Tây đánh giá cao thiền chánh niệm (mindfulness meditation). Thiền (, ja. zen), gọi đầy đủ thiền na (C. 禪那, S. dhyāna,
    1. jhāna, Ja. zenna, E. meditation), thuật ngữ được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna danh từ phát sinh từ gốc động từ dhyā (hoặc dhyai). Hán-Việt Tĩnh lự (靜慮) Đà- din-na (馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Thin là để tĩnh m, gạt bỏ mọi tạp niệm để nhận thức bản ngã thế giới xung quanh một cách đúng đắn, sáng suốt nhất.1
Chánh niệm hay chính niệm (P. sammā-sati, S. samyak-smti, C. 正念, E. right mindfulness). Sammā chánh, chơn, đúng còn sati niệm, nghĩa sự chú ý, sự chú tâm, ghi nhớ những xảy ra trong hin ti. Trong chHán từ nim () được cu to bởi 2 bộ thgồm chữ kim () nghĩa bây giờ chữ tâm () nghĩa tâm thức. Th o đó, niệm trạng thái tâm ghi nhận hiện tại, mặc nhiên kéo theo tâm không hồi ức quá khứ, không rượt đuổi tương lai.2
Chánh niệm (sammāsati) được gắn với Niệm xứ (Satipaṭṭhāna), đã đề cập trong Kinh trung bộ (Majjhima nikāya): “Này các Tỷ-kheo, đây con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó Bốn niệm xứ. Thế nào bốn? Này các Tỷ-kheo,đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các


      1. https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Thiền_trong_Phật_giáo
      2. Thích Nhật Từ, Thiền Vipassana: Bốn nền tảng của chánh niệm, NXB Hồng Đức, Nội, 2018, tr.154.
 

pp, nhiệt tâm, tỉnh gc, chánh niệm để chế ngtham ưu ở đời.3
Chánh niệm cũng được giảng giải trong luận thư A tỳ đạt ma: “Khi tu tập bốn niệm trụ như vậy, các niệm, tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên không mất, khôngđễnh xao lãng, tính chất pháp không quên mất, tánh ghi nhớ của tâm tương ưng tác ý lậu, gọi chung niệm, cũng gọi niệm căn, cũng gọi niệm lực, cũng gi là nim giác chi, cũng gi là cnh nim.4
Theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa thì: “Chánh niệm ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người, những đạochân chính quý trọng cao siêu. Chánh niệm gồm hai phần: Chánh ức niệm: nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối, nghĩ nhớ đến tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam Bảo đlo o đền. Chánh quán niệm: là ng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời khổ não, tật bệnh, mờ chúng sinh đang mc phi, đmrng ng thương yêu và quyết ra tay cu đ.5
Chánh niệm một chi phần trong Bát chánh đạo (P. Ariyo aṭṭhagiko maggo, S. āryāṣṭāgamārga, C. 八正道), một trong ba giai đoạn cốt yếu trên con đường giải thoát: niệm (sati), định (samādhi), tuệ (paññā). Chánh niệm (sammāsati) đưa tới chánh định (P. sammāsamādhi, S. samyaksamādhi, C. 正定), nhưng chánh niệm không chỉ đưa tới chánh định còn dẫn tới cả chánh kiến (P. sammādiṭṭhi, S. samyagdṛṣṭi, C. 正見), chánh tư duy (P. sammā sakappa, S. samyaksakalpa, C. 正思 唯), chánh ngữ  (P.  sammāvācā,  S.  samyagvāk,  C.  正語), chánh nghiệp (P. sammākammanta, S. samyak-karmānta, C. 正業), chánh mạng (P. sammāājīva, S. samyagājīva, C. 正命) chánh tinh tấn (P. sammāvāyāma, S. samyagvyāyāma, C. 正精進).
Chánhnim(Sammāsati) ngđượcđcptrongthtgiácchi (S.


      1. Kinh Trung Bộ, tập 1, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, tr.85.
      2. A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận, Tuệ S - Nguyên An dịch, NXB Hồng Đức, Nội, 2018, tr.308.
      3. Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, quyển một, NXB Phương Đông, Nội, 2011, tr.479-485.
 

saptabodhyangāni,C.七覺支)gm:nimgiácchi(satisambojjhaga), trạch pháp giác chi (dhammavicayasambojjhaga), tinh tấn giác chi (vicayasambojjhaga), hỷ giác chi (pītisambojjhaga), khinh an giác chi (passaddhisambojjhaga), địnhgiácchi(samādhisambojjhaga), xả giác chi (upekkhāsambojjhaga).
Định nghĩa này vẫn luôn được các học giả phương Tây tôn trọng, nhưng các nhà khoa học cộng tác với Đạt Lai Lạt Ma trong Viện tâm linh Đời sống (Mind and Life Institute) đã những cố gắng tìm hiểu sâu hơn về những kết quả thiền định tác động lên não bộ của người hành thiền đi đến kết luận rằng người ta thể coi chánh niệm như một quà tặng con người sẵn, chỉ cần thực hành theo đúng hướng dẫn của đức Phật để đạt tới trạng thái tỉnh thức cho tâm, từ đó mang lại an lạc cho thân.
  1. NHỮNG NỖ LỰC ĐƯA THIỀN CHÁNH NIỆM VÀO PHƯƠNG TÂY
Thiền chánh niệm đưa vào phương Tây phải kể đến người đi tiên phonglà Daisetsu Teitaro Suzuki(Nht Bản). Suzuki(18/10/1870- 12/07/1966) sinh ra trong một gia đình Samurai, trong thời kỳ Nhật bắt đầu tiếp xúc với nền văn hóa Tây phương. Ông tu học với vị thin sư danh tiếng đương thời là Hòa thượng Tông Din. Sự nghiệp của Suzuki đã góp phần không nhỏ vào cuộc cách mạng tri thức tâm linh của thời đại. Ảnh hưởng của thiền vào phương Tây, tác động với sức mạnh sung mãn nhất của thiền lúc tàn cuộc thế chiến thứ hai, giữa sự nổi loạn của chủ nghĩa hiện sinh, vào buổi bình minh của kỷ nguyên hạch tâm điều khiển học, khi triết học tôn giáo Tây phương đang khủng hoảng khi ý thức con người bị đe dọa bởi sự tha hóa sâu sắc nhất, thì sự nghiệp ảnh hưởng nhân cách của Suzuki đã chứng tỏ vừa đúng lúc vừa hiệu quả. Ông đã đưa tuệ giác thiền đánh vào tính nhiệt tình hời hợt của phương Tây lúc bấy giờ, qua những tiếp xúc của ông với các giới phân tâm học, triết học tưởng tôn giáo.6


    1. Hạnh Viên dịch, “Tuyển tập tưởng niệm Daisetz Teitaro Suzuki 1870–1966”, truy cập tại: http://www.tuvienquangduc.com.au/Thien/40suzuki4.html
 

Thiền dựa trên nguyên tắc nỗ lực cá nhân, thích hợp với suy nghĩ của tín đồ trí thức, cộng với sự ra đời bộ Thiền luận của ông được như sự tái sinh thiền tông Phật giáo thiền lần đầu được trình bày, giảng giải đưa đến châu Âu, M dưới dạng tuyệt vời nhất, thích hợp nhất. Năm 1957, ông cùng với hai nhà phân tâm học Erich Fromm Richard de Martino đã xác định được sự liên hệ mật thiết giữa thiền tâm lý học, mở đầu cho sự khám phá mới của thiền trị liệu trong nhiều lĩnh vực của cuộc sốngphương Tây. Sự du nhập thiền của Suzuki vào phương Tây nổi bậtđiểm cốt lõi của liệu pháp phân tâm học, nhằm giải thoát con người khỏi những triệu chứng thần kinh, những ức chế những sự khác thường trong tính cách con người.7 Thiền cùng thích hợp với bối cảnh hiện giờ của phương Tây khi họ đang trải qua sự khủng hoảng trong văn hóa, khi họ xem mục đích của cuộc đời sự hoàn hảo của con người, còn con người hiện đại xem mục đích của cuộc đời sự hoàn hảo của đồ vật tri thức.
nhiên, từ sự khủng khoảng mọi mặt lúc bấy giờ ở phương Tây thì chánh niệm trong học đường tại phương Tây bắt đầu manh nha từ những trị liệu của các nhà phân tâm học. Những căng thẳng trong học tập, trong nghiên cứu nhằm đi đến đỉnh cao của tri thức phương Tây đã dẫn đến sự căng thẳng, ức chế khiến các nhà chức trách, giới khoa học, các nhà nghiên cứu cố gắng đi tìm giải pháp cho vấn đề thời đại. vậy, nghiên cứu thiền, hành trình thămtầng sâu trong tâm thức con người, cũng như tìm lời giải cho căn bệnh tinh thần thời đại đã được phương Tây làm rất tốt bằng những nghiên cứu khoa học hiện đại tính thuyết phục.
Người ảnh hưởng đến thiền Phương Tây phải kể đến Thích Nhất Hạnh, Thầy sinh ngày 11/10/1926 tại Thừa Thiên Huế, xuất gia năm 16 tuổi tại chùa Từ Hiếu, Việt Nam. Thầy được cả thế giới kính ngưỡng nhờ những lời dạy truyền cảm hứng về nghệ thuật chánh niệm. Ước mong của Thầy đem chánh niệm vào học


    1. D.T. Suzuki, Erich Fromm, R.De Martino, Thiền phân tâm học, NXB Thời đại, Nội, 2011, tr.113.
 

đường để thế hệ tương lai chúng ta được hạnh phúc thực sự, bởi Thầy quan niệm Thầy giáo hạnh phúc sẽ thay đổi thế giới” cho nên nhiều phương pháp thực hành chánh niệm của Thầy rất đơn giản đời thường thông qua các cảnh vật bình dị xung quanh, giúp vun trồng những phẩm chất tốt đẹp của cuộc sống. Phương pháp thực hành chánh niệm của Thầy Nhất Hạnh sự chú tâm, nhận diện, tìm tòi, khám phá làm phát khởi cái thấy sâu sắc bằng sự mặt cẩn trọng, đầy tình thương. Thực tập lắng nghe nhìn sâu gắn với việc học cách tiếp nhận những tri giác kinh nghiệm của bản thân, thông qua việc ý thức từng hơi thở ra một cách nhẹ nhàng, hít vào m tĩnh lng, thở ra ming mỉm cười. Chương trình đem chánh niệm vào học đường của Thầy bắt đầu từ năm 2011 đã được lan tỏa khắp các nước M, châu Âu châu Á.
Tiếp nữa Goenka, người công trong việc xiển dương pháp tu không tôn giáo, người tiên phong phát triển dòng thiền Vipassana tại Ấn Độ. Mặc dù, phương pháp thiền này nguồn gốc từ Ấn Độ đã được Đức Phật Thích Ca khám phá lại cách đây hơn 26 thế kỷ, nhưng tới thời của ông mới được đưa về phát triển nó trên đất nước của mình vào năm 1969. Phương pháp thiền Vipassana ngày nay rất phổ biến các trường học ở phương Tây đã áp dụng vào lớp học nhờ những giáo viên thực tập nó. Đường lối giảng dạy của ông hoàn toàn không tông phái nên sự giảng dạy của ông thu hút mạnh mẽ mọi người thuộc mọi giai cấp, mọi tôn giáo hoặc không theo tôn giáo từ khắp nơi trên thế giới. Hàng chục ngàn học sinh lẫn giáo chức ở Ấn Độ đều tham gia thiền thiền Vipassana hiện nay phổ biến khắp nơi trên thế giới kể cả Việt Nam.
Một trong những người nhiều nỗ lực nghiên cứu về lãnh vực này cũng phải kể đến Jon Kabat Zinn ông đã đạt tới những kết quả thể xác định được. Jon Kabat Zinn người M gốc Do Thái, nghiên cứu về sinh học phân tử đạt học vị tiếnvào năm 1971 tại MIT. Tm 1970, ông tìm hiu về thin Pht giáo ln lượt với các ngài Philip Kapleau (Hoa Kỳ), Thích Nhất Hạnh (Việt Nam) Seungsahn (Hàn Quốc). Năm 1979, ông thành lập một “Dưỡng
 

đường giảm căng thẳng” (Stress-Reduction Clinic) tại trường Y khoa Viện Đại học Masssachussett. Tại đây, ông ứng dụng chánh niệm của Phật giáo vào việc xây dựng Chương trình giảm căng thẳng thư giãn (Stress Reduction and Relaxation Program). Sau đó ông phát triển chương trình đó thành một khóa học cấu trúc kéo dài tám tuần lấy tên Giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm (Mindfulness Based Stress Reduction MBSR). Tiếp theo, cũng tại trường Y khoa Đại học Massachusetts, ông lại tnh lp Trung m ng dụng Chánh niệm trong Y khoa, Chăm sóc Sức khỏe hội (Center for Mindfulness in Medicine, Health Care, and Society), mục đích hướng dẫn các bệnh nhân cách thích ứng với những căng thẳng, đau đớn, bệnh tật bằng cách sử dụng điều được gọi “nhận thức trong từng khonh khc. Phương pp do ông đề nghị có nhng tnh công nhất định đã lan tỏa trên hầu khắp thế giới phương Tây. Nhiều nơi tổ chức các trung tâm giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm theo mô hình của ông. Giới khoa học từng bước đặt ra những biện pháp đánh giá đo đạc để kiểm chứng các kết quả cho các trung tâm như vậy đã đạt được. Một số quan chính phủ Hoa Kỳ đã ứng dụng phương pháp của Kabat Zinn để giúp nhân viên của họ giảm áp lực công việc tăng năng suất.8
  1. CHÁNH NIỆM TRONG TRƯỜNG HỌC TỪNG BƯỚC GIÀNH VAI TRÒ CHÍNH THỐNG Ở PHƯƠNG TÂY
Ngoài các khóa MBSR, nhiều nhóm chương trình nghiên cứu tại trung tâm MARC, Đại Học California, Los Angeles (UCLA) dạy thiền chánh niệm 6 tuần cho sinh viên nhân viên giảng huấn cũng như công chúng. Chương trình Integrative Health Partners Chicago dạy khóa thực tập thiền chánh niệm trong vòng 4 tuần lễ. Tại Philadelphia các khóa dạy thiền chánh niệm trong chương trình Penn Program for Mindfulness. Ngoài ra các khóa hàm thụ trực tuyến các lớp trên ti vi.
Chánh niệm đang phát triển ở quy mô tầm quốc tế như Dự


  1. https://en.wikipedia.org/wiki/Jon_Kabat-Zinn
 

án chánh niệm trong trường học “Mindfulness in Schools Project” (MiSP) ở Anh, mang tên Paws-be hướng tới trẻ từ 7 đến 11 tuổi, và .b” - phát âm “dot-be, viết tt của “Stop, breath and be!, dịch (dừng lại, thở đang là) nhằm vào trẻ em lớn tuổi hơn từ 11 đến 18 tuổi. Tại Hoa Kỳ sáng kiến MindUP, trong đó kết hợp brain breaks (ngh ngơi não) một vài lần trong ngày, đã hoạt động được 12 năm. Một chương trình khác, được gọi Quiet Time (thời gian tĩnh lặng) đã được ghi nhận với việc cải thiện việc đi học giảm một nửa việc bị đình chỉ trong một trường học gặp khó khăn tại San Francisco. Chương trình Wake Up Schools (Trường học tỉnh thc) sáng kiến khác với các trung tâm tại Pháp Hoa Kỳ… Theo một bài báo của tạp chí Times phát hành năm 2014, các buổi thực hành chánh niệm cũng đã được tổ chức ở Quốc hội M.
Tại nước Anh, chánh niệm đang ngày càng được áp dụng trong hầu hết các trường học như một phương pháp để cải thiện sức khỏe nâng cao thành tích học tập của học sinh. Mặc nguồn gốc truyền thống Phật giáo, nhưng tính phổ biến của chánh niệm trong các lớp học nơi làm việc đã được lan tỏa ngày một nhiều và đa dạng tại xứ sở sương trên thực tế, theo The Mindfulness Initiative thì: “Chánh niệm đang được sử dụng trong các trường trung tiểu học, cao đẳng đại học, để giúp trẻ em, các sinh viên ban giảng huấn cải thiện sức tập trung, sự chú ý, bản lĩnh giải quyết xung đột và khng thu cm của h.9 Tuy nhiên, cũng thy rằng đa phần những trường hợp đang áp dụng học trình chánh niệm ở Anh vẫn các trường tư. Một số tổ chức giáo dục liên quan đến chánh niệm đang hoạt động trên Vương quốc Anh thể kể đến gồm:
The Mindfulness in Schools Project (MiSP): Cung cấp tài liệu cho các trường học phù hợp với chương trình sức khỏe học đường quốc gia. Nhóm này sử dụng giáo trình riêng do họ tự soạn với khẩu hiệu .b(Stop! Breathe! Be!) “Dừng lại! Thở! Đang là!”10



  1. Mindful Nation UK, Report by the Mindfulness All-Party Parliamentary Group (MAP- PG), The Mindfulness Initiative, 2015, p.30.
  2. Ibid, p.33.
 

The Youth Mindfulness Kids Programme: Giáo trình gồm 16 bài học nhập môn về chánh niệm cho học sinh từ 7 tuổi đến 11 tuổi gồm các trò chơi, những băng ghi hình hướng dẫn những hoạt động vận động, sự nhấn mạnh đến việc học tập dựa trên kinh nghiệm. Mỗi bài học kéo dài một giờ được xây dựng tính liên tục, nhằm giới thiệu thămnhững phương diện mới của chánh niệm theo từng bài học. Mục đích của chương trình giúp học sinh nhận thức, lòng cảm thông với người khác, biết thương người, thái độ vui vẻ, hòa mình vào thực tại đời sống của lớp học.11
MindUP™: Chương trình toàn trường được xây dựng trên nền của khoa sinh học thần kinh và khoa tâm lý học tích cực, được kích hoạt bởi sự chú tâm tỉnh giác một chất xúc tác cho việc học tập về tình cảm hội. Chương trình này đi tiên phong trong việc huấn luyện cho lứa tuổi từ 4 đến 13 tuổi. Chương trình gồm 15 bài học, giúp học sinh phát triển sự hiểu biết tha nhân, khả năng tự điều chỉnh trạng thái cảm xúc của mình tập trung được sự chú ý.12
thể thấy người Anh đang tiếp tục bước những bước vững chắc để đưa chánh niệm vào học đường, hiện những cuộc nghiên cứu về kết quả của việc đưa chánh niệm vào học đường vẫn còn đang tiếp tục, nhưng trước những kết quả của thiền chánh niệm đem lại trong những lĩnh vực khác của đời sống, người ta hy vọng chánh niệm áp dụng trong học đường cũng sẽ tốt đẹp. Hiện tại theo trang tin của Đạo Phật Ngày Nay ngày 27/02/2019 cho hay, Chính phủ Anh sẽ cho triển khai thiền chánh niệm trong 370 trường học như một chương trình học tập nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần cho các em.13 Phải nói rằng, phương Tây đã thực sự biết được vị ngọt của chánh niệm, liều thuốc bổ cần thiết để học sinh tăng cường sức khỏe thân tâm không tốn bất cứ đồng nào.



  1. https://youthmindfulness.org/ym-kids-programme
  2. www.uk.mindup.org
  3. Chuyển nguồn từ phatgiao.org.vn, “Hàng trăm trường học tại Anh triển khai thử ng- hiệm thiền chánh niệm”, http://www.daophatngaynay.com/vn/tin-tuc/quoc-te/28159-hang- tram-truong-hoc-tai-anh-quoc-trien-khai-thu-nghiem-thien-chanh-niem.html, 27/02/2019.
 

4. TÌNH  HÌNH  GIÁO  DỤC VIỆT  NAMVIỆC  ĐƯA THIỀN  CHÁNH  NIỆM VÀO TRƯỜNG HỌC
Giáo dục Việt Nam đang vấn đề nhức nhối nổi cộm hiện nay. Giáo dục sẽ đi về đâu khi nhà trường chạy đua danh hiệu, phụ huynh chạy đua chọn trường, học sinh chạy đua điểm số. Cũng chạy đua thành tích các lãnh đạo nhà trường bê bối trong kỳ thi THPT Giang, Sơn La, Hòa Bình năm 2018 vừa qua, 347 bài thi bị phù phép điểm, các bài thi trắc nghiệm không thể khôi phục bài gốc, nhiều cán bộ Sở giáo dục và những người liên quan bị khởi tố pháp luật.
Bạo lực học đường ngày càng phổ biến, giáo viên bạo lực học sinh xảy racác cấp kể cả mầm non, thầy giáo đánh học sinh, học sinh đánh lại thầy giáo ngay trên bục giảng. Tại Quảng Bình, giáo viên yêu cầu cả lớp tát bạn 230 cái giáo kết thúc cái thứ 231 khiến trẻ nhập viện. Về bạo lực tinh thần, giáo viên bắt học sinh uống nước giẻ lau bảng, giáo viên bắt học sinh quỳ, phụ huynh bắt giáo viên quỳ lại xin lỗi... Bạo lực học đường xảy ra gần đây với mức độ ngày càng gia tăng, những cảnh nữ sinh áo trắng, quần trắng lao vào nhau, cảnh học sinh lớp này lớp kia trong một trường đâm chém nhau như cảnh trong phim hội đen làm đau nhói trái tim của những con người đang trăn trở cho tương lai vận mệnh đất nước. Trên đây chỉ thống đơn cử các vấn đề nổi cộm xảy ra trong năm 2018 báo chí đưa tin, ngoài ra còn biết bao vấn đề tiêu cực xảy ra tại học đường ta chưa biết kể hết.
Văn hóa tôn trọng đạo của người Việt bị mài mòn, “Tiên học lễ, hậu học văn” bị đảo ngược, đức tính nhân hậu, thật thà, cần cù, chăm chỉ bị thay thế bởi lối sống thực dụng bằng những cuộc chạy đua hình thức. Giấc mơ của người Việt công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước sánh vai với cường quốc năm châu. Giấcấy bao giờ chạm tới khi chúng ta đã thực sự đào tạo ra những nhân tài với hiện tượng thế này. Muốn xây dựng đất nước phải chú trng giáo dục bởi nn tài là nguyên khí quốc gia, thế hệ trẻ cn được chú trọng vun bồi tri thức và trí tuệ để trở thành hậu duệ tinh
 

anh, lực lượng nòng cốt cho việc phát triển đất nước. Chúng ta cần những giải pháp đúng đắn để giáo dục thực sự nền tảng của sự hưng vượng cho dân tộc Việt.
Giáo dục Việt Nam ta cần thay đổi theo chiều hướng tích cực, cần sự chung tay góp sức của nhiều người để làm nên sự nghiệp ấy. Để chánh niệm được thực hiện trong học đường, trước tiên cần sự phối hợp từ lãnh đạo nhà trường đến ngoài hội. Thiết lập nền tảng ban đầu như tổ chức khóa tu thiền chánh niệm tại các tự viện, đào tạo chánh niệm cho giáo viên, phối hợp với chính quyền giảng dạy chánh niệm miễn phí, vận động người dân tham gia tu tập chánh niệm để sức lan tỏa hiểu cách thức hành trì. Tại học đường, cần đưa chánh niệm vào chương trình hoạt động thường xuyên hàng ngày của nhà trường, cách thức sinh hoạt chánh niệmtất cả các cấp học, lúc bắt đầu học cũng như trong sinh hoạt ngoại khóa, phối hợp hỗ trợ nhau tạo nền tảng bản cho chương trình chánh niệm được vận hành suôn sẻ tốt đẹp. Cách thức thực hành chánh niệm hiệu quả nhất chánh niệm về hơi thở trong bốn lĩnh vực: Hành vi, cảm xúc, phẩm chất tâm pháp. Bởi hơi thở chánh niệm sẽ giúp các em tập trung hơn, định tĩnh hơn, chú tâm hơn trong mọi việc, ý thức đưa tâm về với hiện tại, bây giờđây, nhờ vậy tâm sẽ trở nên vững chải, đối phó với mọi giông tố của cuộc đời.
Cuộc sống với bao lo toan vất vả, khiến chúng ta sống trong quên lãng, thất niệm quá nhiều. Chúng ta bị hoàn cảnh chi phối, bị hội khuôn đúc, bị tham dục sai sử, bị sân si xâm chiếm, cũng bởi không ý thức giờ phút hiện tại mình đang nghĩ gì, nói gì, làm nên gây đau khổ phiền não cho nhau. Chính lối sốngbồ, chụp giựt vội vàng, mạnh được yếu thua làm cho con người vọng ngoại, điên đảo, tán động, phát sinh nhiều tâm bệnh. Do đó, chánh niệm lương dược cần thiết chữa lành căn bệnh thời đại, nó khả năng chuyển hướng tâm niệm cuồng vọng đảo điên, đưa chúng ta trở về thực tại với sự tỉnh thức.
Thực tập chánh niệm trong nhà trường giúp mang lại nhiều lợi ích cho cả ban lãnh đạo nhà trường, nhân viên, ban giảng huấn
 

học sinh, sinh viên. Chánh niệm k thuật hành trì mang lại lợi ích cho tất cả mọi người chứ không riêng ở trường học. Chánh niệm giúp tâm ta quay về an trú trong giờ phút hiện tại, giúp ta kiểm soát ý thức các việc đang làm, đang xảy ra, đang hiện hữu ý thức được việc quan trọng nhất trong phút giây hiện tại. thế, nhờ chánh niệm ta ý thức về sự sống của chínhmình, làm chủ được suy nghĩ, lời nói, hành động, hướng chúng vào điều thiện, điều lành để ta tạo ra cuộc sống an lành cho mình người khác. Chánh niệm giúp ta kiểm soát cuộc đời, tìm ra giải pháp tốt nhất thể trong khoảnh khắc hinti, do vậy chánh niệm lối sống hiện tiền thiết thực lợi ích, mong rằng tất cả chúng ta hãy cùng nhau thực tập vào cuộc sống hàng ngày để tận hưởng lợi ích mang lại. Ta trải nghiệm được chánh niệm tức trải nghiệm được cuộc sống tươi đẹp, đang trải nghiệm Niết-bàn14 (nibbāna) một cách thiết thực hiện tại.
Người Việt chúng ta một dân tộc luôn tự hào đã hơn 2.000 năm theo Phật giáo, vậy đến nay chưa phổ cập việc đưa chánh niệm vào cuộc sống, trong khi các nước phương Tây đi sau đã đến trước, họ gặt hái số điều lợi từ việc áp dụng chánh niệm vào học đường. Tuy nền giáo dục của chúng ta đang nhiều điều cần chấn chỉnh, nhưng chưa ai quan tâm đến việc áp dụng một vài giáocăn bản của Đức Phật vào hệ thống nhà trường. những chuyện khá đơn giản thể thực hiện không tạo ra cảm giác lớp học nơi phổ biến tôn giáo. Chẳng hạn, chỉ cần trước khi bắt đầu vào học, các học sinh để hai tay lên bàn, nhắm hờ mắt lại, hướng về phía bàn tay của mình, thở nhẹ vài hơi để tĩnh tâm trước khi đi vào chính khóa. Chắc chắn, chỉ với những động tác đơn giản ấy, các em sẽ từng bước cảm nhận được những điều sâu sắc hơn không cần phải phổ biến với các học sinh rằng đó k thuật Phật giáo. Chúng ta hy vọng rằng, trong tương lai, những điều này sẽ từng bước được áp dụng trong trường học Việt Nam.



14. Niết-bàn tưởng chung của Phật giáo, mục đích cứu cánh của đạo Phật, chỉ trạng thái tâm thức đã gột sạch hết mọi minh phiền não, sự giải thóat khỏi các kiết sử tùy miên, sự đoạn diệt hoàn toàn mọi tham ái, sự dập tắt tham sân si, cảnh giới tuyệt đối vắng lặng, giải thoát.
 

Tóm lại, thiền chánh niệm của đạo Phậtphương Đông đã mang đến cho con người hội phương Tây những giá trị quý giá cụ thể món quà quý cho các em học sinh. Vậy tại sao Việt Nam lại chần chừ, không áp dụng vào trường học? Hy vọng với những thành quả, lợi ích cái nhìn sáng suốt của phương Tây sẽ được Việt Nam học hỏi để chánh niệm thể sớm áp dụng vào thực tế học đường. Bởi giáo dục khí mạnh nhất thể thay đổi thế giới. “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, hy vọng với lợi ích của chánh niệm sẽ làm nhiều bậc phụ huynh và các thầy giáo, các cấp lãnh đạo quan tâm để cùng xây dựng hòn núi ấy - hòn núi của sự phát triển giáo dục bền vững, đầy vững vàng tự hào củadân tộc Việt Nam.



***


290
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây