18. HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ PHONG VÀGIÁODỤCPHẬT HỌCVIỆTNAMTHỜIHIỆNĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 20:52

 

HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ PHONG
VÀGIÁODỤCPHT HỌCVIỆTNAMTHỜIHIỆNĐẠI

 

NCS.SC. Thích Nữ Niệm Huệ*





GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Với chủ đề Hội thảo về Phật học Việt Nam thời hiện đại, không chỉ thảo luận những vấn đề liên quan đến nền Phật học Việt Nam trong vài thập niên gần đây, điển hình như mốc thời gian 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn liên hệ đến quá trình hình thành và phát triển nền giáo dục Phật học Việt Nam kể từ thời chấn hưng Phật giáo giai đoạn đầu thế kỷ XX cho đến nay.
Nếu như trong thời hiện tại, khi đề cập đến những thành tựu đáng kể của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, lẽ trong giới Phật học Việt Nam không ai không biết đến công lao cùng to lớn của Cố Đại lão Hòa thượng Viện trưởng sáng lp đo hiu Thích Minh Châu, và Trưởng lão Hòa thượng Vin trưởng đương nhim đo hiu Th Trí Qung. Cũng vy, trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo, chúng ta không thể không nhớ đến một trong những bậc Cao tăng đã tận tâm tận lực cống hiến cho nền giáo dục Phật học Việt Nam đó chính Hòa thượng Thích Từ Phong.


*. Nghiên cứu sinh, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 

Hòa thượng Thích Từ Phong (1864-1939) một trong những nhân vật tiên phong và công rất lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hòa thượng được suy cử làm Hội trưởng đầu tiên của Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học thành lập vào năm 19311. Với tấm lòng thiết tha đạo, Hòa thượng đã chung sức cùng chư vị Tôn túc để chấn hưng Phật giáo. Đặc biệt, Hòa thượng rất chú trọng các công tác Phật sự liên quan đến lĩnh vực hong pp giáo dục. Trong bài tham lun này, người viết sẽ trình bày những đóng góp của Hòa thượng Th Từ Phong đối với nền giáo dục Phật học Việt Nam nổi bật qua ba phương diện: kiến lập học đường, giảng dạy Phật pháp, biên soạn phiên dịch kinh sách.
  1. KIẾN LẬP HỌC ĐƯỜNG
Khi nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam thời kỳ chấn hưng đầu thế kỷ XX, chúng ta sẽ thấy trong giai đoạn này, vấn đề chính yếu cần phải giải quyết qua lời phát biểu của Hòa thượng Khánh Hòa tại “Cuộc nhóm Đại hội của Đại hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học” đó ‘Phật pháp suy vi do giáo đồ thất học’2. Đây thực trạng đau lòng của Phật giáo khiến cho chư vị Tôn túc thời bấy giờ đã nghĩ ngay đến việc làm cùng cấp thiết cần phải chấn hưng Phật học. Theo Hòa thượng Từ Phong, muốn chấn hưng Phật học không hơn là: Xây dựng học đường, giảng dạy tam tạng, hoằng truyền Thánh đạo, thuyết pháp lợi sanh, luật phong vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang3. Quan điểm này còn được trình bày hết sức ràng qua bàiKệ minh Phật học biên văn bố cáo của Hòa thượng Từ Phong như sau:
Ngày nay cao tăng chúng đức, đoàn thể liên lạc nên rồi, hiện xuất tinh thần hiệp lực, kiến lập học đường, từ học đường này, thời kết quả đặng. Tiên thánhnói: “Th chi nhất học, tối diệu tối huyền”. Một việc học này, làm đầu trước ba giới Thánh Hiền. Chư sơn tình đồng chí hợp, tôn sùng giáo pháp, trang

    1. Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm (1920-1970) chấn hưng Phật giáo Việt Nam, tr. 36.
    2. Xem thêm: Tạp chí Từ Bi Âm, kỳ thứ 5 (ngày 01/03/1932), tr. 30-36.
    3. Thích Từ Phong (1939), 《發菩提心文演義》 (Phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa) (Hán - Nôm), tr. 57a (người viết dịch).
 

nghiêm ngôi Tam Bảo lại, đạo Phật truyền phổ thông rồi, trai lành gái tín thấy vậy, đều phát tâm chánh tín, vui đẹp trong nền đạo đức, tôn giáo nhà Phật tiến phát, càng thêm tỏ rạng4.
Trong đó, vic làm được nhấn mạnh trước tiên đó là kiến lp học đường. Ở đây, từ kiến lpkng chỉ có nghĩa là xây dựng, to dựng nên một sở vật chất còn mang ý nghĩa trang trọng hơn đó là thành lập một hiệp hội, một cơ quan tổ chức hoạt động mang tính “học đường” nhằm mục đích hoằng truyền Phật pháp. Liên quan đến vấn đề này, trong Tạp chí Từ Bi Âm kỳ thứ 5 đã đề cập: Hòa thượng Từ Phong tỏ rằng 28 năm nay Ngài cũng muốn lập một hội để lo xương minh Phật học, nên thường khi Ngài thừa dịp chứng minh trường Hương hay trường Kỳ với dự đám trai đàn cúng kiến trong các chùa thì Ngài diễn thuyết, khuyên bạn đồng đạo hiệp cùng Ngài lập hội ấy5.
Thông qua đoạn văn trên, Hòa thượng Từ Phong khuyên các bậc cao tăng chúng đức hãy cùng nhau hiệp lực kiến lập học đường, phát triển học nghiệp cho hàng Tăng Ni trẻ. Đối với Phật giáo, học phương thức hữu hiệu nhất để hình thành đội ngũ Tăngtrí thức khả năng truyền Phật pháp, giúp cho Tam bảo được trường tồn trên thế gian này. Cũng nhờ đó hàng thiện nam tín nữ biết phát tâm chánh tín, nền đạo đức nhân loại được củng cố, Phật giáo càng ngày càng phát triển, ngọn đèn chánh pháp càng thêm tỏ rạng.
Đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của Hòa thượng Từ Phong cũng như chư Tôn túc lãnh đạo Tăng-già thời bấy giờ, nhằm mục đích đào tạo Tăng tài phổ biến giáođến mọi người, các hội đều mở trường dy học với danh xưng Thích học đường, “Pht học đường” v.v... Ngoài Hòa thượng Từ Phong còn các Hòa thượng khác như: Khánh Hòa, Khánh Anh, Chí Thành, Huệ Quang v. v… cũng đứng ra tổ chức các đạo tràng, các lớp học dành cho Tăng Ni tại các chùa do các ngài chủ trì giảng dạy. Riêng đối với Hòa thượng


    1. Thích Từ Phong (1939), 《發菩提心文演義》 , tr. 54a (người viết dịch).
    2. Tạp chí Từ Bi Âm, kỳ thứ 5 (ngày 01/03/1932), Sài Gòn, tr. 26.
 

Từ Phong, Ngài không chỉ trụ trì hai ngôi già lam chính chùa Giác Hải (Chợ Lớn) chùa Thiền Lâm (Gò Kén, Tây Ninh),tín đồ còn cúng dường cho Ngài nhiều cảnh chùa như: chùa Bửu Long, chùa An Thạnh, chùa Giác Quang (Vĩnh Long), chùa Linh Phong (Mỹ Tho), chùa Phú Thới (Công) v.v... Tng số tự vin các nơi cúng cho Ngài khoảng 20 ngôi.
Qua đó cho thấy, Hòa thượng Từ Phong một bậc cao Tăng thạc đức rất uy tín nên mới được Phật tử tin tưởng, tôn kính, cúng dường nhiều chùa như thế. thể nói rằng Ngài nhận nhiều chùa không phải danh vọng địa vị chỉ muốn thực hiện tâm nguyện kiến lập đạo tràng giảng kinh thuyết pháp. Xem qua hành trạng của Hòa thượng Từ Phong, chúng ta sẽ thấy trong suốt cuộc đời hành đạo của mình, với tấm lòng hy sinh đạo pháp, Ngài không quản ngại gian lao vất vả, không chỉ mở lớp tại bổn tự của mình còn đảm nhiệm trọng trách đi đến các đạo tràng khác để giảng dạy Phật pháp. Tất cả việc làm của Ngài không ngoài mục đích chấn hưng Phật học, giúp cho Tăng Ni Phật tử am hiểu Phật pháp để tu tập đạt được lợi ích an lạc cho tự thân, đồng thời góp phần giáo dục nhân cách đạo đức cho mọi người trong hội.
  1. GIẢNG DẠY PHẬT PHÁP
Với tinh thần nhiệt huyết của mình trên cương vị Hội trưởng đầu tiên của Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, Hòa thượng Thích Từ Phong đã hết lòng hy sinh đạo pháp, tận tâm tận lực cống hiến cho phong trào chấn hưng Phật giáo trong giai đoạn đầu thế kỷ XX. Một trong những công tác Phật sự nổi bật của Ngài giảng dạy Phật pháp, như trong Việt Nam Phật giáo sử luận đề cập:
Vào khoảng năm 1920, tuy tình trạng Phật giáođất Việt không sáng sủa, nhưng rải rác trong xứ vẫn còn những vị cao Tăng duy trì mnh mch của Pht pp. Ở trong Nam có Thiền Từ Phong duy trì đạo tràng Giác HảiChợ Lớn, mở lớp giảng giải Pht pp cho Tăng sĩ trong vùng6.

    1. Xem thêm: Nguyễn Lang (1996), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, tr. 17.
 

Bên cnh đó, Tiểu sdanh Tăng Việt Nam còn cho biết: Hòa thượng Từ Phong vốn người uyên bác lại tinh tấn nghiên cứu học hỏi nên Ngài sớm trở thành một Pháp tinh thông kinh điển, có tài hùng biện luôn thuyết phục người nghe. vậy ai cũng thích đến nghe pháp với Ngài7. Chính thế, thời bấy giờ các tự việnNam bộ thường liên kết thành một hội gọi Hội Lục Hòa, dựa vào hình thức mỗi lần một chùa luân phiên qua lại tổ chức hội họp nhằm tạo tình đoàn kết để phát động phong trào chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng Từ Phong thường được thỉnh thuyết giảng trong các lần hội họp đó. Ngoài ra, Ngài còn được các chùa thỉnh làm Pháp trong các dịp khai trường Hương như: Chùa Long Quang (Vĩnh Long), năm Kỷ Dậu (1909); Tổ đình Giác Lâm (Sài Gòn), năm Nhâm (1912); Chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), năm Kỷ Mùi (1919); Chùa Bửu Long (Vĩnh Long), năm Canh Thân (1920). Những dịp này hội để Ngài thể hoằng dương chánh pháp, chấn hưng Phật học một cách hiệu quả nhất theo đúng quan điểm tâm nguyện của mình như đã trình bày trong Phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa:
Giả sử các ngài để vị Phật trên đầu đội, thân này làm giàn cho Phật ngồi, đi đủ ba ngàn đại thiên thế giới, nếu như không dạy truyn chánhpháp, khuyến giáo tế đhết người đời ra khỏi xe luân hồi đường sanh tử, rốt sau rồi cái chi đền trả ânđc cho Phật, làm bảo tháp mười tầng thờ Phật, không lợi ích chi cho Phật8.
Đại ý đoạn văn trên muốn nói dù cho chúng ta thể hiện lòng tôn kính đức Phật bằng bất cứ hình thức tu tạo phước điền nào đi chăng nữa không nỗ lực hoằng truyền Phật pháp, không cứu độ chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử thì cũng không lợi íchcho đức Phật cả. Hay nói một cách đơn giản, dễ hiểu hơn như ca dao Việt Nam câu: xây chín bậc phù đồ, chẳng bằng làm phúc cứu cho mt người, đó chính là thể hin tinh thần nhập thế độ sanh của Phật giáo. Để thực hiện tinh thần nhập thế thích ứng với thời đại, Hòa thượng Từ Phong khuyên rằng:

    1. Thích Đồng Bổn chủ biên (1996), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam, tập 1, tr. 116-117.
    2. Thích Từ Phong (1939), 《發菩提心文演義》, tr. 56a (người viết dịch).
 

Bây giờ đây tôn giáo Phật, chúng ta một người chánh sứ của đức Như Lai, gắng làm cho tròn trách nhiệm đó, phải mau tu chỉnh Phật pháp lại, ứng hiện theo thời đại, mới thích đẹp nhân tình. Làm mỗi việc chi ra,chỗ lợi nước phúc dân, dìu dắt hậu lai lên đường quang minh. Bây giờ đây đã đến thời kỳ xương minh Phật học, còn để đợi chờ ngày nào nữa9.
Thông qua đoạn văn trên, Hòa thượng Từ Phong nhắc nhở hàng Tăng Ni những “người chánh sứ của đức Như Lai” rằng đã đến thời kỳ xương minh Phật học, không nên đợi chờ nữa.đây, một điểm đáng lưu ý phải “tu chỉnh Phật pháp lại, ứng hiện theo thời đi, mới thích đp nn tình. Thực tế cho thy, thời đại chúng ta đang sống thời đại của khoa học kỹ thuật, với nền giáo dục tiến bộ, hoàn toàn khác so với hội xưa kia. Phật giáo muốn tồn tại phát triển ở hội ngày nay, trước hết cần phải giáo dục đào tạo đội ngũ tri thức kiến thức chuyên môn về Phật học để hoằng dương chánh pháp.
Hơn thế nữa, tuy Phật giáo lấy sự giác ngộ giải thoát làm mục đích, nhưng sự tồn tại của Phật giáo không thể tách khỏi đời sống hội, nhất Phật giáo Đại thừa đề cao vai trò Bồ-tát hạnh, lấy tinh thần độ sanh làm sự nghiệp. Do đó, nhà giáo dục Phật giáo cần phải kiến thức chuyên môn phục vụ con người hội. Hay nói cách khác, người hoằng pháp phải người vừa trình độ chuyên môn về kiến thức Phật học vừa kiến thức hội. Kiến thức Phật học giúp cho người hoằng pháp không làm lệch đi tinh thần giáo dục của đạo Phật; kiến thức hội kiến thức giúp cho người truyền giáo hình thành những phương thức truyền giáo thích nghi đáp ứng nhu cầu cho con người hội. Hàng sứ giả Như Lai cần hội đủ hai tiêu chí về Phật học lẫn thế học như thế mới kiện toàn tinh thần ‘khế lý khế cơ’ của đạo Phật. Như vậy, thể nói giáo dục Phật giáo phương pháp giáo dục con người hoàn mỹ nhất. Giáo dục Phật giáo không phải một hệ thống giáo dục khép kín, được


    1. Thích Từ Phong (1939), 《發菩提心文演義》, tr. 55a (người viết dịch).
 

mở rộng cho mọi đối tượng mọi thời đại. Những ai muốn đến với giáo dục Phật giáo, phải đến bằng tinh thần nhập thế, nói theo ngài Từ Phong làm mỗi việc chi ra,chỗ lợi nước phúc dân, dìu dắt hậu lai lên đường quang minh”.
Nói tóm lại, chương trình giảng dạy Phật pháp của Hòa thượng Từ Phong nói riêng của chư vị Tôn túc lãnh đạo Tăng đoàn thời bấy giờ nói chung đã giúp cho phong trào chấn hưng Phật giáo đạt được những thành tựu khả quan trong công tác giáo dục, đào tạo Tăng tài, truyền tưởng Phật giáo đến mọi tầng lớp nhân dân trong hội. thể nói tinh thần chấn hưng Phật học giai đoạn đầu thế kỷ XX đã mở ra một hướng đi mới, tạo tiền đề cho nền giáo dục Phật học Việt Nam dần dần phát triển mãi cho đến ngày nay.
  1. BIÊN SOẠN PHIÊN DỊCH KINH SÁCH
Khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, triều Nguyễn độc tôn Nho học, Pht giáo bkỳ thị và suy đi tột đ. Tuy các chùa trong nước rt nhiều, nhưng hoạt động riêng rẽ, không một tổ chức, hệ thống liên lạc chặt chẽ với nhau, sự giao lưu phát triển về Phật học cũng suy giảm. Đặc biệt dưới thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia làm ba miền, trong khi chính quyền bảo hộ tìm mọi cách phát triển Công giáo thì Phật giáo Việt Nam càng bị chèn ép. Một số ngôi chùa lớn cũng bị phá hủy, Viện Viễn Đông Bác cổ sưu tập các tài liệu, di vật nhưng không nhằm mục đích truyền Phật giáo cũng góp phần làm suy giảm các kinh sách tại các chùa.
Trước tình hình xã hi có nhiu biến chuyn như thế, công cuộc đổi mới cần được xúc tiến để củng cố nền văn hóabằng ngôn ngữ thuần Việt hòa nhập cùng nền văn hóa mới. Các nhà trí thức cổ động phong trào nâng cao dân trí công việc đầu tiên phổ cp chquốc ng. Trong đó, ch Nôm là một ng to độc lập ca ông cha ta, góp phần nâng cao địa vị tiếng Việt, tác dụng trong sinh hoạt văn hóa cũng như trong việc phát triển nền văn hóa dân tộc.
Riêng đối với Phật giáo, chữ Nôm đã được chư vị Tôn túc, các 
nhà nghiên cứu Phật học sử dụng để phiên dịch tam tạng kinh điển, biên soạn kinh sách Phật giáo để phổ biến rộng rãi, giúp cho nhiều người đọc hiểu dễ dàng hơn. Trên tinh thần đó, Hòa thượng Thích Từ Phong đã sử dụng chữ Nôm kết hợp với chữ Hán để biên soạn hoặc phiên dịch, diễn nghĩa kinh sách Phật giáo, cụ thể như trong Việt Nam Phật giáo sử luận đề cập: Từ năm 1922, Thiền (Từ Phong) đã cho xuất bản bộ “Quy nguyên trực chỉ” do ông tự tay phiên dịch ra quốc ngữ”10.
Ngoài ra, Hòa thượng Thích Từ Phong còn để lại cho hậu thế một số tác phẩm khác như:
  1. Khải cáo phát minh văn
  2. Tông cnh yếu ngữ lục din nghĩa
  3. Phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa
Nhìn chung, nội dungtưởng của các tác phẩm ấy không ngoài mục đích chấn hưng Phật học, xây dựng phát triển Phật giáo Việt Nam, củng cố nếp sống tu học, hoàn thiện nhân cách đạo đức cho hàng Tăng Ni, Phật tử nói riêng cho mọi người trong hội nói chung. Những tác phẩm này không chỉ góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn học văn hóa Phật giáo Việt Nam còn giá trị ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ. thể nói so với chư vị Tôn túc cùng thời trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, Hòa thượng Thích Từ Phong một trong số rất ít các bậc Cao tăng đã đóng góp nhiều cho nền Phật học Việt Nam về phương diện giảng dạy, biên soạn phiên dịch kinh sách Phật giáo.
VÀI Ý KIẾN ĐÓNG GÓP THAY LỜI KẾT
Qua phần trình bày trên cho thấy, sự cống hiến tận tâm tận lực của Hòa thượng Thích Từ Phong về lĩnh vực hoằng pháp giáo dục không chỉ đóng góp tích cực cho phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam xưa kia còn giá trị ảnh hưởng rất lớn đối với nền


10. Nguyễn Lang (1996), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Nxb. Văn học, Nội, tr. 17.
 

giáo dục Phật học Việt Nam thời hiện tại. Thiết nghĩ, ngành giáo dục Phật giáo Việt Nam hiện nay cũng nên kế thừa phát huy sáng tạo dựa trên nền tảng ba phương diện giáo dục của Hòa thượng Thích Từ Phong:
  1. Kiến lập học đường: Tính cho đến thời điểm hiện tại, nền giáo dục Phật học Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể với hệ thống trường lớp Phật học khá quy mô bao gồm: cấp Phật học, Trung cp Pht học, Cao đng Pht học, Cao cp Pht học (Cử nn, Thạc sĩ và Tiến sĩ), các lớp đào to Ging sư Cao – Trung kể cả các lớp giảng dạy giáo lý cho Phật tử. Tuy vậy, trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, với điều kiện kinh tế tương đối phát triển so với thời kỳ trước, nhằm mục đích phục vụ tốt nhu cầu giảng dạy học tập, sở vật chất lớp học cần được trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học hiện đại như: máy tính, máy chiếu, hệ thống âm ly-micro… (điển hình như Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng một thập niên trở lại đây đã hoàn thiện khá tốt về phương diện này).
  2. Giảng dạy Phật pháp: Với vai trò người “thay Phật tuyên dương cnh pp, trước hết đi ngũ ging viên chính của các trường lớp Phật học, cụ thể chư tôn đức Tăng Ni giáo thọ cần phải am hiểu tinh thông Phật pháp, kế đến cũng nên trau dồi thêm kiến thức ngoại điển, cập nhật tri thức thời đại mới liên quan đến lĩnh vực chuyên môn để làm sáng tỏ vấn đề cần giảng dạy. Bên cạnh đó, Giáo thọ cần rèn luyện các kỹ năng về nghiệp vụ phạm, chọn phương pháp nội dung giảng dạy phù hợp với trình độ người học, giúp cho việc truyền trao tiếp nhận Phật pháp đạt hiệu quả cao. Nói đúng hơn cần chú trọng đến chất lượng đào tạo.
3. Biên soạn phiên dịch kinh sách: Hiện nay, ngành giáo dục Phật giáo Việt Nam được mở rộng trong phạm vi cả nước thông qua các trường lớp đào tạo Tăng Ni gồm cả các lớp giảng dạy giáo lý cho Phật tử. Tuy hình thức đào tạo đối tượng giáo dục khác nhau nhưng nội dung giáo dục của tất cả các chương trình Phật học nói chung đều dựa trên lời Phật dạy được lưu giữ trong Tam tạng
 

kinh điển. Như vậy, Đại tạng Kinh được dịch sang tiếng Việt chính nguồn tài liệu căn bản cho ngành Giáo dục Phật giáo Việt Nam. Thế nhưng, suy cho cùng thì Phật giáo Việt Nam hiện nay vẫn chưa được một bộ Đại tạng Kinh tiếng Việt hoàn chỉnh thật sự. Do đó, hoàn thành Đại tạng Kinh Việt Nam (gồm cả phần Tạp tạng của Việt Nam) công việc cùng cấp thiết cần được quan tâm đặc biệt. Hơn thế nữa, để được nguồn tài liệu phong phú đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy học tập của Tăng Ni Phật tử Việt Nam, một số kinh sách Phật giáo do các nhà nghiên cứu, các học giả nổi tiếng trên thế giới viết bằng tiếng Anh, Hoa, Nhật… các tác phẩm Hán Nôm của chư Tổ Việt Nam tiền bối cũng nên được phiên dịch sang tiếng Việt. Ngoài ra, việc biên soạn giáo trình, trước tác sách nghiên cứu cũng cần được ban ngành giáo dục Phật giáo giới nghiên cứu Phật học Việt Nam lưu tâm nhiều hơn.
Tóm lại, thể nói đó ba phương diện chính yếu không thể thiếu đối với nền giáo dục Phật học Việt Nam thời hiện đại. Thiết nghĩ muốn hoàn thiện tốt cả ba phương diện ấy, chư vị Tôn túc lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư Tôn đức ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương và các tỉnh tnh, Hi đồng điu nh các Học vin Phật giáo, Ban Giám hiệu các trường Phật học trên khắp ba miền đất nước cần quan tâm sâu sát hơn để giúp cho ngành giáo dục Phật giáo Việt Nam càng ngày càng phát triển.




***
 



Tài liệu tham khảo
Thích Đng Bổn chbiên (1996), Tiểu sdanh Tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành.
Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm (1920-1970) chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn.
Nguyễn Lang (1996), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, Nxb. Văn học, Nội.
Thích Từ Phong (1939), 《發菩提心文演義》 (Phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa) (Hán - Nôm).
Tạp chí Từ Bi Âm, kỳ thứ 5 (ngày 01/03/1932), Sài Gòn.


274

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây