18. GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT VÀ HỆ THỐNG PHẬT HỌC VIỆN HIỆN NAY

Thứ sáu - 06/12/2019 05:14
GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT  HỆ THỐNG PHẬT HỌC VIỆN HIỆN NAY
 
ĐĐ. Thích Trung Thun
 
  1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Sứ mệnh giáo hóa của Đức Thế Tôn mục đích hướng con người đến con đường giải thoát nỗi khổ-niềm đau. Những lời dạy của Ngài đã được kết lại thành tam tạng thánh điển, ngày nay, được các nhà nghiên cứu trên thế giới nhận xét đánh giá khác nhau. Giáo ấy như viên kim cương, tùy theo góc độ người xem nhận xét. vậy, người đánh giá Ngài như một nhà triết học, lại người nhận xét Ngài như một nhà khoa học, cũng người cho rằng Ngài nhà tâm lý học, nhà hùng biện, nhà giáo dục học…
Đối với lĩnh vực giáo dục, giáo dục khoa học về việc giáo dục con người, khoa học về sự huấn luyện đạo đức, huấn luyện trí tuệ hình thành nhân cách con người. Giáo dục khoa học của các khoa học, đào tạo nên tất cả các ngành nghề trong hội. Từ góc độ hội học, giáo dục quá trình hình thành con người dưới tác động của môi trường hội thực tại xung quanh con người. Từ góc độ giáo dục học, giáo dục quá trình hình thành mục đích hệ thống những sức mạnh về thể chất tinh thần của con người, cho từngnhân, nhằm xây dựng một cộng đồng hội, văn hóa, đạo đức, an bình thịnh trị.
 

Ngay khi đạo Phật được du nhập vào Việt Nam, đạo đức Phật giáo nhanh chóng hòa nhập vào đời sống con người hội, mỗi hành động mỗi ý tưởng của ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, đều chất liệu của Phật giáo, thấm nhuần theo nhiều lĩnh vực như: văn hóa đạo đức, vật chất lẫn tinh thần, trách nhiệm bổn phận của con người trong cuộc sống. Hòa thượng Thích Chơn Thiện đã phát thảo đôi nét về tính giáo dục như sau:
“Giáo dục thường được hiểu những làm nên văn hóa văn minh của mọi xứ sở. Các công trình sáng tạo suối nguồn của văn minh, các vai trò xây dựng phát triển xã hội của giáo dục suối nguồn văn hóa một dân tộc. Giáo dục văn hóa văn minh đều sản phẩm củaduy con người trong một thời đại, con người ước mong được an ổn, hòa bình hạnh phúc,thế văn hóa giáo dục phải đem lại an ổn, hòa bình hạnh phúc cho con người. Một hệ thống văn hóa giáo dục như thế phải được xây dựng trên cơ sở một hệ thống triết lý, tâm mẫu người giáo dục tưởng.
Các vấn đề giáo dục quan yếu này phải xuất phát từ một thuyết về nhân tính tưởng nói lên được sự thật của con người cuộc đời mối quan hệ không thể tách rời giữa con người cuộc đời.1
Qua những điều vừa nêutrên cho thấy sự nghiệp giáo dục một nguồn lực trọng yếu trong sự hình thành phát triển của hội con người nói riêng cộng đồng nhân loại nói chung theo tinh thần giáo dục Phật giáo.
Đồng quan điểm trên khi cố Đức Pháp Chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1981-1993 HT. Thích Đức Nhuận (1897-1993) trong đại hội kỳ II cũng đã kêu gọi toàn thể Tăng Ni Phật giáo đồ trong nước nước ngoài. Cùng với việc hoằng dương Phật pháp xây dựng ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam giữ đúng tinh thần lục hòa của đạo Phật đặc biệt nhất phải quan tâm bồi ỡng giáo dục Tăng Ni, đào tạo Tăng tài cho hậu thế ngày càng



    1. thuyết về nhân tính qua kinh tạng Pali, Luận án tiến Phật học của học giả Thích Chân Thiện trang đầu chương 1.
 

tăng tiến cho đạo pháp xương minh. Đồng thời phải nỗ lực đóng góp tinh thần, trí tuệ, công sức, tài vật vào công việc xây dựng quê hương đất nước, Hòa thượng nói:
“Xin quý Ngài nhớ những lời tôi đã dặn giữ gìn thân ngữ ý cho thanh tịnh, lấy giới luật của Phật làm thầy, luôn luôn giữ lục hoà, chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng nhà nước đề ra, ủng hộ lập trường hòa bình thế giới, thân thiện đoàn kết với các tôn giáo bạn, quyết tâm tu học vượt mọi khó khăn, duy trì Phật pháp, hướng lên Tam bảo, nêu gương chánh tín bài trừ tín.”2
Tất cả những Ngài cần làm đã làm xong để rồi trước khi xả bỏ thân tứ đại huyễn hóa nhưng Ngài vẫn chưa yên tâm với những lời di chỉ tối hậu truyền lưu hậu thế.
Cũng theo cố Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam với niềm ưu tư thao thức về sự nghiệp giáo dục, nội dung với phương pháp giáo dục như sau: “Sự nghiệp giáo dục chỉ thể thành ng chừng nào sự nghiệp ấy trở thành ý thức và trách nhiệm chung của tất cả mọi người, Thiếu mất ý thức và trách nhiệm này, chúng ta không thể nói đến giáo dục hay xây dựng một môi trường tốt đẹp cho con người.”3
Theo chủ trương của Ngài, tinh thần giáo dục phải được đặt trên nền tảng từ tuệ giải thoát làm căn bản, phải duy trì thật tốt để nuôi ỡng môi trường giáo dục, bởi Phật dạy trí tuệ giải thoát sẽ không hiển hiện với con người ngay lập tức, sẽ hiện diện một cách từ từ. Do đó học từ từ, hành từ từ theo từng bước một, giống như chúng ta muốn xây ngôi nhà vững chắc thì trước hết chúng ta phải xây nền móng vững chắc trước tiên vậy.
Căn cứ vào các luận điểm của các bậc tiền bối kể trên thì giá trị đạo đức, kiến thức, văn hóa và nhân cách con người được phân loại



    1. Trang đầu kỷ yếu Đức pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1897-1993), Giáo hội Phật giáo Việt Nam, PL 2538.
    2. “Một môi trường giáo dục tốt phải khởi nguồn xây dựng bởi những người có ý thức trách nhiệm” trang 3 tập vẫn thành đạo, PL 2538.
 

tốt hay xấu, thiện hay bất thiện. Đây chính con đường hai chiều giáoPhật giáo gọi nghiệp hay sự chiêu cảm của hành động ý tưởng của nghiệp: “Nghiệp là tác nhân, chủ nhân của nghiệp là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp điểm tựa, nghiệp phân chia các loại hữu tình liệt ưu”. Chữ nghiệp trong Phật giáo bao hàm một ý nghĩa rất rộng, từ hình thức đến nội dung, siêu đọa, phạm thanh, tốt xấu, hư-nên, thành-bại đều do nghiệp”.4
Những điều nêu trên cho ta thấy rằng nguồn lực từ tư tưởng rất quan trọng trong sự hình thành nền tảng giáo dục Phật giáo hiện nay.
Sự phát triển lịch sử của nền giáo dục Phật giáo đã được xác định chủ yếu qua vai trò của Phật giáo thể hiện trong một hội nhất định. Nơi đâu các hệ thống triết học tôn giáo đối lập phát triển mạnh thì Tăng đoàn Phật giáo trách nhiệm giải thích hướng dẫn con người đến chân-thiện-mỹ, giải thoát nỗi khổ-niềm đau của kiếp sống nhân sinh. Giáo dục tu viện chủ yếu nhắm vào vấn đề biện luận (debate), thảo luận (discussion), logic biện giải. Nhưng nơi đâu Phật giáo không bị thử thách được sự bảo trợ nhiệt thành của quần chúng và chính quyền thì trọng tâm của vấn đềbảo tồn phát huy giáo pháp bằng các phương thức truyền thừa đáng tin cy, đc bit là vn đề chú giải Kinh đin. Trong cả hai trường hợp, việc giáo dục cho người cư sĩ đều được duy trì bằng những thời pháp theo nhu cầu của quần chúng bao gồm việc giải thích truyền giáobằng thuật kể chuyện minh họa. Kiến thức truyền cho cộng đồng được củng cố thêm bằng phương tiện giáo dục ngắm nhìn dưới hình thức hội họa điêu khắc của tu viện.
  1. ĐỨC PHẬT ĐÃ GIÁO DỤC NHỮNG GÌ?
Các nhà nghiên cứu giáo dục Phật giáo cho rằng trong số các nhà sáng lập tôn giáo, thì Đức Phật không tự xưng mình là giáo chủ hay một thượng đế, ngài chỉ một con người như bao người khác,

  1. Kinh Trung bộ III,  tr. 474.
 

ngài càng phủ nhận ngài không phải một thiên khải nào hay một quyền năng nào khác. Đức Phật đã dạy: “tự ta chỗ nương tựa cho ta, còn ai khác thể làm nơi nương tựa?”5
Mục tiêu giảng dạy của Đức Phật khích lệ cỗ chúng ta tự tìm sự giải thoát nỗi khổ-niềm đau nhằm tạo ra con người trí tuệ, thánh thiện siêu nhiên. vậy, mục đích giáo dục của Đức Phật giúp chúng ta tăng trưởng sức mạnh của tâm thức. Với ý tưởng phát triển hiểu biết của con người, giúp con người đứng vững đôi chân của mình bằng trí tuệ, tự tin để mạnh dạn bước đi cho hết kiếp người trên đường đời đầy chông gai nghiệt ngã này. Hay nói cụ thể hơn, những lời dạy của Đức Phật nhắm tới việc xây dựng con người chân thật, theo đúng ý nghĩa của nó.
Đức Phật dạy rằng muốn thành đạt sự giác ngộ giải thoát này, chúng ta cần phải ngang qua những phương pháp tu tập, huấn luyện thân tâm, làm chấm dứt những nguyên nhân gây ra khổ đau cho con người trong đời sống hiện tại mai sau. Đây chính tinh thần hay mục đích của giáo dục Phật giáo, thể hiện tinh thần nhập thế tích cực, góp phần vào việc xây dựng một hội ấm no giàu mạnh, trong đó những thành viên những người đạo đức, tài năng, trách nhiệm nghĩa vụ đối với cộng đồng.
Theo Đức Phật, con người tâm điểm. Sự chiến tranh hay hoà bình của nhân loại từ xưa đến nay đều do con người gây ra. Vấn đề chính yếu làm thế nào để giáo dục con người thẳng tiến trên con đường phát triển trí tuệ một cách phương pháp để đem lại an lạc hạnh phúc cho mình người. Điều đó, đối với các nhà giáo dục cổ đại Ấn Độ lúc bấy giờ chỉ một giấc mơ. Mãi đến khi Siddhar- tha đạt được giác ngộ, thì giấcấy trở thành hiện thực. Đức Phật đã vạch ra con đường giáo dục cụ thể, thuyết, thực hành kết quả trí tuệ, giải thoát khỏi khổ đau thật sự từ con người, ngay trong đời sống hiện tại này. Để từ đó ánh sáng của chánh pháp tình thương trí tuệ tạo cho con người một cuộc sống yên vui, tự tại,



  1. Dhp. XII4
 

biết thương yêu tất cả không gây khổ đau cho nhau. Với một tinh thần cởi mở, bao dung truyền cảm hết sức mầu nhiệm, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa, giải thoát, nên đạo Phật truyền vào quốc gia nào cũng dung hợp được với dân tộc tính, dân tộc tình, dân tộc trí của các nước tiếp nhận để làm mới cho con người cuộc đời. Phật giáorất gần gũi với con người, đạo của con người hội loài người. Phật giáo đã rất thẳng thắn nhìn vào sự thật rằng cuộc đời vốn đau khổ đức Phật đã chỉ ra nguyên nhân của sự đau khổ, con đường đi đến cuộc sống đó “điều quan trọng là, ta dạy các thầy về sự khổ, nguồn gốc sự khổ, đạo diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Những điều đó ích, sẽ đưa các thầy đến cứu cánh của giác ngộ giải thoát”6.
Với nguồn giáo cao diệu bao hàm về cả ba phương diện: tình cảm,trí nhận thức, đạo Phật lấy con người làm cứu cánh đối tượng chính để phục vụ triển khai; lấy nhân tính làm chỉ kiến thiết một hội người công bằng thừa nhận khả năng sáng tạo của con người. Do đó đạo Phật chú trọng lấy tình thương làm động tâm xử thế, lấy trí tuệ làm ngọn đuốc soi đường cho con người hướng về chính đạo. Để từ đó ánh sáng của chánh pháp tình thương trí tuệ tạo cho con người một cuộc sống yên vui, tự tại, biết thương yêu tất cả không gây khổ đau cho nhau.
  1. tưởng giảng dạy của Đức Phật
Đức Phật một nhà giáo dục bình đẳng, Ngài tuyên bố với nhân loại rằng cánh cửa thành công đạt được con đường giải thoát phải rộng mở cho tất cả mọi người, từ nam nữ, lớn nhỏ, sang hn, cao thấp, đạo đức hay tội lỗi. Nếu ai biết cải thiện đời sống trong sch thì sđt được con đường giải thoát như đức Pht. Trong lịch sử nhân loại, đức Phật người đầu tiên phủ nhận các học thuyết vgiai cp xã hội. Trong đó, thể chế người có sức mạnh sẽ cai tr chântrong khi người yếu sức sẽ bị làmlệ. Đức Phật đã nói những giai cấp thấp tận cùng hội đứng ngang hàng địa vị của


    1. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tạp A Hàm, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1973, tr. 403.
 

những người được coi giai cấp cao nhất lúc bấy giờ thông qua tiêu chí đạo đức trí tuệ. Cũng chính Đức Phật, người đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã đưa vai trò người phụ nữ lên địa vị cao bằng cách thiết lập giáo đoàn nữ đầu tiên trong lịch sử các tôn giáo. Theo Đức Phật, nếu giá trị thật của con người nằm ở đời sống đạo đức trí tuệ thì con đường giác ngộ giải thoát không ranh giới của giới tính, chủng tộc, màu da… Bất cứ ai, một khi thực hành đúng chánh pháp sẽ chắc chắn chứng đắc được các quả vị như nhau, đạt được hạnh phúc an lạc như nhau. Chính Đức Phật đã hủy bỏ chế độ nô lệ kịch liệt phản đối hệ thống giai cấp hủ lậu đã mọc rễ sâu sa trên mảnh đất Ấn Độ. Theo Ngài con người trở thành tiện hay cao quí không phải do dòng dõi do hành vi của mình con người sinh ra không ai tiện dân, không ai La Môn do hành vi khiến họ trở thành tiện dân hayLa Môn7. Do vậy giai cấp hay màu da không làm cản trở một người muốn trở thành một Phật tử hay gia nhập tăng đoàn. Mỗinhân đều được tự do gia nhập tăng đoàn, được hưởng đối xử bình đẳng, cũng được giao những nhiệm vụ tương xứng cho dù xuất thân của họ một người chài lưới, một kẻ đổ rác, một tướng cướp hay gái giang hồ… Như cơn gió lốc thổi dồn các thứ lại một chỗ, đức Đàm giáo hóa tất cả. Trí thức, ngu si, vương giả, bần hàn, nghèo hèn, giàu sang, già cả, niên thiếu, đàn bà, đàn ông, kẻ ác người thiện, tất cả hết thảy, đức Đàm đều mang vào giáo pháp xem như nhau. Đạo của đức Đàm đạo bình đẳng, không phân biệt vậy.8 Đây phải chăng chính đường lối giáo dục bình đẳng không phân biệt, hội hiện nay cần phải học hỏi.
Sự bình đẳng của Đức Phật không chỉ dừng lạinhân loại còn lan tỏa đến muôn loài vạn vật. Ngài dạy rằng tất cả chúng sinh đều tâmtham sống sợ chết, vậy không lý do ta nỡ cướp đi mạng sống của kẻ khác, như vậy nghĩa không bình đẳng. Với quan điểm này trên bước đường du hóa, lần Đức Phật đã tự



    1. Thích Đức Nhuận, Phật học Tinh hoa, Viện Triết Việt Nam Triết học Thế giới, 2002, tr.218.
    2. Kinh Đại Báo Ân, Phật học cơ bản, tập 1, Nội, Nxb. Tôn giáo, 2003, tr. 82.
 

tay bế một chú cừu non lạc đàn tìm về với mẹ. cũng chính Ngài đã lên tiếng giải thích vạch những ngu xuẩn của bọn người mê tín dị đoan, làm lễ tế thần bằng cách hiến dâng những con thú sống để cứu lấy con vật tội thoát khỏi cái chết hỏa thiêu đau đớn chỉ một sự tin tưởng quáng.9  Như vậy, một hội ở đó sẽ không còn chiến tranh, sẽ không sự kỳ thị chủng tộc, phân biệt màu da, lãnh thổ, ở đó con người đối xử với nhau bằng tình thương thật sự.
Nếu đem đối chiếutưởng bình đẳng trong giáo dục Phật giáo vớitưởng bình đẳng trong giáo dục hiện đại thể nói không thể nào so sánh được.
  1. Giá trị những lời dạy của Đức Phật
Những lời dạy căn bản của Đức Phật dạy chúng ta giải thoát minh phiền não, giải thoát khỏi nỗi khổ-niềm đau, giác ngộ thành Phật, tức chuyển hóa cái phiền não chướng được tâm thanh tịnh chuyển hóa sở tri chướng được trí tuệ sáng suốt. Bằng một ngôn từ dễ tiếp thu đối với người chưa học Phật thì đây phải chăng hai trong ba phương diện của giáo dục thế giới hiện đại, đó giáo dục trí tuệ giáo dục tình cảm. Ngài dạy nếu chúng ta thực hiện điều đó bằng thực hành tám con đường chân chính (bát chánh đạo): 1.chánh kiến, 2.chánhduy, 3.chánh ngữ, 4.chánh nghiệp, 5.chánh mạng, 6.chánh tinh tiến, 7.chánh niệm, 8.chánh định. Qua nội dung tám con đường thực hành đó ta thấy ràng hội quan của Phật giáo đặt nền móng trên chủ nghĩa tự lợi lợi tha.
Mục đích giáo dục của Đức Phật nhằm vào con người nhiều hơn, con người tâm điểm của thế giới. Hạnh phúc hay khổ đau, hòa bình hay chiến tranh cũng từ con người mang đến. Do đó, để xây dựng một hội vững mạnh an định về kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa, giáo dục… trước tiên theo Đức Phật phải giáo dục chính con người, từ mặt vật lý, tâm lý, sinh lý, cho đến ý chí tình cảm trí tuệ. Đọc lại kinh Thiện Sanh (kinh Trường Bộ, số



9. Phật học cơ bản, Tập 1, Nội, Nxb. Tôn giáo, 2003, tr. 20.
 

16) chúng ta sẽ bắt gặp Đức Phật nói về sáu mối tương quan để xây dựng một hội tốt đẹp. Đó mối tương quan giữa cha mẹ con cái; giữa thầy trò; vợ chồng; bạn b; chủ thợ; tu sĩ cư sĩ. Trong Kinh chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành số 6 (Trường A Hàm
I) Đức Phật dạy, sở người trộm cắp, hung ác, cướp bóc do họ ngho đói. Muốn chấm dứt nạn này thì phải cải thiện đời sống cho họ, cấp hạt giống cho người dân, đầu tư cho các thương gia phải trả công thích đáng cho người làm thợ. Ngài cũng dạy, nên thay đổi chi phí cúng tế thần linh để cứu trợ cho người dân nghèo. Toàn bộ hệ thống giáo lý của đức Thế Tôn không ngoài mục đích cải tạo con người xấu thành người tốt, người tốt trở thành người tốt hơn, phàm thành thánh. Giáo dục của Phật giáo giáo dục chuyển hoá bản thân hội, trên sở tự lực của mỗi người.
Đối với đời sống của người xuất gia, Đức Phật đưa ra nhiều phương pháp để đạt được giải thoát thuận lợi nhất10. Bên cạnh đó Ngài cũng rt quan m và tôn trng sinh hot thế tục. Trong 45 năm hoạt động giáo hóa, từ những việc lớn liên quan chính trị đất nước đến những việc chi tiết như kinh tế tiêu phí của tăng đoàn chi tiêu trong gia đình của tín đồ tại gia11, từ vấn đề lớn trong hội như giai cấp chủng tính đến cụ thể về quyền lợi nghĩa vụ của vợ chồng, bổn phận giữa cha mẹ con cái, giữa bạn b, giữa chủ nhân người làm công, nhiều vấn đề hiện thực đa dạng thuộc phạm vi thế tục đều được Phật dạy đến, như kinh Hiếu tử dạy: Làm vị quân chủ thì bảo vệ non sông bốn biển, làm kẻ bề tôi thì tận trung, đem nhân đức nuôi dân, phép làm cha minh bạch, con hiếu với song thân, vợ chồng tin nhau gigìn trinh tiết.12
  1. Các phương pháp giảng dạy của Đức Phật
Đức Phật đặc biệt ca ngợi những việc làm giá trị tinh thần lẫn vật chất như săn sóc người bệnh, thiết lập phương tiện giúp người qua đường như làm thuyền bè cầu bến, nhà ngh, mở đường, tránh

    1. Phật thuyết xuất gia công đức kinh, Quyển Thượng, Đại tạng kinh, Q.16, tr.815.
    2. Chư đức phúc điền kinh, Quyển Trung, Đại tạng kinh,  Q.16, tr.777.
    3. Kinh Hiếu tử, Quyển Thượng, Đại tạng kinh, Q.16, tr.781.
 

hiểm, đào giếng nước, nhà cấp nước uống, trồng cây xanh... Điều này không phải Phật chỉ nói một lần ở một nơi nào đó nhiều lần trong nhiều pháp hội. Phật bảo Đế Thích bảy pháp bố thí rộng lớn được gọi phúc điền:
      1. Tạo lập chùa, phòng tăng, giảng đường.
      2. Tạo lập vườn cây ăn trái, hồ tắm, trồng cây bóng mát.
      3. Bố thí thuốc men, chữa bệnh cho mọi người.
      4. Làm thuyền bè giúp đỡ dân chúng.
      5. Bắc cầu giúp người qua lại.
      6. Đào giếng bên đường giúp người đi đường đỡ cơn khát nước.
      7. Làm nhà giúp cho việc vệ sinh công cộng được tiện lợi.13 Chính tưởng phúc điền này đã trở thành nguyên nhân của
hành vi lợi tha, nguyên tắc của phúc lợi hội.
Cuộc đời Đức Phật phần lớn du hóa rộng rãi khắp nơi. Từ khi thành đạo cho đến ngày đi vào đại Niết-bàn, đức Như Lai không ngng giáo dục cho nn loi. Trong suốt quá trình 45 m dài (theo kinh điển Pali) hay 49 năm (theo kinh điển Đại thừa), đức Phật đã tiếp xúc nhiều đối tượng khác nhau trong mọi tầng lớp hội, từ các nhà trí thức, đạongoại đạo, vua quan, người giàu sang, cho đến người thấp hn, hạng người sát nhân, gái giang hồ, trẻ chăn trâu, chư ma, chư thiên… khi Ngài dạy cả số đông hay một nhóm người hoặc nếu cần Ngài chỉ dạy cho một người. Sau thời giảng của Đức Phật đều người đắc được quả thánh thứ nhất cuối cùng. Phương pháp của Đức Phật nằm trên tính khế cơ, phân tích, giải thích rất tỉ mỉ nhắc đi nhắc lại nhiều lần vấn đề gạn lọc tâm ý để thiện hoá con người hội. Ngài thường dùng hình ảnh so sánh hoặc dụ chọn lọc những chúng sanh đang cần dạy liên quan đến cuộc sống hiện tại của người nghe, để giúp cho người nghe dễ dàng lĩnh hội những ý tưởng sâu sắc trong những ngôn ngữ rất




13. Kinh chư đức phúc điền, Quyển Trung, Đại tạng kinh, Q.16, tr.777.
 

mộc mạc, bình dân. như trong Kinh Tiễn Dụ số 221, Tôn giả Man Đng Tđt ra mười câu hi siêu hình để hi Thế Tôn: Thế giới thường hay thường? Như Lai tồn tại sau khi chết?” v.v... Thế Tôn đã im lặng không trả lời. Ngài nói cho Man Đồng Tử nghe câu chuyện một người bị mũi tên độc. Vấn đề cấp thiết giải phẫu để giải độc ngay, chứ không phải vấn đề tìm cho ra ngọn ngành mũi tên người bắn mũi tên, bởi lẽ người trúng tên độc sẽ thể chết trước khi biết được tông tích của hung thủ. Cũng thế, vấn đề cấp thiết của con người nhổ mũi tên “khổ đau” chứ không phải đi tìm những câu trả lời cho các vấn đề siêu hình không thiết thực. Một lần khác ở Kosambi (Tương Ưng Bộ Kinh V), Thế Tôn dy các T-kheo: “Những Như Lai biết như rừng Simsàpa, còn những Như Lai giảng dạy thì ít như nắm trong tay, nhưng đây những phương thức thoát kh.Đó là tính cht thực tin, thực tế, rt thiết thực hin tại của nhng lời giảng dy của Thế Tôn. Chúng ta còn thường thấycác kinh khác, ý nghĩa thiết thực hiện tại được Thế Tôn cắt nghĩa: quán sát tự thân, tự tâm để thấy tham, sân, si đoạn trừ. Chẳng hạn như pháp Tứ Đế, khi nào còn con người tham dục, còn đau khổ thì chânTứ Đế vẫn còn tồn tại giá trị nghìn đời. Đó một trong các ý nghĩa thiết thực nhất của bốn chânnày.
  1. Thái độ giảng dạy của Đức Phật
Với người xuất gia, Đức Phật khuyên tinh tiến tu hành. Với người tại gia Phật khuyên trước tiên phải siêng năng trong nghề nghiệp. Điều quan trọng nhất phải nắm vững chức năng của mình trong trật tự hội. Bất cứ ai, từ vua chúa, sĩ, Bà-la-môn, nông dân, thương nhân đều chức nghiệp của mình. Chức nghiệp không quý tiện. điều là người tại gia phải sở đắc tài sản bằng chức nghiệp chính đáng của mình. Các chức nghiệp chính đáng được Phật nêu ra như sau: nông nghiệp, chăn nuôi, thương nghiệp, thủ công nghiệp, kinh doanh cho thuê nhà ở, công chức, thầy giáo, thư ký, giúp việc nhà v.v…
Như đã nói ở trên, Đức Phật người đầu tiên trong lịch sử nhân loại, phản bác các chế độ giai cấp trong hội. Ngài luôn luôn nâng
 

cao tinh thần tự do bình đẳng. Ngài không bắt buộc người học chỉ rập khuôn theo Ngài, cũng không bắt buộc học chỉ nô lệ giáohoặc nô lệ chính Ngài. Những ai học với Ngài đều được quyền tự do tư tưởng. Đức Phật thường dạy các đệ tử đừng kính nể, tôn trọng Ngài nhắm mắt tin theo lời Ngài dạy. Hãy thực hành lời Ngài dạy nếu tự mình tư duy, kiểm nghiệm cảm thấy lợi ích.
Thái độ giảng dạy của Đức Phật đặt trên nền tảng trí tuệ giải thoát làm căn bản. Bởi vậy, khi tiếp nhận lời dạy của Đức Phật phải suy tư, phải tìm hiểu một cách tỉ mỉ thì mới thể lãnh hội hết ý nghĩa thâm sâu chứa đựng bên trong, nhiên lợi ích của nó lại càng to lớn hơn na. Trong kinh Kitagini (Trung Bộ 2) Đức Pht dạy người học trò chơn chánh phải: “lòng tin; đến gần; tỏ lòng tôn kính; lắng tai; nghe pháp; thọ trì pháp; suy tư ý nghĩa các pháp; chấp nhận các pháp; ước muốn sanh khởi; nỗ lực; cân nhắc tinh cần.
Đức Phật vừa một vị thầy vừa một vị cha (Thiên Nhơn chi Đạo Sư, Tứ Sanh chi Từ Phụ) của loài người loài thần linh. Ngài luôn thể hiện lòng từ mẫn thương tưởng đến tất cả chúng sanh. Ngài dẫn dắt, an ủi, nâng đỡ những mẹ bạc phước như Patàcàrà Kisàgotami. Tự tay Ngài chăm sóc cho những người bệnh hoạn, đơn như Patigatta Tissa Thera. Ngài giúp đỡ người ngho đói người bị bỏ rơi như Rujjumàlà Sopàka. Đức Phật nâng đời sống đạo đức của những hạng người tội lỗi sát nhân như Angulimàla hạng gái giang hồ hỏng như Ambapali. Ngài khuyến khích kẻ yếu hn, đoàn kết lại những người chia rẽ. Tất cả đều hưởng được những lời dạy đầy trí tuệ của Ngài. Đức Phật một vị thầy bao giờ cũng thể hiện tình thương đến những người học trò. Ngài thường sinh hoạt bên cạnh người học trò, như người báctừng sống cùng bệnh nhân, nên hiểu từng căn bệnh của bệnh nhân cho thuốc.
Đức Phật vị thầy không độc quyền, không độc đoán không độc tài lãnh đạo giáo hội. Ngài khuyên các đệ tử lớn, như Lợi Phất, Mục Kiền Liên… thu nhận đệ tử. Đức Phật ân cần truyền trao kinh nghiệm phong cách một vị thầy cho các đệ tử. Đó những
 

mối tương quan, ảnh hưởng qua lại giữa thầy trò.
Đối với người thầy Đức Phật dạy phải:
  • lòng thương tưởng đến người học trò.
  • Rèn luyện phẩm hạnh cách đạo đức cho học trò.
  • Truyn dy cho học trò đến nơi đến chốn nhng kiến thức khoa học trí tuệ của người xưa.
  • Ngợi khen học trò trước mặt các bạn b, người thân.
  • Bảo vệ học trò khỏi những nguy khốn của cuộc đời.
Ngược lại, người học trị phải thể hiện đúng bổn phận của mình: Phụng ỡng thầy chu đáo.
Đứng dậy chào khi thầy đi tới hầu hạ khi thầy cần đến. Lắng nghe lời thầy dạy với lòng tôn kính.
Thực hành những bổn phận cần thiết đối với thầy.
Hết lòng thực hiện những điều thầy dạy (nếu những điều đó đúng chánh pháp).
Những Đức Phật dạy đều phát xuất từ đời sống kinh nghiệm chứng đắc của bản thân. Sau khi thực hành hiệu quả, Đức Pht đã truyn dy lại cho chúng sanh. Trong Kinh Tăng Chi I, Đức Phật đã tán dương xác nhận Tôn giả Lợi Phất đệ tử trí tuệ đệ nhất. Cũng trong kinh này, một lần khác Đức Phật dạy: Các Tỷ- kheo mong cầu một cách chân chánh, sẽ mong cầu như sau: “Mong rằng ta sẽ như Lợi Phất Mục Kiền Liên. Đây cán cân, này các Tỷ kheo, đây đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ kheo của ta, tức là Xá Lợi Pht và Mục Kin Liên. Tôn giXá Lợi Pht và Mục Kin Liên thường thay mặt Đức Phật giảng dạy hoặc hướng dẫn trực tiếp đại chúng các Tỷ kheo trẻ tuổi.
Tóm lại, Đức Phật một vị thầy tấm lòng bi mẫn rộng lượng khoan hồng hơn tất cả. Đức Phật đã truyền dạy cho chúng ta những ý chí sắt đá, trí tuệ cao siêu, đức vị tha phục vụ, sự thoát
 

ly chưa từng có, hay sống đời gương mẫu, làm lợi lạc cho mình người và cả hai. Phương pháp toàn thiện mà Đức Phật đã truyền cho chúng ta nhiều kết quả mỹ mãn. Con người đại đó, tấm lòng bao dung đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của Đức Phật đã khiến muôn nghìn trái tim của nhân loại hướng về Ngài tôn kính Ngài như một đạo siêu việt nhất trong lịch sử nhân loại. Như Sri Radhakrishnan nói: Nơi Đức Phật Cồ-đàm ta nhận thấy một tinh hoa toàn thiện của phương Đông. Ảnh hưởng Ngài trong tưởng đời sống nhân loại một kỳ công hi hữu, cho đến ngày nay không thua kém của bt cvgo chnào trong lch s.
  1. HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY
Nền tảng giáo dục Phật giáo vốn tự bao đời. Ngay khi đạo Phật được du nhập vào đất nước Việt Nam, đạo đức Phật giáo nhanh chóng hòa tan vào đời sống con người hội, mỗi hành động mỗi ý tưởng của ngôn ngữ sinh hoạt đời thường, đều chất liệu của Phật giáo thấm nhuần theo từng lĩnh vực: văn hóa đạo đức, vật chất lẫn tinh thần, trách nhiệm bổn phẩn của con người trong cuộc sống.
Trong xã hi hin nay, đi với Pht giáo Vit Nam thì ngành giáo dục Phật giáo được xem vị trí hàng đầu, tính quan trọng song của nó trong chiến lược duy trì, củng cố phát huy Giáo hội, giúp phần làm đẹp nền giáo dục hội nói chung.
Hệ thống giáo dục của Phật giáo Việt Nam hiện nay được thành lập trên nhiều phương diện, cấp độ, tuỳ theo tình hình cụ thể của từng đối tượng.
  1. tưởng giáo dục
tưởng giáo dục mở đầu cho một quá trình kiến tạo xây dựng gia đình hội, cải tạo hoàn thiện nhân cách con người nói theo nghĩa hẹp, bàn rộng trên các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học tôn giáo... Giáo dục tư tưởng chính yếu tố để tác thành một quy trình cuộc sống kỷ cương, một cộng đồng nhân loại tự do bình đẳng một thế giới hoà bình sống trong tình yêu
 

thương tất cả muôn loại vạn vật, vậytưởng giáo dục một công trình đại của nhân loại, nhất những nhà lãnh tụ dân tộc những nhà phát minh khoa học những nhà đại cách mạng của tôn giáo v.v…
  1. Về mục đích của giáo dục
Nhận định của HT. Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Học viện Pht giáo Vit Nam tại TP.HCM như sau: Giáo dục Tăng Ni là Pht sự quan trng ng đu của Giáo hội.
Hòa thượng nói thêm về tầm quan trọng của công tác giáo dục Tăng Ni trong cuộc phỏng vấn của Báo Giác ngộ, Hòa thượng cho biết:
  • Đối với Phật giáo, một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự hưng thịnh đó chất lượng của Tăng Ni. Chùa chiềnxây dựng to lớn như thế nào, nhưng nếu không Tăng Ni tu tập hướng dẫn Phật tử theo đúng Chánh pháp của Phật thì ngôi chùa cũng không ý nghĩa.
Tuy nhiên, nếu Tăng Ni không được đào tạo, thiếu sự tu học thì Phật giáo cũng khó phát triển được. Do vậy, Phật sự giáo dục Tăng Ni luôn được chư vị tiền bối quan tâm, xem đó một trong những công việc quan trọng hàng đầu của bất cứ tổ chức Phật giáo,bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào.
Từ nửa đầu thế kỷ XX, Tổ Khánh Hòa đã đặt vấn đề phải mở trường đào tạo Tăng Ni, xem đó một trong bốn nội dung căn bn để chấn hưng Pht giáo ở nước ta. Trước đây, chư tôn đức tin bối đã chủ trương xây dựng các Phật học viện, Phật học đường đào tạo Tăng tài, song song với đào tạo truyền thống sơn môn, tổ đình, hệ phái.
Nhận định về giáo dục trong thực tại Ngài cũng đồng quan điểm với Krishnamurti, nghĩa sự đào tạo con người mới, hay con người toàn diện chỉ bằng tiêu chuẩn khoa học hay đạo đức hiện đại thì
 

sự thích nghi đó chỉ dẫn đến kết quả: hoặc thiên thần, hoặc quỷ sứ, hay siêu nhân người máy. Không thể đảm bảo sự tồn tại chỉ một cách phản ánh nhất thời.
    1. Hệ giáo dục phổ cập
Đây hệ giáo dục Phật học dành cho Phật tử tại gia, bao gồm các trung tâm thuyết pháp, giảng dạy giáotrên toàn quốc, cho mọi đối tượng, trình độ giới tính. Hệ giáo dục phổ cập chỉ nhằm đáp ứng những phổ thông phổ quát nhất cho các Phật tử, chưa điều kiện đáp ứng theo nhu cầu cho từng lứa tuổi, giới tính trình độ, phổ cập chỉ hàm ý những chung nhất, cần thiết nhất mọi người cần phải có, để sống làm việc đúng chánh pháp. Chắc chắn rằng trong tương lai gần, ngành giáo dục Phật giáo sẽ đầunghiêm túc vào hệ giáo dục phổ cập này bằng cách thích ứng kịp thời soạn thảo nhiều chương trình học khác nhau, phù hợp từng đối tượng, trình độ... Giáo hội nên biên soạn giáo án mang tính phạm khoa học cho thiếu nhi, cho thanh thiếu niên, cho thanh niên, cho người tuổi, cho người mới theo Đạo cho người mới phát tâm. Sự thích hợp từng lứa tuổi, trình độ giới tính tính phạm cần thiết, góp phần làm tăng hiệu quả giảng dạy của giảng sư, pháp sư, đó những vấn đề bức xúc hiện nay, cần được quan tâm thực hiện.
    1. Hệ giáo dục dành cho giới xuất gia
Để những thành tựu hiện hữu đối với nền giáo dục Phật giáo Việt Nam, ngày nay hầu như các tỉnh thành trên cả nước đều thành lập các trường Phật học, từ các lớp cấp cho đến cấp đại học. Hệ giáo dục này dành cho đối tượng các Tăng Ni sinh với các trình độ thế học từ cấp 1 cho đến cấp 3.
    1. Nội dung chương trình và giáo trình giảng dạy
      1. Nội dung chương trình giảng dạy Nội điển:
- Kinh, Luật, Luận (Giới, Định, Tuệ) của 3 hệ thống Kinh tạng (Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ Nhất thiết hữu bộ; Pàli, Sanskrit Hán tạng).
 
 
  • Lịch sử Phật giáo: Lịch sử Đức Phật, chư đại Bồ tát; lịch sử truyền bá, phát triển.
Ngoại điển:
  • Văn hóa, văn học Phật giáo lịch sử dân tộc;
  • Ngoại ngữ: Anh văn, Hán văn, cổ văn như Pàli, Sanskrit;
  • Công dân giáo dục
  • Một số môn học ngoại khoá vềtưởng, văn minh, khoa học môi trường.
Văn hóa phổ thông: cấp 1, cấp 2 cấp 3.
      1. Cấp học thời gian
- cấp: 2 năm.
  • Trung cp: 4 m.
  • Học viện Phật giáo Việt Nam: - cử nhân: 4 năm.
  • Cao học, thạc sĩ: 2 năm.
  • Tiến sĩ: 3-5 năm.
    1. Giáo trình (Trung cấp Phật học và Học viện Phật giáo)
      1. Trung cp I:
Giới học: (3 giờ/tuần)
  • Ngũ giới, Thập thiện giới, Bát quan trai giới, Sa di & Sa di Ni giới. Định học: (2 giờ/tuần)
  • Hiểu hành Tỳ ni nhật dụng thiết yếu
  • Bước đầu thực tập tọa thiền Tuệ học: (3 giờ/tuần)
Cảnh sách văn, kinh Thập Thiện, kinh Tứ Thập Nhị Chương, kinh Di Giáo, ngôi Tam bảo, Tam pháp ấn (3 pháp ấn – 4 pháp ấn), nhân quả, nghiệp, luân hồi, tứ nhiếp pháp, tứ đại, lục xứ… kinh Bát Đại Nhân Giác, kinh Pháp Cú, Phật giáo sử, lịch sử đức Phật từ
 

sanh đến nhập diệt, lịch sử thành lập Tăng già thời Đức Phật, lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ du nhập đến hết thế kỷ IX Tây lịch).
      1. Trung cp II:
Giới học: (2 giờ/1 tuần) Định học: (2 giờ/1tuần)
  • Tng quát về 37 phẩm trđo; m trin cái và m thin chi, cửu định, tứ niệm xứ Bát thánh đạo, thiền công án.
Tuệ học: (3 giờ/tuần)
  • Nhân quả, nghiệp, luân hồi, năm uẩn ngã, duyên khởi ngãcác thuyết duyên khởi, Bồ tát hạnh - lục độ Ba La Mật, thập địa Bồ tát, thập kiết sử; Phật giáo Việt Nam.
      1. Cử nhân Phật học Giới học
Định học Tuệ học
Kinh Kim Cang, kinh Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh Lăng Già, Duy Thức; Thanh tịnh đạo luận (của Buddhaghosa), Thắng pp tập yếu lun, Câu Xá Lun, Đại trí độ lun, Trung lun, Nn Minh Luận, Lăng Nghiêm, Lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Ngoài ra, nhiều tài liệu nghiên cứu khác sẽ lần lượt được Ban giáo dục Trung ương biên son và dịch cho cp đại học Pht học.
Tóm lại, đối với Phật giáo, giáo dục không phải điểm dừng điểm xuất phát của quá trình giáo dục. Mục đích giáo dục Phật học chính toàn bộ giáo dục được đầubằng chất xám, phương pháp phạm lòng nhiệt tâm của người thầy, kết quả là, đào tạo một mẫu Tăng Ni sinh lý tưởng nhất của giáo hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định.
Mục tiêu giáo dục Phật học cần đạt được trang bị cho Tăng Ni sinh thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo; đạo đức phạm
 

hạnh, văn huệ, huệ, tu huệ, giải thoát giải thoát tri kiến; lột bỏ mọi kiến hoặc,hoặc; hình thành chánh kiến giải thoát. Mục tiêu giáo dục Phật học đòi hỏi rất lớn, quyết định suốt cuộc đời giác ngộ chính mình ở hiện tại tha nhântương lai. Giác ngộ chính mình tự giáo dục, giác ngộ tha nhân tha giáo dục.
  1. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠO PHẬT CHO NỀN GIÁO DỤC HIỆN NAY
Thật sự rất ít người biết đến sự đóng góp của Phật giáo cho nền giáo dục. Ngay cả trong các quốc gia Phật giáo, nơi truyền thống giáo dục nguyên thủy đã đang hiện hữu trong nhiều thế kỷ, các hệ thống giáo dục hiện thời, hoặc không sự phát triển trực tiếp từ truyền thống quá khứ hoặc cũng không phát triển trong bất cứ phương thức nào liên quan tới nó. Truyn thống giáo dục Pht giáo gần như đã bị thay thế toàn bộ nhưng may thay trong quá khứ còn vài trung tâm tự viện vẫn được duy trì các tổ chức huấn luyện các Tỳ kheo, sa di cư sĩ.
Điều quan trọng cho việc xác định đặc tính, phẩm chất của nền giáo dục không chỉ dựa trên nét nổi bật của lịch sử. Từ quan điểm hiểu biết của chúng ta về sự đóng góp đa dạng, Phật giáo đã cống hiến nhiều lợi ích của nhân loại. vậy, tính chất thích ứng hợp thời hơn vẫn ngày nay nên thực hiện sự khảo cứu này.
Nhiều người đã thất vọng về kết quả của nền giáo dục hiện đại nhiềudo. Nguồn gốc sai lạc của nền giáo dục hiện đại kết quả thiếu thích nghi với mẫu mực văn hóa các giá trị của con người các nguyên nhân cho mối quan tâm trong các quốc gia này bởi vừa bị giới hạn do các năng lực thuộc địa giới hạn bởi các lực lượng khác của sự hiện đại hóa vay mượn mô hình phương Tây. Sự bành trướng của nền giáo dục này đã gây nên toàn bộ những rắc rối kinh tế hội, đã chứng tỏ rằng các chính sách giáo dục hiện thời nhìn chung đã không còn thích hợp hữu hiệu nữa.
Những quốc gia sự giánđn như vậy trong truyền thống hoặc suy sụp giá trị văn hóa đã không xảy ra một cách đột ngột, trong khi đó thật đáng sửng sốt trong nhiều quốc gia nền giáo dục hiện
 

đại căn bản lại từ bỏ để khao khát tìm cầu một cái mới. Tình trạng bất ổn trong số hình thức, được tóm tắt như sự băn khoăn của giới trẻ hoặc sự khác nhau vềtưởng giữa thế hệ đi trước thế hệ tiếp nối,thể được giải thích trong nhiều cách khác nhau. Nhưng sự thất bại giáo dục không chỉ trong mối liên quan đến giới trẻ khó tính còn đối với thế hệ lớn tuổi nghiêm khắc hầu như không thể giải quyết, đó chính nguyên nhân nổi bật nhất.
Truyn thống giáo dục Pht giáo có thể đáp ứng trong vic tìm cầu phương thuốc cho nguyên nhân tệ nạn giáo dục đang lan rộng, 25 thế kỷ của thực nghiệm Phật giáo nên được xem xét cho việc vạch ra nguyên tắc chỉ đạo này.
Ngay lúc ban đầu cần nên làm sáng tỏ những chúng ta đang tìm kiếm các khái niệm, thể thức, phương pháp sự tiếp cận thực tiễn của giáo dục Phật giáo, thể được nhấn mạnh vào việc phục vụ trong cuộc giao tranh của thế giới hiện đại. Nói cách khác, chúng ta không bắt đầu với một luận điểm, tuy nhiên chắc chắn rằng điều đó thể xảy ra. Thông điệp tinh thần của Đức Phật biểu hiện những giải pháp cho các vấn đề kinh tế hội ngày nay do đó các hệ thống giáo dục nên được chuyển hóa để truyền thông điệp này. Thay vậy, chúng ta sẽ chỉ tập trung chú ý trên phương diện hình thức trong mô hình dạy học đã phát triển trong giới Phật giáo yêu cầu chính chúng ta điều xứng đáng trong những kinh nghiệm này cho chúng ta trong 25 năm cuối của thế kỷ XX này không?
Đây không phải một tài liệu nghiên cứu rộng rãi về chủ đề này. Mục tiêu nhắm đến để phát triển những nguyên tắc chung của một vài chủ đề liên quan chủ đề đó sẽ hướng dẫn sự chú ý đến nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu vào lĩnh vực đặc biệt này.
Sự khan hiếm những thông tin về giáo dục Phật giáo một điều đáng kinh ngạc. Người ta thể khảo xác danh mục của hàng trăm tác phẩm chuẩn mực về Phật giáo, văn hóa, văn minh hay lịch sử Phật giáo nhưng hầu như ít sự liên quan tới giáo dục. Nơi nào
 

sự liên quan tới giáo dục được tìm thấy thì các thông tin như bị giới hạn, không nêu về giáo dục Ấn Độcác trung tâm hoạt động của giới trí thức như TXá Ly (Taxila) hoặc Varanasi, Kinh Bổn Sanh hoặc những sự về các trung tâm tu học ở Ấn Độ hoặc Tích Lan do các nhà chiêm bái Trung Quốc như Pháp Hin, Huyn Trang, Nghĩa Tịnh tm viếng và tường thut.
Nếu những tin tức này được mở rộng đến thời gian gần đây hơn thì chúng ta sẽ tìm thấy sự liên quan tới hệ thống giáo dục trong tu viện các học viện Phật giáo đã bị loại bỏ một cách hệ thống đến tận nền móng hoặc bị lãng quên hoàn toàn do sự bắt đầu mạnh mẽ của nền giáo dục hiện đại. Một vài nỗ lực đã được thực hiện để làm sáng tỏ triết lý giáo dục Phật giáo nhưng chỉ với kết quả hữu hạn.
Tóm lại một khuyết điểm lớn trong sự hiểu biết của chúng ta về sự đóng góp của Phật giáo đối với hoạt động giáo dục nhân bản vẫn còn bao phủ. đây một vài luận điểm giới hạn nhằm đề cập đến một vài khía cạnh đã thu hút trong lĩnh vực giáo dục rộng lớn này.
Giáo dục căn bản truyền đạt. Thế hệ này truyền lại cho thế hệ khác kinh nghiệm sống của một cộng đồng. Nhữngthuyết, những thực hành, những thủ thuật trong các nghề nghiệp để sinh nhai kiếm sống, đó một phần rất thực tiễn, không thể thiếu của giáo dục. Nhưng chỉ một phần thôi. sống chính quan hệ mình với mình, mình với người, mình với vạn vật, với thiên nhiên... Kinh nghiệm sống làm sao cho an vui, cũng thiết yếu chẳng kém cơm ăn, áo mặc. Cái đó cũng giáo dục truyền lại. Đây vài nét mang tích chất giáo dục chúng ta phải phát huy.
Cạnh tranh một nguyên tắc trong hội, ở khắp nơi ngày nay; trcon từ thuở thơ ngây đã tập tính tranh đua. Tranh đua, giành giựt, lấn át để qua mặt người. Khôn khéo ra, thì bàn tay thể bọc nhung, nhưng bên trong thường bàn tay sắt. Nhà Phật xác định sáu nguyên tắc để sống trong hòa hợp. Vốn để cho Tăng già, nhưng nói rộng ra, đối với bất cứ một nhóm người cùng chung sống
 

nào, những điều này vẫn giữ nguyên giá trị. Đây điểm độc đáo của nhà Phật.
Phương châm của đạo Phật triệt để phá trừ mê muội, chuyển hóa mọi mê lầm, đạt đến giác ngộ an lạc; dẹp trừ mọi khổ đau, thanh tịnh thân tâm. Khi chúng ta không hiểu đúng đắn chính xác về mọi hiện tượng quanh mình, chúng ta nhìn sai lệch, suy nghĩ sai lệch dẫn đến hành xử sai lệch, nên đau khổ liền kéo theo như bóng theo hình. Tuy nhiên, nếu chúng ta chánh kiến, cái nhìn đúng đắn về các hiện tượng nhân sinh trụ, thì chúng ta sẽ không còn bị mê lầm từ tư tưởng hành vi, mọi kết quả được tốt đẹp.
Đạo đức Phật giáo được gắn liền với thiên chức giáo dục qua hình ảnh sống thực sinh động của Đức Phật Thánh chúng trong suốt quá trình lịch sử, vẫn không ngoài nội dung bốn chữ Duy Tuệ Thị Nghiệp, chỉ giản đơn chừng đó thôi mà ảnh hiện tất cả nghĩa siêu xuất về chức năng vai trò vị trí giáo dục. Đây chính hướng đi đích thực nhân bản, một biểu hiện đầy nhân tính trong cộng đồng nhân loại.
  1. KẾT LUẬN
Như bài viết đã nêu rõ, nguồn liệu được về giáo dục Phật giáo, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, thật giới hạn. Để nêu bật sự đại của Đức Phật trong lĩnh vực giáo dục làm sáng tỏ triết học giáo dục của Phật giáo, hiện nay, một vài nỗ lực đã được thực hiện chỉ với những thành quả khiêm tốn, do không được sự phân tích toàn diện về nguồn tài liệu văn học giáo dục Phật giáo. Lịch sử giáo dục Phật giáo tự giới hạn mình trong những đoạn văn giáo dục Ấn Độ như đã được ghi chép trong những câu chuyện Phật giáo hoặc giới thiu trong nhng tác phẩm mô tả của các nhà chiêm bái Trung Hoa (như Huyền Trang Pháp Hiền chẳng hạn). Sự mất chỗ đứng của các tu viện đại học Phật giáo, những nỗ lực phục hồi nền giáo dục Phật giáo ảnh hưởng văn hóa hội của những sự phát triển này trong mỗi quốc gia Phật giáo vẫn còn phải được nghiên cứu đánh giá một cách nghiêm túc. Tầm quan trọng tương đương cần
 

phải khảo sát nghiên cứu những khái niệm, phương cách, phương pháp để thể ứng dụng thích ứng với sự phát triển giáo dục hiện nay.
Đức Phật nhà giáo dục đại, phương pháp giáo dục của Ngài không chỉ khế cơ, khế lý còn khế thời, phù hợp đáp ứng được những chúng ta mong đợi. Ngài người đem lại ánh sáng trí tuệ giác ngộ cho cuộc đời diệt trừ nhưng nguyên nhân gây khổ đau cho cuộc đời. Đức Phật xuất hiện trên thế gian này, không ngoài mục đích chính chỉ bày cho tất cả chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến của chính mình. Hay nói đúng hơn“Vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lc cho Chư thiên và loài người. mục đích tối thượng đó, suốt bốn mươi lăm năm, Đức Thế Tôn phục vụ cho tất cả chúng sanh không ngừng ngh.
Đức Phật một nhà giáo dục toàn diện, Ngài căn cứ trên tinh thần từ bi trí tuệ để tạo điều kiện tối ưu đưa con người đến với chânbằng tinh thần tự giác, hướng con người quay về tự chứng nghiệm với chânđó. Việc giáo dục của Đức Phật dựa trên sự đánh thức tâm tư của mỗi người tự giác trở về với sự giác ngộ bản thân. Với hình thức giáo dục này, Đức Phật không đưa ra một giáo điều nào bắt mọi người phải tuân thủ hay mặc khải, coi Ngài như một đấng quyền năng tối thượng. Nền giáo dục của Đức Phật đứng trên lập trường nhân bản, nêu cao tinh thần tự giác của con người, đó vấn đề chủ yếu giúp con người đánh thức trí tuệ của mình, biết điều hành được cuộc sống tâm vật lý của chính mình để đạt đến giải thoát giác ngộ, biết hướng con người thích ứng với môi trường sống trong hội tiến bộ, biết sáng suốt nhìn biết sống như thế nào để đem lại hạnh phúc cho chính mình cộng đồng hội. “Ngươi nơi nương tựa của chính ngươi, không ai khácthể nơi nương tựa”; Con người chủ nhân ông của nghiệp, thừa tự của nghiệp”; Hãy tự mình thắp đuc lên mà đi. Đy là thái độ giáo dục mang tính tích cực, sáng tạo, dân chủ trong tinh thần ngã, giá trị xuyên suốt thời gian không gian, khả năng hóa giải được các căn bệnh mâu thuẫn xung đột của chính nội tạinhân đó, mâu
 

thuẫn xung đột giữa cá nhân vớinhân,nhân với môi trường, gia đình hội thế giới bên ngoài.
Đó cánh thư xanh, bức thông điệp giáo dục tiền khoáng hậu của Đức Phật cách đây hơn 25 thế kỷ.
Nhằm đánh dấu chặng đường 38 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam (7/11/1981 – 7/11/2019) thành lập, phát triển phụng sự nhân sinh, cũng như 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, dưới sự chỉ đo của Hòa thượng PPháp Chủ đệ nhất kiêm Viện trưởng, đã gửi thư mời Chư Tôn Đức lãnh đạo giáo hội các cấp, cũng như quý học giả đóng góp bài nghiên cứu cho quyển sách chuyên đề: “Phật học Việt Nam thời hiện đại: hội và thách thc, với mục đích thông qua đó, đánh giá về nhng đóng góp của Học viện trong sự nghiệp phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giáo dục Phật giáo phụng sự Đạo pháp, dân tộc Việt Nam.
Để đóng góp cho quyển sách thêm phong phú về nội dung lẫn hình thức, người nghiên cứu đã sử dụng lại các nguồn tài liệu của các học giả đi trước dùng làm hành trang cho mình trên viễn trình tìm về bến giác. Đây chỉ một trong những trăn trở, ưu tư về con đường giáo dục nói chung, giáo dục Phật giáo nói riêng. Hầu như một số mặt phải sửa đổi cho con đường giáo dục Phật giáo ngày nay từng bước nâng cao thêm giá trị đạo đức cũng chính giá trị của chân lý, của tự do nhân tính, bởi nó biểu trưng cho tất cả nếp sống văn minh - văn hóa của bất kỳ thời đại nào, hội nào bất cứ một con người nào trong thời đại văn minh này. Đôi điều cần sửa đổi khắc phục như:
    1. Kiến tạo một trung tâm hành chính cho giáo hội để đào tạo một thế hệ Tăng Ni cho các yêu cầu mới của giáo hội.
    2. Xây dựng một ngôi nhà truyền thống, nêu bật những gương hạnh tiêu biểu của những bậc Thầy Tổ đi trước đã công đóng góp, xây dựng Phật giáo nền tảng giáo dục Phật giáo của nước nhà.
    3. Xây dựng tái hiện những Phật học Viện mẫu mực để thể
 

hiện tốt đẹp theo đường hướng giáo dục của Phật giáo cho thời đại.
    1. Hình thành các trường sở tạo nên một gương mặt mới cho nền tảng giáo dục Phật học, một hệ thống giáo khoa đồng bộ cho chương trình giảng dạy từ cấp đến đại học Phật học, một đội ngũ giảng dạy đáp ứng các yêu cầu mới của giáo dục.
    2. Xây dựng ngân sách cho hệ thống giáo dục đào tạo, kêu gọi sự hưởng ứng của mọi giới Phật giáo trong nước, tất cả sự nghiệp giáo dục Phật giáo với một số giải pháp thích ứng.
    3. Sau hết trước hết một hệ thống nội dung tổ chức giáo dục Phật giáo cần được hình thành, người viết thiết nghĩ: hệ thống giáo dục Phật giáo này sẽ đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho một hướng phát triển tốt, hưng thịnh của Giáo hội những nội dung hiểu hành. Đây chính con đường “Hoằng pháp lợi sanh” của thời đại mới đây cũng nội dung của bản tham luận này.
Đạo Phật đạo của trí tuệ, của tình thương rộng lớn. Đạo Phật đem lại cho mọi người nhiệt tình sống cuộc sống đạo đức, sống cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc sống trong sáng, thanh tịnh, đầy lòng bao dung. Nền giáo dục của đạo Phật đã cống hiến cho con người một cái nhìn mới mẻ về giá trị thái độ sống đưa tới sự lắng dịu các dục vọng sân hận, đưa tới sự đoạn diệt tưởng duy. Một ngành giáo dục giúp cácnhân phân tích tâm lý, tánh hạnh phiền não của mình để tìm thấy con đường sống chân chánh: con người sẽ thể nhận ra rằng hạnh phúc không đòi hỏi con người làm bất cứ điều khác hơn sự dừng lại các ham muốn, thể nhận rằng giờ phút hiện sinh của hiện tại tại đây thời điểm con người thực sự giải thoát khỏi các phiền não.
 



Tài liệu tham khảo
HT. Thích Thanh Từ, Thiền Việt Nam, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh.
Soạn giả HT. Thích Thanh Kiểm, Lịch sử Phật giáo Trung Quốc,
Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh,1991.
HT. Th    Mật Th , Việt Nam Phật go slược, Nxb. Minh Đức (tái bn). Sa môn Thích Thiện Hoa, 50 năm chấn hưng Phật giáo, tập I,  Nxb.
GHPGVNTN Viện Hóa Đạo.
Tâm Minh, Kinh Thng Nghiêm, Thành hi Phtgiáo TP.HChí Minh.
Kinh Trung Bộ III, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành. Kinh Trường Bộ I, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành. Kinh Trung A Hàm, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.
HT. Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông I, II, III, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành.
Phạm Công Thiện, Ý thức mới trong văn nghệ Triết học, Nxb. An Tiêm (1996).
Krishnamarti, Giáo dục ý nghĩa cuộc sống, Nxb. Ca dao 1972. HT. Thích Thanh Kiểm, Thiền Lâm Bảo Huấn, Thành hội Phật giáo
Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành.
HT. Thích Chơn Thin, Tăng Già thời Đức Pht, Vin Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.
Kỷ yếu Đại hội đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam lần II và III, Ban Văn hóa Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam ấn hành 1993.
Hội nghị Ban thường trực Hội đồng trị sự, Giáo hội Phật giáo Việt Nam 6-7/1996, Văn png II Trung ương Giáo hi Pht giáo Việt Nam (Thiền viện Quảng Đức).


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây