17. HÒA THƯỢNG GIÁC TIÊN TIÊN PHONG TRONG GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI TRUNG KỲ

Thứ sáu - 06/12/2019 20:49



 
HÒA THƯỢNG GIÁC TIÊN TIÊN PHONG TRONG GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI TRUNG KỲ
 

Phan Thanh Việt*


 
 
  1. VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI HẠNH NGUYỆN CỦA HÒA THƯỢNG GIÁC TIÊN
Trong Việt Nam Pht go sluận, Nguyn Lang viết: Thin sư Giác Tiên thể gọi người đã khởi xướng phong trào chấn hưng Pht giáo min Trung1. Thực vy, cuộc đời của Ngài đã gn kết với sự hưng thịnh của Phật giáo xứ Thuận Hóa.
Hòa thượng Giác Tiên (1880 - 1936), Ngài sinh năm Canh Thìn (1880), triều vua Tự Đức năm thứ 33. Hòa thượng vốn dòng dõi họ Nguyễn Duy, được sinh ra trong một gia đình thâm tín Phật pháp tại làng Thượng, Thuỷ Phương, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên (nay Thừa Thiên - Huế). Song thân Hòa thượng mất sớm, được ông nội giáo dưỡng. Từ nhân duyên được tận mắt chứng kiến Đại giới đàn trang nghiêm tại chùa Báo Quốc năm 1894, từ đó ý chí xuất trần chớm nở và quyết chí xuất gia cầu thọ giáo với Tổ Tâm Tịnh một năm sau đó tại chùa Từ Hiếu.
Từ buổi khai đồng chơn nhập đạo xuất gia theo hầu Tổ Tâm Tịnh tại chùa Từ Hiếu, ngày đêm tinh cần Giới luật. Năm




*. Chùa Phúc Khánh.
    1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, tr. 815.
 

Canh (1900), Ngài được Tổ thế độ xuất gia thọ Sa-di thập giới. Đến năm Nhâm Dần (1902), Tổ Tâm Tịnh về ấp Thuận Hoà lập am Thiếu Lâm, Hòa thượng được theo hầu Tổ sư. Ở nơi vùng đất mới kiến lập thảo am sớm hôm sương khói hầu Tổ. Nhưng trong tâm trí, Ngài luôn tâm nguyện muốn lập thảo am trên đồi Dương Xuân chuyên tâm tu hành. Duyên lành hội đủ đến năm Mậu Thân (1908), năm thứ hai đời vua Duy Tân, được Tổ hứa kh, Ngài lên đi Dương Xuân chấn tích Khai sơn chùa Trúc Lâm theo sự cung thỉnh của Sư Diên Trường. Tđây, mây lành kết tủa, chốn Trúc Lâm ta rng đại hùng. Ngài đã vân du ra min Bắc - Đất Pht Trúc Lâm Yên Tử để tham cứu giáo đin và lịch sphát trin của Pht giáo Trúc Lâm thời nhà Trn, đc bit là Đức Pht Hoàng Trn Nn Tông. Tư tưởng nhập thếvà tnh tựu của Giáo hi Pht giáo Trúc Lâm thời Trn đã nh hưởng sâu sc trong snghip hoằng hóa của Ngài.
Hòa thượng luôn mang trong mình một tâm cầu học. Năm 1920, Hòa thượng Huệ Pháp mở đạo tràng giảng kinh tại chùa Thiên Hưng, Ngài đã dẫn các vị đệ tử của mình đi đến cầu học được Tổ Huệ Pháp khen ngợi túc căn thâm hậu, sau này đủ sức xiển dương gánh vác đồ của Phật giáo. Lời tán dương này như một sự tiên tri thật ứng với sự nghiệp hoằng hóa của Ngài. Để chuẩn bị cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo, Ngài đã gửi đệ tử tâm đắc của mình Thiền Mật Khế vào Thập Tháp Bình Định để học đạo với Quốc Phước Huệ.
Năm Giáp (1924), Ngài đứng ra mở Đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu, với sự hỗ trợ đắc lực của vua Khải Định. Bổn của Ngài Tổ Tâm Tịnh làm Đàn đầu Hòa thượng, đệ tử của Ngài Thiền Mật Khế được thọ Tam đàn cụ túc tại Giới đàn này. Năm Ất Sửu (1925), Ngài cung thỉnh Đại Tăng tổ chức An cư ba tháng tại chùa Tường Vân. Mãn hạ cũng tức phương thức lợi người, lợi mình phước huệ song tu một cách đầy đủ. Ngài đúng rường cột chốn Thiền lâm, sứ giả của Phật Tổ.
Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam nói 
chung và Pht giáo Trung Kỳ nói riêng có ssuy yếu về mi mt, chưa tnh một thể thống nht. Trước tình trng đó, vic chỉnh lý đào tạo Tăng tài, thống nhất quy củ, phục hưng Phật giáo trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Hòa thượng Giác Tiên ngọn cờ đầu của quá trình phục hưng đó. Ngài bắt đầu con đường hoằng hóa muôn vạn dặm.
Để bắt đầu cho công cuộc hoằng hóa muôn vạn dặm. Ngài tiếp nhận đệ tử truyền thừa nối pháp. Vị đệ tử trưởng Thiền Mật Tín, kế đến các vị Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể những đệ tử xuất gia xuất sắc nhất của Ngài. Về hàng Ni chúng thì nổi bật hơn cả Diệu Không, một vị Ni trưởng bậc nhất của Pht giáo Vit Nam cn đi. Trước đó, thì tại Trúc Lâm với Sư bà Diên Trường còn có các Ni trưởng Diu Hương, Giác Hi… cùng nhau y chỉ tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài. Về hàng cư sĩ tại gia thì người xuất sắc nhấtcư sĩ Tâm Minh Đình Thám, một cư sĩ trí thức ưu tú Phật giáo của thế kỷ XX. Về sau, ông cùng với Thiền Mật Khế là hai vị đệ tử đắc lực nhất của Ngài trong công cuộc chấn hưng Pht giáo tại min Trung.
Năm 1931, Ngài sùng tu Pht đin và Tăng xá Trúc Lâm để chuẩn bị sở cho các chương trình Phật học Phật sự tại Thuận Hóa. thể nói rằng những dữ kiện trong cuộc đời Ngài chúng ta thấy được một tầm nhìn chiến lược, sự chuẩn bị vẹn toàn cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo trong đó trước hết đào tạo Tăng tài, thấy được từng đường đi nước bước đều một sự tính toán chu đáo để mở ra một con đường xán lạn cho Phật giáo. 
2. 
THÀNH LẬP HỘI AN NAM PHẬT HỌC - CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO TẠI TRUNG KỲ

Vào thời đim này, ở Trung Quốc, ngài Thái Hư Đại sư đang phát động công cuộc chấn hưng Phật giáo nên đã tác động mạnh đến Phật giáo Việt Nam thôi thúc các bậc Tôn túc trí thức Phật học phải làm sao vực dậy Phật giáo nước nhà đang bị ngủ quên. Tại Nam kỳ Hòa thượng Khánh Hòa vị tiên phong trong công cuộc chấn hưng Pht giáo cũng đã tác động sâu sc đến Trung k. Vic thành lập Hội An Nam Phật học như một điều kiện tất yếu để
 phát huy công cuộc chấn hưng đó ảnh hưởng sâu rộng trong cả ba miền đất nước. Để phát triển chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng Giác Tiên đã đứng ra khởi xướng cùng với Chư Tôn túc Quốc Phước Huệ, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Tịnh Hạnh, Hòa thượng Tịnh Khiết sáng lập Hội An Nam Phật học. Ngài đã cử vị đệ tử tại gia xuất sắc của mình Tâm Minh Đình Thám đứng ra vận động các nhânhào kiệt đương thời như Nguyễn Đình Hoè, Nguyn Khoa Tân, Trương Xướng,… và chính cư sĩ Tâm Minh đã biên khảo điều lệ thành lập Hội An Nam Phật học bằng tiếng Pháp với tiêu đề của Hội “Société d’étude et excercice de la Religion Bouddhique de lAnnam(viết tt là SEERBA).
Năm 1932, dưới sự hỗ trợ của Đoan Huy Hoàng Thái hậu (Đức Từ Cung), sự xuất sắc của cư sĩ Tâm Minh, Hội An Nam Phật học được ra đời đt trsban đu tại Trúc Lâm và xut bn to Nguyệt san Viên Âm làm quan ngôn luận truyền chánh pháp của Hội.
Việc thành lập An Nam Phật học Hội đã mở ra một mốc son chói lọi trong sự nghiệp chấn hưng Phật giáo. Từ đây thì phong trào chấn hưng được nở rộ ở Trung kvà lan rng ra cả ba min đt nước. Lần đầu tiên Phật giáo Việt Nam hoạt động quy củ tổ chức từ Trung ương đến đa phương. Hi đã tích cực trong vic chỉnh lý Tăng giới với vic tnh lp Hi đồng Giám lut ở cp Trung ương cũng như địa phương để giám sát Giới hạnh của Tăng ni. Quy định nghi lễ Phật giáo. Mở thêm các chi nhánh trường lớp ở các tỉnh với những quy chế ràng. Thành lập các tổ chức Thanh thiếu niên Phật tử. thể nói Hội An Nam Phật học đã đạt những thành tựu ràng một “dạng nguyên thuỷ”2 hình mẫu cho sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam sau này.
  1. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHẬT HỌC CỦA HÒA THƯỢNG GIÁC TIÊN
Một trong những sự nghiệp cao cả lớn lao của Hòa thượng Giác Tiên đó đối với nền giáo dục Phật học tại Phú Xuân (Huế). Giáo


2. Chữ dùng của TS. Nguyên Quốc Tuấn Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo.
 

dục Phật giáoViệt Nam đầu thế kỷ XX nói chung chủ yếu dừng lạicác ngôi tự viện. Thời này, các bậc Tổ tinh thông kinh điển thường mở các lớp Phật pháp tại chùa hướng dẫn cho môn đồ, những ai muốn tham vấn Phật pháp thì phải vân du cầu đạo, tham học. Như tại Phú Xuân (Huế), Hòa thượng Huệ Pháp mở đạo tràng giảng kinh tại chùa Thiên Hưng, Hòa thượng Tâm Tịnh mở đạo tràng tại chùa Tây Thiên với số lượng học Tăng còn hạn chế, trường lớp quy mô chưa được mở vào giai đoạn này.
vậy, Ngài đã tham vọng muốn đổi mới, phát triển nền giáo dục Phật học. Ngài hiểu được rằng, muốn chấn hưng Phật giáo thì phải nội hàm vững mạnh. Nội hàm đó không khác hàng ngũ Tăng già tài đức vẹn toàn. Ngài đã tích cực vận động cung thỉnh các bậc Cao tăng thạc đức chứng minh, đứng lớp giảng dạy, tổ chức trường lớp đào tạo Tăng tài làm rường cột cho Phật giáo sau này. Cụ thể, năm 1931, Sơn môn học đường Trúc Lâm được Ngài mở tại Trúc Lâm, Ngài đích tn vào tận Tổ đình Thp Tháp - Bình Định để cung thỉnh Quốc sư Phước Huệ ra Trúc Lâm chging. Đây là lớp Pht học đu tiên tại min Trung được tổ chức một cách quy củ từ các bậc Cao Tăng làm giảng sư, học Tăng các nơi tụ về tham học.
Năm 1933, Ngài ủy thác Giảng Mật Khế vị đệ tử xuất sắc của Ngài mở trường An Nam Phật học cấp tại chùa Vạn Phước (Huế). Từ đây, các lớp Phật học được mở liên tục tại Vạn Phước, Từ Quang, Báo Quốc, Tuý Vân,… Năm 1936, trường này được dời về chùa Túy Ba gần bờ biển cuối năm ấy lại được dời về chùa Báo Quốc. Thiền Trí Độ bắt đầu đảm nhiệm trách vụ đốc giáo của trường này từ năm 1935. Tới năm 1938, học Tăng của trường còn đúng bốn mươi lăm v. Trong số học Tăng của trường này, có nhiu vị từ các tỉnh Trung kti.
Chương trình đào tạo được hoạch định ràng theo từng cấp học từ tiểu học đến đại học nghiên cứu chuyên sâu. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, chương trình Phật học đầu tiên của trường An Nam Pht học tại Trúc Lâm được hoạch định làm hai cp tiu học đại học, như sau:
 

Tiểu học (năm năm):
Năm thứ nhất: Quốc văn hai buổi công phu.
Năm thhai: Stích Pht Thích Ca; Bốn phép Toán; Pht học giáo khoa toàn thư.
Năm thứ ba: Luật Sa di (trường hàng); lượng Thọ Kinh; Địa tạng Kinh; Thủy sám pháp.
Năm thứ tư: Sa di luật giải (trường hàng); lượng Thọ Kinh; Địa tạng Kinh; Thủy sám pháp.
Năm thứ năm: Di đà sớ sao; Pháp bảo đàn Kinh
Tốt nghiệp tiểu học thì học Tăng được thụ Sa di giới.
Đại học (năm năm):
Năm thứ nhất: Kim cương trực sớ; Tâm Kinh chú giải; Duy thức phương tiện đàm; Bát thức quy củ tụng; Trang sớ.
Nămthhai: Lăngnghiêm Kinh; Viên giác Kinh; Nhân minh Luận. Năm thứ ba: Lăng già Kinh; Khởi tín Luận; Đại thừa chỉ quán. Nămthtư: Thành duy thc Luận; Pháp hoa Kinh; Phạmvõng Kinh. Năm thứ năm: Đại bát Niết bàn; Tứ phần Luật.
Tốt nghiệp đại học thì học Tăng được thụ Tỳ khưu giới.
Sau khi tốt nghiệp thể ở lại trường ghi tên vào lớp tham cứu (năm năm):
Năm thứ nhất: Lăng nghiêm trực chỉ; Viên giác lược sớ; Duy ma sớ; Tam Luận (Trung Luận, Bách Luận Thập nhị môn Luận).
Năm thứ hai: Lăng già tâm ấn sớ; Giải thâm mật Kinh; Du già địa Luận.
Năm thứ ba: Pháp hoa Kinh huyền nghĩa; Pháp hoa văn cú; Ma ha  chỉ quán.
Năm thứ tư: Hoa nghiêm Luận; Hoa nghiêm sớ sao.

Năm thnăm: Đại trí độ Luận; Tông cnh lục; Chỉ nguyt lục; Hải Triu âm văn khố.
Chương trình nói trên được hoạch định vào năm 1934. Chương trình này khuyết điểm dài quá, nhất hai năm đầu tiểu học không cần thiết. Kiến thức của hai năm này thực ra thể được các chùa địa phương cung cấp trước khi học Tăng gửi về Phật học đường, như vậy gánh nặng tài chính của trường sẽ được giảm bớt một phần. Chương trình lại còn những điểm không hợp lý, dụ năm thứ nhất cao đẳng: đã gồm Lăng nghiêm trực chỉ, Viên giác lược sớ, Duy ma sớ mà còn thêm ba bộ luận lớn của không tôn (Tam Lun). Kng ai có thể dy và học tt cả nhng tác phẩm đó trong một năm. Đến năm 1944, một chương trình mới được hoạch định thiết thực hơn với tình hình đào tạo Phật học.
Năm Ất Hợi (1935), Ngài lựa chọn ra học Tăng ưu tú để khai ging một lớp Đại học tại Trúc Lâm do Ngài làm Giám đốc và một lớp Trung học tại Tường Vân do Hòa thượng Tịnh Khiết trông nom. Quốc Phước Huệ được cung thỉnh làm đốc giáo cả hai lớp này. Trong nn giáo dục Pht giáo Vit Nam thời cn đi, đây là lớp Đại học Pht giáo đu tiên được mở ra và đào to tại Trúc Lâm. Có thể nói rằng đây một thành tựu vượt bậc, đánh dấu sự nghiệp giáo dục Phật giáo nước nhà. Đến năm 1936, lớp Đại học này được dời về chùa Tây Thiên, từ đây chùa Trúc Lâm kết thúc sứ mnh của mình đối với giáo dục Phật học tại Huế.
Từ những ngôi Phật học đường này, đã đào tạo ra những bậc Tùng lâm Thạch trụ của Phật giáo Việt Nam sau này như: HT. Quảng Huệ, HT. Đôn Hậu, HT. Chánh Thống, HT. Trí Thủ, HT. Mật Hiển, HT. Mật Nguyện, HT. Mật Thể, HT. Hoằng Thơ, HT. Trng Ân, HT. Trí Tịnh, HT. Trí Quang, HT. Thin Siêu, HT. Thin Minh, HT. Thiện Hoà, HT. Thiện Hoa, HT. Huyền Quang,… Giáo dục Phật giáo Việt Nam thời kỳ phục hưng đã đạt được những thành tựu to lớn, đóng gớp lớn lao cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam sau này. Công lao đó của các bậc tiền nhân như: Quốc Phước Huệ, HT. Tâm Tịnh, HT. Huệ Pháp, HT. Giác Nhiên, HT. Tịnh Hạnh, 
HT. Tịnh Khiết, Pháp Trí Độ, HT. Giác Tiên,… những người đã dày công gây dựng, đặt nền móng ban đầu vững chắc.
Về Ni giới, năm 1932 Hòa thượng Giác Tiên khuyến khích hỗ trợ Diệu Hương trường Ni học được khai giảng lần đầu tại chùa Từ Đàm năm 1932 do Ni Diệu Hương giám đốc. Cuối năm ấy chùa Diệu Đức ở Thủy Xuân được tạo lập. Ni học đường được dời về chùa Diệu Đức chùa Từ Đàm trở thành hội quan của Hội An Nam Phật học. Ngoài Ni giám đốc, còn một sốhọc Tăng đại học của trường Sơn Môn Phật học tới giảng dạy, như Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển Mật Nguyện.
Về hàng cư sĩ Phật tử, dưới sự tinh thông hoạt bác của cư sĩ Tâm Minh Đình Thám, các lớp Phật học Đồng ấu được thành lập, kế đến Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục, chính tiền thân của Gia đình Phật tử Việt Nam sau này, đã tạo ra một đội ngũ trí thức Phật giáo trẻ với tinh thần nhiệt huyết hăng say Đạo.
Hòa thượng Giác Tiên với cương vị Chứng minh Đại đạo của Hội An Nam Phật học, hoạt động ngày càng lớn mạnh, phần nhiều cũng do nguyện lực của Ngài vậy. Đến mùa Đông năm Bính (1936) Ngài quảy dép về Tây, để lại cho Phật giáo Việt Nam những di sản quý giá, trên sở đó để gây dựng một Phật giáo Việt Nam vững mạnh. Những đệ tử xuất sắc của Ngài quý Hòa thượng Mật Hiển, Hòa thượng Mật Nguyện, Hòa thượng Mật Thể, Tâm Minh, Ni trưởng Diệu Không,… đã tiếp nối sự nghiệp hoằng hóa muôn vạn dặm đó.
Nền giáo dục Phật học cho đến thời điểm này đã phát triển khá đầy đủ trên mọi lĩnh vực. Với những thành tựu bước đầu đạt được của quá trình phục hưng Phật giáo, đã đặt một nền móng vững chắc cho lâu đài Giáo hội sau này. Sự nghiệp giáo dục những thập niên 30 đã để lại một di sản quý giá, chúng ta biết được rằng từ những lớp đại học tại đây đã sản sinh ra những bậc Cao tăng đủ sức gồng gánh ngôi nhà giáo hội trong những thời kỳ gian truân, pháp nạn. Cho đến tận hôm nay, con đường giáo dục ấy vẫn được thế hệ nối tiếp phát triển nâng lên một tầm cao mới, phù hợp với thời đại, khắp 
trong 3 min đt nước các ngôi trường Trung cp Pht học được mở ra đáp ứng nhu cầu đào tạo Tăng tài tại mỗi trú xứ, đặc biệt sự thành tựu của 3 ngôi Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, tại Thành phố Huế tại Thành phố Nội, đào tạo hệ Đại học Cử nhân Phật học bước đầu đào tạo hệ ThạcPhật học đã những kết quả khả quan, đây một thành tựu vượt bậc đủ để chứng minh hệ thống giáo dục Phật học trong nước sánh với các trường Phật học trong khu vực trên thế giới, trên sở nền tảng vững chắc đó để tiến tới đào tạo hệ Tiến Phật học trong nước, góp phần thành công cho công cuộc đổi mới phát triển giáo dục của đất nước nói chung của Phật giáo Việt Nam nói riêng. Hơn hết đó sự tiếp nối của quá khứ cho đến hiện tại mai sau.




***





Tài liệu tham khảo
Thích Hải n, Thích Trung Hu (2011), Chư Tôn thiền đức và cư hữu công Pht go Thuận Hóa, tập 1, 2, 3, Nxb. Tng hợp TP.HCM.
Thích Hải Ấn, Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Văn hóa Sài Gòn.
Thích Đng Bổn, Danh Tăng Việt Nam.
Nguyễn Lang (2005), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Nội.
Thích Giới Hương (1993), Văn bia chùa Huế, Nxb. Thuận Hóa. Nguyễn Quốc Tuấn, Từ An Nam Phật học Hội đến Giáo hội
Phật giáo Việt Nam. Nguồn https://giacngo.vn /lichsu/phat- giaovietnam
Thích Thành Trí (2019), Lịch sử chùa Trúc Lâm, Nxb. Hồng Đức.
Bi ký tại vườn tp Tsư Giác Tiên, chùa Trúc Lâm, Huế.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây