17. GIÁO DỤC TINH THẦN THIẾT THỰC HIỆN TẠI CỦA ĐỨC PHẬT1

Thứ sáu - 06/12/2019 05:16
17. GIÁO DỤC TINH THẦN THIẾT THỰC HIỆN TẠI CỦA ĐỨC PHẬT1
GIÁO DỤC TINH THẦN THIẾT THỰC HIỆN TẠI CỦA ĐỨC PHẬT1
 
ThS.ĐĐ. Thích Quảng Duyên*
 
Sự hiện diện của đức Phật trong cõi đời này để tìm thấy con đường hin thực nht nhằm đi đến vic chấm dứt khổ đau. Trong suốt bốn mươi lăm năm thuyết pháp, Ngài đã khẳng định Ngài chỉ nói đến khổ con đường diệt khổ vàgiáo pháp của Ngài chỉ một đặc tính giải thoát. Trên sở đó, một trong những tính chất đặc biệt trong sự giáo dục của Ngài chính tinh thần thiết thực hiện tại. Đây không chỉ một tính chất toát ra từ kinh điển, bản thâncũng một tên gọi ngay trong kinh điển. Tính chất này đã được tác giả Bodhi khai thác thành một chương trong tác phẩm của mình. Chúng tôi với vai trò của một người xuất gia, cảm thấy việc nghiên cứu tính chất thiết thực hiện tại này đối với người xuất gia một nhu cầu cần thiết. Bài viết nghiên cứu tính chất này từ tư liệu Nguyên thủy chúng tôi thấy rằng những lời dạy ấy vẫn thể được ứng dụng trong thế giới ngày nay.





*. Hiện đang Tăng sinh thạckhóa II tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Bài viết nằm trong chủ đề: Bản chất, đặc điểm, loại hình giá trị giáo dục của đức Phật trong Phật giáo Nguyên thủy Đại thừa.
 
 
  1. GIỚI THIỆU
Tính thiết thực hiện tại một trong những đặc điểm nổi bật trong giáo pháp của đức Phật. Chủ đề này được thảo luận một cách khái quát trong các bài báo “Tinh thần thiết thực hiện tại trong lời dy của Đức Pht,2 Pháp là thiết thực hin ti,3 Pht giáo và đời sng thế tục,4 và một cách chi tiết trong chương bốn của tác phẩm “Hợp tuyển lời Pht dy từ kinh tng Pāli,5 bàn vhạnh phúc thy rõ ngay trong đời sng hin ti. Tuy nhiên, các tài liu trên tiếp cn vấn đề ở góc độ đời sống tại gia của người cư sĩ hơn đời sống xuất gia trong giới hạn của môn học, chúng tôi chỉ tập trung nguồn tư liu ở Kinh Trường bộ và Trung b. Do đó, trong bài o cáo này, chúng tôi chú trọng làm tính thiết thực hiện tại trong đời sống xut gia thông qua một bn kinh cụ thể thuộc Trường b, Kinh Sa- môn quả.
Skhác bit vđc đim giữa Kinh Trường bộ và Trung bộ không chỉ ở độ dài cònmục đích chuyển tải nội dung của hai bộ này. Kinh Trường bộ có tính cht đi ngoại trong khi Kinh Trung bộ lại có tính cht đi ni nhiu hơn.
Thoạt nhìn, Trường bộ Kinh và Trung bộ Kinh hình như được thành lập chính yếu trên căn bản chiều dài của kinh: những bản kinh dài hơn được đưa vào Trường b, nhng bài có chiu dài cỡ trung bình thì đưa vào Trung b. Tuy nhiên, nếu cẩn thận sp xếp nội dung của các bài kinh sẽ gợi ý cho thấy rằng một yếu tố khác thể tiềm ẩn bên dưới sự phân biệt giữa hai bộ kinh đó. Những bài kinh trong Trường bộ Kinh phần lớn nhắm đến đại chúng và hình như ý định thu hút những người thể cải đạo đến nghe kinh bằng cách chứng minh tính siêu đẳng của đức Phật giáo lý của Ngài. Các bài kinh trong Trung bộ Kinh phần lớn hướng đến ni bộ cộng đồng Phật tử hình như được sắp xếp để các vị tân Tỷ-kheo



2. Thích Chơn Thiện (11-05-2012). 3. Kim Phương (30-06-2017).
4. Phan Minh Hiền (12-08-2016).
5. Bhikkhu Bodhi-Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch (2016).
 

làm quen với giáo công phu tu tập Phật giáo.6
Quan điểm này được trình bày chi tiết trong bài khảo cứu Categories of Sutta in the Pāli Nikāya and their implications for our aprreciation of the Buddhist Teachings and Literature.7
Nội dung của báo cáo trước tiên đề cập một cách chung nhất về tinh thần thiết thực hiện tại trong lời dạy của đức Phật, kế đến giới thiu Kinh Sa-môn quả như một bn kinh tiêu biu thuộc Trường bộ quan trọng hơn hết những kết quả thiết thực hiện tại của đời sống xuất gia. Phương pháp được sử dụng bao gồm phương pháp văn bản học phương pháp định tính nhằm đánh giá khi cần.
  1. NỘI DUNG
    1. Sự thiết thực hiện tại của giáo pháp
Trong Hợp tuyển lời Pht dy từ kinh tng Pāli, tác giđã đề cp đến ba loại hạnh phúc kinh tạng Pāli thường nhắc đến.
1. Anvuivàhạnhphúctrựctiếpthấyrõngaytrongđờisốnghiện tại (dittha-dhamma-hitasukha), đạt được bằng cách hoàn thành những cam kết về đạo đức các trách nhiệm hội.
  1. An vui hạnh phúc thuộc về đời sau (samparayika- hitasukha), đạt được bằng cách dấn thân làm  những việc công đức.
  2. Mục tiêu tối hậu hay tối thượng (paramatha), Niết bàn, sự giải thoát cuối cùng khỏi vòng luân hồi sanh tử, đạt


  1. Bhikkhu Bodhi-Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch (2016): 41, nguyên văn từ Bhikkhu Bodhi ed.(2005): 11, “The Digha Nikaya and Majjhima Nikaya, at first glance, seem to be established principally on the basis of length: the longer discourses go into the Digha, the middle-length discourses into the Majjhima. Careful tabulations of their contents, however, suggest that another factor might underlie the distinction between these two collections. The suttas of the Digha Nikaya are largely aimed at a popular audience and seem intended to attract potential converts to the teaching by demonstrating the superiority of the Buddha and his doctrine. The suttas of the Majjhima Nikaya are largely directed inward toward the Buddhist community and seem designed to acquaint newly ordained monks with the doctrines and practices of Buddhism.”
  2. Joy Manné (1990).
 

được bằng cách tu tập theo Bát thánh đạo.8
Trong phạm vi o cáo này, chúng tôi chỉ giới hạn ở loại an lc thứ nhất. Sự minh họa về sự thiết thực hiện tại của giáo pháp ở chỗ chính đức Phật đã hiểu rất về mong muốn của chúng sanh. Chúng sanh ai cũng mong hạnh phúc thể hiện rõ trong Đại kinh pháp hành, nhưng đau khổ vẫn luôn hiện diện. Chính những kẻ trí không thân cận các bậc Thánh, các bậc chân nhân nên đau khổ vẫn tiếp tục tăng trưởng. Đức Phật cũng đề cập đến bốn loại: hiện tại khổ tương lai khổ, hiện tại lạc tương lai khổ, hiện tại khổ tương lai quả báo lạc, hiện tại lạc tương lai quả báo lạc. Ngài cũng sử dụng bốn ẩn dụ để minh họa về bốn trạng thái này.
Này các Tỷ-kheo, phần lớn các loài hữu tình dục như thế này, ước vọng như thế này, nguyện vọng như thế này: “Ôi, mong rằng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý được tiêu diệt! Mong rằng các pháp khả ái, khả lạc, khả ý được tăng trưởng!” Này các Tỷ- kheo, dầu cho các loài hữu tình ấy dục như vậy, ước vọng như vậy, nguyện vọng như vậy, nhưng các pháp bất khả ái, bất khả lạc, bất khả ý được tăng trưởng; các pháp khả ái, khả lạc, khả ý bị tiêu diệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Người biếtnguyên nhân không?9
Đức Phật luôn từ chối nói đến các vấn đề siêu hình như khi Ngài từ chối trả lời câu hỏi của chàng trai Màlunkyaputta.10 Ngài đã “kể cho chàng nghe câu chuyện một người bị mũi tên độc. Vấn đề cấp thiết giải phẫu để giải độc ngay, chứ không phải vấn đề tìm hiểu ngọn ngành mũi tên, người bắn mũi tên… trước khi chịu giải phẫu. Cũng thế, vấn đề cấp thiết của con người nhổ mũi tên khổ đau, chứ không phải đi tìm câu trả lời cho các vấn đề siêu hình không thiết thực kia.11 Đức Pht giải thích vì sao Ngài kng trả lời nhng câu hỏi ấy.
Này Malunkyaputta, điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều


  1. Bhikkhu Bodhi-Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch (2005): 163.
  2. Mahādhammasamādāna Sutta, M. 46.
  3. amālukyasutta, M.63. 11.Thích Chơn Thiện (11-05-2012).
 

ấy không phải căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.12
Thuật ngữ sandiṭṭhika13  nghĩa thuộc về đời này, thấy được trong đời sống hiện tại, do đó không cần chờ đến tương lai xa xôi định, vốn rất ưa chuộng vớitưởng người Tây phương. Bài kinh Sandiṭṭhika sutta thể hiện điều này. Một vị đưa câu hỏi đến đức Phật về làm thế nào giáo pháp của Ngài thể được gọi thấy được trong đời sống hiện tại Thế tôn đã trả lời. Ngoài ra các cụm từ cũng diễn đạt ý này: “thời giải thoát” (samayavimutti), “hiện tại lạc trú” (ditthadhammasukhavihàra) hay “tịch tịnh trú” (santavihàra).
Các pháp được đức Phật thuyết giảng luôn sáu đặc tánh thể hiện sự thiết thực của chánh pháp. “Chánh pháp được Thế tôn khéo léo thuyết giảng, một chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người trí tự mình giác hiu.14
Sự nhấn mạnh về yếu tố hiện tại được thể hiện rất trong kinh Nhất dạ hiền giả:
Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉpháp hiện tại
Tuệ quán chínhđây. 15


  1. amālukyasutta, M.63.
  2. [cp. BSk. sandṛṣika Divy 426] visible; belonging to, of advantage to, this life, actual D.I,51; II,93, 217; III,5; M.I,85, 474; A.I,156 sq.; II,56, 198; S.I,9, 117, IV.41, 339; Sn.567, 1137; Vism.215 sq. ,【形】看得见的(visible),这一生的(belonging to this life)。自见
(self-evident);现世的(immediately   apparent);现证的、当下可见的(visible   here and now);现报(罗什译);现见(玄奘译)。SA.1.20./I,43.
  1. Kinh Trường bộ tập II số 19, Kinh Đại điển tôn, Mahāgovinda Sutta. Nguyên văn: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccatta veditabbo viññūhī’ti.
  2. Kinh Trung bộ tập III số 131, Bhaddekarattasutta. Nguyên văn: Atītaṃ nānvāgam-
 
 
    1. Khái quát về Kinh Sa môn quả
Sāmaññaphalasutta16  kinh số hai trong Dīgha-Nikāya thuộc Pāḷi Tipiaka (tam tạng i)17. Kinh này bản kinh tương đương trong Hán tạng Sa-môn quả Kinh.18 Cả hai truyền bản đều đã được dịch sang tiếng Việt.19 Ngoài ra, bản i còn được dịch sang tiếng Anh với tựa đề The Fruits of the Contemplative Life.20 Như vậy, về bản, chỉ riêng đối với bản kinh này, chúng tôi hiện nămliệu kể cả các bản dịch để đối chiếu so sánh. Đề cập đến duyên khởi của kinh hiện chúng tôi hai tài liệu. Bài viết “Tìm hiểu Kinh Sa-môn quả”21 đề cập qua về duyên khởi của kinh giải thích về vua Ajatasattu. Tác phẩm “Luận giải Kinh Sa-môn quả”22 đã cố gắng giải thích từng câui dựa trên bản dịch Pali,23 đồng thời còn dịch cả các bản sớ giải hậu sớ giải.
Danh từ sāmañña24  nghĩa tu sĩ, sự phù hợp với tu sĩ, nỗ lực trở thành một tu sĩ,25 còn theo từ điển i-Hán26 cũng dịch phù hợp, một cách tổng quát,cách của người xuất gia.27 Danh từ







eyya, nappaṭikakhe anāgataṃ; Yadatīta pahīna taṃ, appattañca anāgataṃ.‘‘Paccuppan- nañca yo [yaṃ (nettipāḷi)] dhammaṃ, tattha tattha vipassati; Asaṃhīraṃ [asaṃhiraṃ (syā. kaṃ. ka.)] asaṃkuppaṃ, taṃ vidvā manubrūhaye.” Ajjeva kiccamātappaṃ [kiccaṃ ātappaṃ (sī. ka.)], ko jaññā maraṇaṃ suve; Na hi no saṅgaraṃ tena, mahāsenena maccunā.‘‘ Evaṃ vi- hāri ātāpiṃ, ahorattamatanditaṃ; Taṃ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate muni’’ [munīti (sī. syā. kaṃ. pī.)].
16. BHS s.v sāmaññaphalasutta: श्रामण्यफलसूत्र (Śrāmayaphalasūtra)
17. D. 2
18. 沙門果經, CBETA, T01, no. 1,p.108-109.
  1. Bản dịch Pali: Thích Minh Châu (1991), Bản dịch Hán: Tuệ Sỹ (2008b).
  2. Thanissaro translated.
  3. Thích Nhuận Thịnh (2012).
  4. Chánh Minh (n.d).
  5. Thích Minh Châu dịch (1991). 24. सामञ्ञ
25. PED  s.v sāmañña samaaship, in accordance with true Samaaship, striving to be a samaa.
26. 巴汉词典
27. DCBT s.v sāmañña : 份符合,一般性,出家人的身份
 

phala28  nghĩa kết quả, lợi ích,29 Hán dịch quả.30 Như vậy, gộp nghĩa của hai chữ sāmaññaphala lợi ích thu được từ tư cách tu sĩ, hay đời sống xuất gia.31 Đúng như tựa đề kinh đã thể hiện, kinh này lời giải đáp của đức Phật cho vua Ajatasatt về những “kết quả thiết thc hin tica đời sng xut gia. Trước khi đến gp đức Pht, vua đã ở trong hoàng cung vào một đêm trăng tròn,cảm hứng muốnnghe giáo pháp từ một vị tôn túc các vị đại thần đã gợi ý cho vua về sáu vị ngoại đạo nhưng vua vẫn im lặng, rồi thầy thuốc Kỳgiới thiệu đức Phật. Lúc gần đến chỗ Phật, vua bỗng kinh sợsự yên lặng của đại chúng Tỷ kheo nói lời cảm thán về thái tử. Cuối cùng, vua xin phép hỏi đức Phật về những lợi ích thiết thực của bậc xuất gia.
Câu hỏi của vua Ajatasattu một câu hỏi trọng tâm của cả bài kinh. Trước khi hi đức Pht, vua đã đt vn đề này cho sáu vTôn chủ của sáu phái ngoại đạo nhưng các vị ấy đã không làm thỏa mãn câu hỏi của vua. Câu hỏi này thể hiện sâu sắc nhất tính thiết thực hiện tại của đời sống xuất gia, kinh gọi hạnh Sa môn.
Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượngquan, thám tử, dõngcan đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghiệp chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa môn, la môn, sự cúng dường này ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo



  1. BD s.v फल.
  2. PED s.v phala : fruit, benefit.
  3. DCBT s.v phala:
  4. advantage resulting from Samaaship, fruit of the life of the recluse.
 

an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Đại đức, Ngài thể chỉ cho ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa môn chăng?32
    1. Những kết quả thiết thực của đời sống xuất gia
      1. Sự kính trọng cúng dường
Đức Phật trả lời cho vua Ajatasattu về kết quả thiết thực thứ nhất thể hiện qua việc nhận được sự kính trọng cúng dường của nhà vua với một vị xuất gia. Đức Phật đưa ra hai dụ về một người nô bộc một người nông phu.
Tâu đại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống trong an tịnh. Này đại vương, đại vương nói như vậy chăng?: “Người ấy hãy lại với ta, hãy làm lại người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mi người, lời nói kính ái chú ý từng nét mt. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
        • Này đại vương, đại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy, thì đó phải chăng kết quả thiết thực hiện tại hạnh Sa môn?
        • Bạch Đại đức, như vậy chính kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn.


32. Thích Minh Châu (1991): 100-101, nguyên văn Pali: (Yathā nu kho imāni, bhante, puthusippāyatanāni, seyyathida hatthārohā assārohā rathi dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā japuttā pakkhandino ma sūrā cammayodhino dāsikaputtā āḷāri kappakā nhāpakā [nahāpi (sī.), nhāpi (syā.)] sū mālākārā rajakā pesakārā naḷakārā kumbhakārā gaṇakā muddikā, yāni panaññānipi evaṃgatāni puthusippāyatanāni, te diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sippaphalaṃ upajīvanti; te tena attānaṃ sukhenti pīṇenti [pīnenti (katthaci)], mātāpitaro sukhenti pīṇenti, puttadāraṃ sukhenti pīṇenti, mittāmacce sukhenti pīṇenti, samaṇabrāhmaṇesu [samaṇesu brāhmaṇesu (ka.)] uddhaggika dakkhiṇaṃ patiṭṭhapenti sovaggika sukhavipāka saggasaṃvattanikaṃ. Sakkā nu kho, bhante, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhika maññaphala paññapetu’ nti?)
 

- Này đại vương đó kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa môn ta đã trình bày.33
      1. Sự thi hành các tiểu giới, trung giới đại giới
Kết quả thiết thực thứ hai liên quan đến việc trì giới. Trì giới đề cập trong Kinh Sa-môn quả được chia làm ba hạng mục: tiểu giới, trung giới đại giới, vốn những giải thích của đức Phật về một vị Tỳ kheo giới hạnh cụ túc.34 Nội dung của việc trì giới của người xuất gia liên quan đến việc sống cẩn trọng với “sự chế ngự của giới bốn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì học tập trong giới học, thân nghiệp, ngnghip thanh tịnh.35 Với stóm tt như vy, các khía cnh về giới, thân nghiệp, ngữ nghiệp được triển khai chi tiết hơn trong các phần sau.
Trong phần tiu giới, đức Pht đề cp đến các giới mà ngày nay bất cứ ai cũng quen thuộc khi nói về giới trong Phật giáo như giới không sát sanh, giới không trộm cắp, giới không nói láo, giới không nói hai lưỡi, giới không nói lời ác giới không nói những lời phù phiếm. Phần trung giới sự khác biệt với phần tiểu giới bên trên ở chỗ đức Phật chỉ ra những giới cấm thủ, vốn những việc làm sai lầm của các vị Sa-môn, la môn ngoại đạo. Ở phần trước của bài kinh, vua Ajatasattu đã trình bày về những lời giải đáp của sáu vị ngoại đạo cho vua, vốn những quan niệm sai lầm, đến phần này, đức Phật tiếp tục chỉ ra những hành động sai lầm, bao gồm cả thân nghiệp ngữ nghiệp. Đức Phật cho thấy sự khác biệt giữa đoàn thể Sa-môn của đức Pht với các đoàn thể Sa-môn khác. Trong khi các vị Sa-môn ngoại đạo cũng được nhận những quyền lợi tương đương như các vị Tỳ kheo của đức Phật, nhưng họ lại những sinh hoạt còn mang nhiều đặc tính hưởng thụ, cũng như còn gây hại đến môi




33. Thích Minh Châu (1991): 117-118.
  1. Nguyên văn: bhikkhu sīlasampanno.
  2. Thích Minh Châu (1991): 122, nguyên văn: pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, kāyakammavacīkammena  samannāgato  kusalena.
 

trường những hành động lời nói không chân chánh. Đặc điểm nổi bật của phần đại giới kinh đề cập nhiều đến lãnh vực chiêm tinh bói toán, vốn được đức Phật xem những mạng. Qua đó, kinh đã cho thấy các lãnh vực này không phải công việc chính của người xuất gia theo đức Phật.
Sau khi trình bày xong về tiểu giới, trung giới, đại giới, đức Phật so sánh một vị Tỳ kheo đầy đủ giới luật như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh sau khi hàng phục những kẻ thù địch. Giới luật do đó theo đức Phật như một chỗ dựa vững chắc làm cho các vị xuất gia thể tự tin vững vàng trước quần chúng.
như vậy, đại vương, vị Tỷ-kheo ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Ðại vương, như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này đại vương, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội mkng vẩn đục. Như vậy, này đại vương, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật. 36
      1. Những kết quả liên quan đến thiền định
Theo Kinh Sa-môn quả, sau khi hành giả đã kiện toàn về mặt giới luật, công việc tiếp theo chính tu tập thiền định. Khởi đầu bằng việc hộ trì các căn, kế đến chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, tiếp theo đoạn trừ năm triền cái cho đến các giai đoạn chứng đắc từ thiền cho đến tứ thiền. Theo đó, quá trình tu tập thiền định thể tính từ lúc hành giả hộ trì các căn cho đến khi đoạn trừ được năm triền cái, sau quá trình này quá trình gặt hái được các thành quả tu tập từ thấp đến cao, Năm triền cái được đức Phật dụ như món


  1. Thích Minh Châu (1991): 134, nguyên văn: Sa kho so, mahārāja, bhikkhu evaṃ sīlasampanno na kutoci bhayaṃ samanupassati, yadidaṃ sīlasaṃvarato. Seyyathāpimahārāja, khattiyo muddhābhisitto nihatapaccāmitto na kutoci bhaya samanupassati, yadida paccatthikato; evameva kho, mahārāja, bhikkhu eva sīlasampanno na kutoci bhaya samanupassati, yadidaṃ sīlasaṃvarato. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhatta anavajjasukha paṭisaṃvedeti. Eva kho, mahārāja, bhikkhu sīlasampanno hoti.
 

nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnhlệ, như con đường qua sa mạc.37
Sau khi bỏ được năm triền cái, hành giả bắt đầu cảm nhận hỷ lạc thấm nhuần thân tâm. Hành giả tuần tự chứng được từ thiền thứ nhất cho đến thiền thứ tư.
Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.38
      1. Những kết quả liên quan đến trí tuệ
Sau khi đã đạt được những lợi ích liên quan đến thiền định, kết quả này chính thềm bậc để cho bậc xuất gia chứng đạt cấp độ cao hơn, đó chính là trí tuệ bao gồm cnh trí và cnh kiến. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn m, hướng m đến cnh trí, cnh kiến.39
      1. Những kết quả liên quan đến thần thông
Sau khi đạt được chánh trí chánh kiến, vị ấy khả năng hiện hóa một hóa thân, chứng được năm thông: thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông thiên nhãn thông. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dn m, hướng m đến các thần thông.40




  1. Tóm tắt từ Kinh Sa-môn quả, Thích Minh Châu (1991a): 136-140.
  2. Thích Minh Châu (1991): 139.
  3. Thích Minh Châu (1991): 142.
  4. Thích Minh Châu(1991):145
 
 
      1. Sự giác ngộTứ đế chứng đạt A-la-hán
Cuối cùng, thành quả cao nhất một bậc xuất gia thể đạt được theo kinh sự giác ngộTứ đế thông qua lậu tận trí sau rốt, chứng đạt A-la-hán.
Vy biết như tht đây là kh, biết như tht đây là nguyên nn của kh, biết như tht đây là khổ dit, biết như tht đây là con đường đưa đến khổ dit, biết như tht đây là nhng lu hoặc, biết như tht đây là nguyên nn của lu hoặc, biết như tht đây là sự dit trừ các lu hoặc, biết như tht đây là con đường đưa đến sự dit trừ các lu hoặc. Nhờ hiu biết như vy, nhận thức như vy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không đời sống nào khác nữa.41
Đức Phật khẳng định đây đích đến cuối cùng của một vị xuất gia không còn kết quả nào cao hơn nữa.
Này Đại vương, đó quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. Này đại vương, không một quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn nào vi diệu thù thắng hơn quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn này.42
  1. KẾT LUẬN
Qua việc khảo sát về tinh thần thiết thực hiện tại trong Kinh Sa- môn quả, chúng tôi rút ra ba nhận định sau:
    1. Tinh thần thiết thực hiện tại của giáo pháp thể hiện ở chỗ tư tưởng Phật học không phải học thuyết triết học đơn thuần chính hành giả cần phải tự thân thực hành tự mình chứng ngộ pháp của đức Phật đặc tính “đến để




41. Thích Minh Châu(1991):154-155
42. Thích Minh Châu(1991):156
 

mà thy.43 “Kinh Sa-môn quả nêu lên nhng pp môn căn bản - tuần tự nhi tiến cùng với những thành tựu pháp thượng nn của đời sng xut gia.44
    1. Kinh Sa-môn quả là một bn kinh tiêu biu của Kinh Trường bộ thể hiện tính chất đối ngoại, mục đích để khuyến khích đời sống xuất gia. “Phật giáo Nguyên thủy bao hàm hai mục đích quan trọng cấp bách. Một được một quần chúng tín đồ sự ủng hộ thứ hai bảo đảm sự sống còn của tổ chức. Thiếu một trong hai yếu tố này thì giáo pháp sẽ phải mai một… Để được tín đồ, Phật giáo Nguyên thủy trước nhất cần một lượng thính giả. vậy, những giao thiệp ban đu ít nht phải hấp dn và thích thú. Trong bốn bộ Nikaya thì văn bn thú vị nht nằm ở Trường b.45
    2. Kinh Sa-môn quả thể hiện hạnh phúc thấy được trong hiện tại đối với người xuất gia. Tinh thần của kinh cũng gần gũi với một trước tác được viết ra sau này bởi thiền Quy Sơn Linh Hựu: “Người xuất gia cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma vương phải rúng động khuất phục, với mục đích o đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi.46






  1. Ehipassiko.
  2. Chánh minh(n.d).
  3. Joy Manné (1990): 78-80, “The early Buddhists had two important and urgent purposes. One was to gain converts and lay support; the other was to ensure the survival of their religion. Without success in both of these their Teaching would die out… To attract converts the early Buddhists first needed an audience. For that their initial communications had at least to be attractive and entertaining. Of the first four Nikayas by far the most entertaining texts occur in DN.”
46. Trí Quang (2010b): 2104-2105, Nguyên văn: 《禪門諸祖師偈頌》卷1:「夫出
家者發足超方。心形異俗。紹隆聖種。震懾魔軍。用報四恩。拔濟三有」(CBE- TA, X66, no. 1298, p. 734, a22-23 // Z 2:21, p. 468, c16-17 // R116, p. 936, a16-17)
 



Bảng viết tắt
BD.        Buddhist Dictionary, by Nyānatiloka. (Colombo: Buddhist Publication Society, 1988)
BHS. Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar and Dictionary, Franklin Edgerton ed.(1998), Motilalal Banarsidass Publishers Private Limited, Delhi, Vol II
D. Dīghanikāya, I-III, ed. T. W. Rhys David and J. E. Carpenter, (London: PTS, 1889-1910)
DCBT. Dictionary of Chinese Buddhist Term, ed. W. E. Soothill and L. Hodous. (Delhi: Motilal Banarsidass)
PED.      Pali English Dictionary, ed. T. W. Rhys Davids and W. Stede. (London: PTS, 1921-25)
 



Tài liệu tham khảo
Tài liệu gốc
Tiếng i
Dīghanikāya, I-III, ed. T. W. Rhys David and J. E. Carpenter, (Lon- don: PTS, 1889-1910)
Tiếng Hán
CBETA, T01, no. 1,p.108-109
Tài liệu nghiên cứu
Tiếng Anh
Thanissaro translated, The Fruits of Comtemplative life, Source: Ac- cess-to-Insight, http://www.accesstoinsight.org/canon/digha/ dn2.html
Bhikkhu Bodhi ed.(2005), In the Buddhas words: An Anthology of Discourses from the Pali Canon, Boston: Wisdom Publications.
Manné, Joy(1990), Categories of Sutta in the Pāli Nikāya and their implications for our aprreciation of the Buddhist Teachings and Literature.”, Journal of the Pali Text Society, XV, 29-87.
Russel Webb ed.(2008), An Analysis of the Pāli Canon, Srilanka: Buddhist Publication Society.
Tiếng Việt
Bhikkhu Bodhi - Nguyên Nhật Trần Như Mai dịch (2016), Hợp tuyển lời Phật dạy từ kinh tạng Pāli, Nxb. Hồng Đức.
Chánh  Minh  (n.d),  “Luận  giải  kinh  Sa-môn  quả  phần  1”,  tk- chanhminh.wordexpress
Kim Phương (30-06-2017), “Pháp là thiết thực hin ti, Văn hóa Phật giáo, số 221.


Narada - Phạm Kim Khánh dịch (2009), Đức Phật Phật pháp, Nxb. Tôn giáo.
Nhất Hạnh (2017), Đạo Phật đi vào cuộc đời, bối, Thư viện Huệ Quang ảnh ấn.
Phan Minh Hin (12-08-2016), “Pht giáo và đời sng thế tục, Văn hóa Phật giáo, (số 201.
Thích Chơn Thiện (11-05-2012), “Tinh thần thiết thực hiện tại trong lời dy của Đức Pht, Văn hóa Pht go, số 16.
Thích Chơn Thiện (2009), Phật học khái luận, Nxb. Phương Đông. Thích Minh Châu dịch (1991), Kinh Trường Bộ, tập I, Viện Nghiên
Cứu Phật học Việt Nam.
Thích Minh Châu (2011), Dàn ý Kinh Trung bộ tóm tắt Kinh Trường b, Nxb. Tng hợp TP.HCM.
Thích Minh Châu - Thích Nữ Trí Hải dịch (1998), So sánh Kinh Trung A hàm (chHán) & Kinh Trung b(chPali), Nxb. Tng hợp TP.HCM.
Thích Nhun Thịnh (2012), Tìm hiu kinh Sa-môn qu, trang tin Đạo Phật ngày nay.
Trí Quang biên tập (2010a), Tổng tập giới pháp xuất gia, tập 1, Nxb.
Văn hóa Sài Gòn.
Trí Quang biên tập (2010b), Tổng tập giới pháp xuất gia, tập 2, Nxb.
Văn hóa Sài Gòn.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây