16. NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC TRONG PHẬT GIÁO

Thứ sáu - 06/12/2019 05:19
NGUYÊN GIÁO DỤC TRONG PHẬT GIÁO
ĐĐ. Thích Phước Nguyên*
 
 
  1. TÓM TẮT
Giáo dục trong Phật giáo được xây dựng theo chỉnh thể cấu trúc phân đôi: chânthường nghiệm (Skt. saṃvti-satya, tục đế) chânsiêu nghiệm (Skt. paramārtha-satya, chân đế), nghĩa đi từ hiện thực đời sống của con người, từ những điều tai nghe mắt thấy, bằng kinh nghiệm ước lệ đó tiến đến những điều vượt trên tầm mức tư duy vật lý của đời sống.
Như vậy giáo dục trong Phật giáo luôn đảm bảo hai tiêu chí: tập quán nghĩa tuyệt đối nghĩa, hay nói khác đi, giáo dục ấy không phải đạp đổ những quy ước phổ thông của hội, nó chỉ định hình lại lối mòn thế gian suy nghiệm, nhữngthuyết lệch lạc do kiến gặm nhấm, nói như các nhà luận A-tì-đàm, những đức Phật tuyên thuyết cho cuộc đời được gọi “cùng lập khế ước” (thi thiết, Skt. prajñapti), dẫn dắt phàm tình tiến dần đến địa vị cao thượng hơn.
  1. HAI SỰ THẬT: GIÁO ĐẠI BI
Không chỉ đức Thế Tôn vận dụng nguyênhai sự thật để thuyết



*. Giáo thọ khoa Triết học Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM.
 

pháp cho các hữu tình, các vị Bồ-tát Đạicũng bằng nguyênnày làm lợi lạc cho các hữu tình, như kinh Đại Bát-nhã nói:
Trong khi vị B-tát Đại sĩ tu nh snghip Bát-nhã Ba-la-mt, vị ấy luôn an trụ hai Sự thật tuyên thuyết Chánh pháp cho các hữu tình. Những hai? Đó Sự thật quy ước (thế tục đế) Sự tht siêu vit (thắng nghĩa đế)1”.
Qua đoạn kinh cho thấy, Bồ-tát nguyện Bồ-tát hành đi từ những hiện thực giữa đời thường, từ những chuyện các nhà Thin thường gi là “gánh nước, bửa củi, bt cứ vic gì dưới nn quan của hai Sự thật, đều thể trở thành phương tiện giáo dục hữu hiệu.
Mở đầu chương II của kinh Nhập Lăng-già, Bồ-tát Đại Huệ đã cảm hng nhng vần thi kn thán nguyên lý giáo dục ca đức Th  Tôn:
    1. Phật bằng trí-bi nhìn thế gian, như hoa đốm không, Không thể nói sinh hay diệt, Nên không thể nói hữu hay vô.
    2. Phật bằng trí-bi nhìn thế pháp, Thực tế như vật huyễn ảo. Doxa lìa nơi thức trí,
Nên không thể nói hữu hay vô.
    1. Phật bằng trí-bi nhìn thế gian
giống như một cảnh mộng, Không thể nói nó đoạn hay thường, Nên không thể nói hữu hay vô.
    1. Pháp thân tự tính như mộng huyễn,



1. Đại bát-nhã kinh 392, tr. 1026c26: 菩薩摩訶薩修行般若波羅蜜多時,安住二諦 為諸有情宣說正法。何謂二諦?謂世俗諦及勝義諦”.
 

Ở đó để khen ngợi?
Tán lễ tức không nắm lấy hữu, Cũng không nắm lấy tự tính.
    1. Pháp hiện tồn nhưng không thể thấy, Dosiêu việt thức cảnh,
Mâu-ni siêu việt pháp trần cảnh, Nơi đó đáng khen chê?
    1. Phật bằng trí-bi lìa hình sắc,
Lại chứng nhân - pháp đều ngã, Do đây Phật thường hằng thanh tịnh, Lìa phiền não chướng, sở tri chướng.
    1. Phật không diệttrong Niết-bàn, Cũng không trụtrong Niết-bàn, Năng giác, sở giác thảy đều ly, Cũng lại lìa nơi hữu, phi hữu.
    2. Nếu ai thấy Mâu-ni như vậy, Tịch tĩnh, viễn ly nơi sinh tử. Người đó đời này đời sau, Thanh tịnh phược thủ cấu2.

  1. P.L. Vaidya, Darbhanga: The Mithila Institute, 1963,
Buddhist Sanskrit Texts, No 3, tr. 10: sadasannopalabdhaste prajñayā kṛpayā ca te // māyopamā sarvadharmā cittavijñānavarjitā / sadasannopalabdhāste prajñayā kṛpayā ca te
// śāśvatocchedavarjyaśca loka svapnopama sadā / sadasannopalabdhaste prajñayā kṛpayā ca te // māyāsvapnasvabhāvasya dharmakāyasya kaḥ stavaḥ / bhāvānā niḥsvabhāvānā yo ‘nutpāda sa sabhava // indriyārthavisayuktamadṛśya yasya darśanam / praśaṃsā yadi nin tasyocyeta katha mune // dharmapudgalanairātmya kleśajñeya ca te sadā / viśuddhamānimittena prajñayā kṛpayā ca te // na nirvāsi nirvāena nirvāa tvayi saṃsthitam / buddhaboddhavyarahita sadasatpakṣavarjitam // ye paśyanti muni śāntamevamutpattivarjitam / te bhonti nirudānā ihāmutra nirjanā // Lank_2.1-8 //
Thánh pháp Nhập Lăng-già Phạn bản Tân dịch, Phước Nguyên dịch & chú, Hồng Đức,
2019, tr. 52-53.
 

Một đường hướng giáo dục toàn thiện chỉ thể được xây dựng trên cơ shai Sự tht, được kết cố bởi cht liu Bi và Trí. Giáo dục Phật giáo không phải hướng dẫn con người từ bỏ thế gian, để hướng dẫn con người đi vào cuộc đời, bắt đầu từ những sự rung cảm nhỏ nhiệm nhất đối với sự sống; Bồ-tát, kinh Phật gọi Bodhi-sat- tva, các dụng ngHán thường dịch là Hữu tình giác, mà nhiu nhà Pht học đã kng ngại phá cách din tnh: “Hữu: tình – giác, tức hiện hữu bằng tình yêu trí giác. Kiếp nhân sinh khốc liệt, chỉ thể được xoa dịu trong cam lồ tịnh thủy:
“Phật động lòng thương kiếp đọa đày hóa thân làm tuyết bốn trời bay
kết hoa sáu cánh sen mười trượng giọt tịnh-bình xoa dịu đng cay3”.
(Tuyết Trắng Gương Trong) “Cho hay giọt nước nhành dương
Lửa lòng rưới tt mi đường trn duyên.
(Truyện Kiều)
Vt tay nằm nghĩ cơ trn
Nước duyên muốn rẩy ngui dn lửa duyên.
(Cung oán ngâm khúc)
Nguyên giáo dục trong Phật giáo đầy đủ hai chất liệu Bi & Trí trên nền tảng hai Sự thật, ôm lấy nỗi khổ niềm đau của người khác không cho nó lở loét trị liệu bằng đơn dược pháp yếu, khiến cho được phục hồi. Giáo dục Phật giáo giúp định hình một nền sức khỏe tâm linh cho nhân loại, con đường giải phóng tâm linh thoát khỏi mọi sự nô lệ vào thần quyền, vật chất, phá vỡ mọi áp bức tư tưởng. Nếu cần một cuộc cách mạng giáo dục, thì nguyênhai sự thật đường hướng gợi ý tối ưu nhất.




  1. Vũ Hoàng Chương, Bút nở hoa đàm, Vạn Hạnh, 1967.
 
 
  1. BỐN THÁNH ĐẾ: TỪ THƯỜNG NGHIỆM ĐẾN SIÊU NGHIỆM
Sau khi chứng nghiệm quả vị Bồ-đề thượng, đức Thế Tôn đã đến tại khu vườn nuôi nai (Skt. vārāasī, Pāli: bārāasī), khu Tiên nhân luận đàm (Skt. Ṛṣrivadana) chuyển vận bánh xe Chánh pháp:
“Phật nay tại Ba-la-nại-tư, Tiên nhân luận xứ, trong rừng Thí Lộc này, thương xót các chúng sinh ở thế gian, muốn làm cho họ thành tựu được sở nghĩa lợi, thế nên đã ba lần chuyển Pháp luân, Pháp luân ấy đầy đủ mười hai hình thái, tất cả thế gian: Sa- môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm v.v… đều không khả năng như pháp chuyển vận. Do Phật chuyển vậnthượng Pháp luân này, nên Kiều-trần-na v.v… đã hiện quán Thánh đế, từ nay Thiên chúng dần dần tăng ích, chúng A-tố-lạc sẽ dần dần giảm xuống, từ đó triển chuyển, chư Thiên nhân loại đều thu hoạch lợi ích an lc thù thắng4”.
Tu tập giáo Thánh đế (Skt. ārya-satya), ba giai đoạn:
    1. Kinh Chuyển pháp luân5 khởi đầu thuyết minh: “Đây Khổ Thánh đế” cho đến “Đây Khổ diệt đạo Thánh đế”, nói theo thuật ngữ A-tì-đàm, đó biểu thị cho kiến đạo. Tức chỉ những sự thật thường nghiệm, giữa nhân sinh kiếp sống, điều con người thể duy, thực nghiệm, bằng kinh nghiệm khổ đau giữa muôn trùng ảo hóa nhận thức từ đó tiến đến địa vị cao hơn trong quá trình tu tập.
    2. Tiếp theo Kinh lại nói: “Khổ Thánh đế cần được biến tri bằng thắng trí”, cho đến “Khổ diệt đạo Thánh đế cần được tu bằng thắng trí”, nói theo thuật ngữ A-tì-đàm đó biểu thị tu đạo. Theo cấp độ nhận thức thông thường, không phải tư duy thông tục thể nhận thức được bản chất, sự hoạt động của các pháp, phải bằng



4. 《阿毘達磨法蘊足論》卷6〈10 聖諦品〉:「佛今於此婆羅痆斯仙人論處 施鹿林中,憐愍世間諸眾生故,欲令獲得利樂事故,三轉法輪,其輪具足十二 相行。世間沙門及婆羅門天魔梵等,皆無有能如法轉者。由佛轉此無上法輪, 憍陳那等已見聖諦。從今天眾漸當增益,阿素洛眾漸當損減。因斯展轉諸天及 人,皆獲殊勝利益安樂。」(T26, no. 1537, p. 480a3-9). Bản Việt, Phước Nguyên dịch
& chú, tr. 356.
  1. Pāli: Dhammacakka-pavattana-sutta, PTS: SN. V. pp. 420–423; Vin. I. pp. 8–14.
 

thắng trí, tức bằng trí năng ưu việt quyết trạch các pháp, xuyên qua mạng lưới phiền não để nhìn thẳng vào yếu tính tồn tại thực sự của các pháp gì?
    1. Giai đoạn thứ ba, tức lớp nhận thức sâu thẳm nhất bên trong, kinh nói: “Khổ Thánh đế đã được biến tri bằng thắng trí, cho đến, “Khổ diệt đạo Thánh đế đã được tu bằng thắng trí”, thuật ngữ A-tì-đàm nói đó biểu thị học đạo. Giai đoạn này đòi hỏi hành giả phải một quá trình thực nghiệm quán chiếu miên mật, xuyên suốt kéo dài, khi đã bằng trí năng ưu việt, hay huệ đặc sắc nhận thức các pháp rồi, hành giả phát triển khiến cho thấm nhuần, sung mãn, đạt đến chỗ tuyệt hảo của nhận thức. Bấy giờ lần lượt chứng đắc các Thánh quả, phá vỡ các lớp phiền não tự thân bị trầm tích trong đó, tiến đến các quả chứng siêu nghiệm, vượt ngoài tư duy vậtthông thường.
Ba giai đoạn này, được đức Thích Tôn chuyển vận đầy đủ, khai mở một con đường đưa tư tưởng con người tiến bộ đến toàn diện, mà kinh gi làtam chuyn thập nhị nh tướng6, vì vy Pháp luân được mô tả như bánh xe mười hai căm, biểu thị ba lần chuyển vận với bốn hành tướng.
Th lớp tu tập bốn Thánh đế này, được các nhà Duy thức triển khai qua năm giai đoạn gọi “tiệm thứ ngộ nhập Duy thức tánh”:
1. lương vị: chuẩn bị hành trang, nhữngliệu cần thiết, gồm phước trí hữu lậu.
    1. Gia hành vị, phân tích gạn lọc những đã tích lũy trong hành trang.
    2. Thông đạt vị, tổng hợp để một nhận thức tổng quát về thực tại tối hậu giả định.


6. 三轉十二行相, Theo quan điểm Hữu Bộ nói mỗi một Thánh đế đều như vậy, tức tổng số 4 Thánh đế 12 chuyển với 48 hành tướng. Ba chuyển 12 hành theo Sớ giải Pāli, Dhammacakkappavattanasuttavaṇṇanā, SA, PTS. iii. 198: tiparivaṭṭāna dvādasanna ākārānaṃ, trong bốn Thánh đế, mỗi đế ba hành: (1) saccañāaṃ, đế trí (chân thật trí): “Nhận thức đây Khổ Thánh đế”; (2) kiccaāṇaṃ, sự trí: đây cần biến tri; (3) kataññāaṃ, tác trí: đây đã được biến tri.
 
 
    1. Tu tập vị, thực nghiệm từng phần hình ảnh đã tổng hợp.
    2. Cứu cánh v, thực nghim toàn din. Đó là Vô thượng B-đề7”.
Đường hướng giáo dục của Phật giáo những lớp tuần tự như vậy, muốn giáo dục thành công, người thực hiện giáo dục phải nắm vững những nguyên tắc như vậy, đi từ những cái hiện thực, từng bước dẫn thính chúng, người học tiến đến những cái xa hơn, cao hơn, không thể bỏ băng nhảy vọt những bước nền tảng. Từ những kinh nghiệm đời thường, người học mới thể vận dụng để tư duy suy nghiệm, triển khai nhiều phương diện chi tiết của giáo nghĩa, từ đó mới lãnh hội tu tập đúng đắn, tránh được những biến chứng, hay nói khác gọi “tai biến” như hệ quả sai lầm của các phương pháp giáo dục.
4. NĂM LỚP BỒ-ĐỀ: TỪ HIỆN THỰC ĐẾN CHỨNG NGHIỆM
Trong Đi trí độ luận, Hán dịch, quyn 538, ngài Long Thọ đã trình bày con đường giáo dục từ hiện thực đến chứng nghiệm, qua năm lớp Bồ-đề9:
“Thứ nhất, phát tâm Bồ-đề, tâm Bồ-đề được phát khởi của chúng sanh đang trôi lăn trong lượng sanh tử. Đây chỉ Bồ-đề trong ước nguyện; tâm ấy theo kết quả mong cầu mà gọi, chứ không phải Bồ-đề chân thật.
Th hai, phục tâm Bồ-đề, tâm được gọi Bồ-đề khi các phiền não ô nhiễm bị trấn áp, thực hành các ba-la-mật; cũng chưa phải Bồ-đề chân thật.
Th ba, minh Bồ-đề, đó trí năng sáng suốt quán sát phân tích tổng tướng biệt tướng của các pháp, nhận thức được thể tánh thanh tịnh rốt ráo yếu tính chân thật của tồn tại; đây một phần Bồ-đề.
Th tư, xuất đáo Bồ-đề, do thành tựu Bát-nhã ba-la-mật, diệt trừ toàn diện các phiền não; trí năng không còn ô nhiễm.



7. Dẫn theo Huyền thoại Duy-ma-cật, TT. Tuệ Sỹ (2007), tr. 237. 8. T25n1509, tr. 438a3.
  1. Ibid., TT. Tuệ Sỹ, tr. 237-238.
 

Thm, Vô thượng B-đ, khi đã tnh Pht.
Mục đích rốt ráo của con đường giáo dục thành Phật, thành Phật là thành tựu mười phẩm tính giác ngộ của một vị Phật, biểu hiện đầy đủ mười phẩm tính đó, như vậy một vị thành Phật không phải vị giác ngộ đơn độc xa lìa thế gian vị đó nguyện bằng tâm đại đem lại an lạc lợi ích cho tất cả. Bản nguyện của Bồ-tát được phát khởi từ tâm Đại Bi tâm Bồ-đề. Phát khởi Bồ-đề tâm để tu tập, thực hành Bồ-tát đạo tinh yếu của giáo dục Phật giáo. Nên, ở kinh Hoa nghiêm, Bồ-tát Di Lặc đã nói về hiệu năng của Bồ-đề tâm trong sự tu tập, hành Bồ-tát đạo cho Thiện Tài đồng tử:
Bồ-đề tâmnhư hạt giống,khả năng sinh khởi hết thảy Phật pháp; Bồ-đề tâmnhư ruộng phước,khả năng nuôi dưỡng các pháp bạch tịnh; Bồ-đề tâmnhư cõi đất lớn, vì khả năng nâng đỡ thế gian; Bồ-đề tâmnhư tịnh thuỷ,khả năng thanh tảy hết thảy cấu bợn phiền não; Bồ-đề tâmvínhưgió lớn, vì thổi khắp thế gian không bị ngăn ngại; Bồ-đề tâmnhư lửa lớn, vìkhả năng thiêu rụi hết thảy rừng củi kiến; Bồ-đề tâmnhư vầng nhật thanh tịnh, soi chiếu khắp cả thế gian; Bồ-đề tâmnhư trăng rằm,các pháp thanh tịnh đều viên mãn; Bồ-đề tâmnhư ngọn đèn sáng, vì có khả năng phóng ra các loại ánh sáng Chánh pháp; Bồ-đề tâmnhư mắt sáng,thấy hết thảy cùng khắp mọi chốn an nguy; Bồ-đề tâmnhư con đường lớn, vì khiến tất cả đều được đi vào kinh thành đại trí, Bồ-đề-tâm như chánh đạo,làm cho viễn ly tà-pháp, Bồ-đề-tâm như cỗ xe lớn, vì có thể chuyển vận Bồ-tát, Bồ-đề-tâm như cửa ngõ,khai thị tất cả Bồ-tát hành10”.



  1. Cf. Gaṇḍa, tr. 39617ff. bodhicitta hi kulaputra bījabhūta sarvabuddhadharmāām / kṣetrabhūtaṃsarvajagacchukladharmavirohaṇatayā,dharaṇibhūtaṃsarvalokapratiśaraṇatayā, vāribhūtaṃ sarvakleśamalanirdhāvanatayā, vāyubhūtaṃ sarvalokāniketatayā, agnibhūtaṃ sarvadṛṣṭyudānakakṣanirdahanatayā, sūryabhūta  sarvasattvabhavanāvabhāsanatayā, candrabhūta śukladharmamaṇḍalaparipūraatayā, pradīpabhūtaṃ dharmālokakaraatayā, cakṣurbhūta samaviṣamasaṃdarśanatayā, mārgabhūta sarvajñatānagarapraveśanatayā, tīrthabhūtaṃ kutīrthavivarjanatayā, yānabhūtaṃ sarvabodhisattvābhirohaṇatayā, dvārabhūtaṃ
 

cũng trong kinh Hoa nghiêm, Bồ-tát Pháp Tuệ đã nói với thiên đế Thích về sự phát khởi Bồ-đề tâm như sau:
muốn biết ngay thế giới vi tế chính thế giới rộng lớn, thế giới rộng lớn chính thế giới vi tế; biết ngay thiểu thế giới chính đa thế giới, biết đa thế giới chính thiểu thế giới; biết ngay thế giới rộng chính thế giới hẹp, biết thế giới hẹp chính thế giới rộng; biết ngay một thế giới chính lượng, biên thế giới, biết lượng, biên thế giới chính một thế giới; biết ngay lượng, biên thế giới ở vào trong một thế giới, biết một thế giới ở vào trong lượng, biên thế giới; biết ngay nơi thế giới ô nhiễm chính thế giới thanh tịnh, biết ngay nơi thế giới thanh tịnh chính thế giới ô nhiễm;trong một lỗ chân lông biết ràng hết thảy thế giới, ở trong hết thảy thế giới biết ràng bản tính của một lỗ chân lông; biết từ nơi một thế giới xuất sinh hết thảy thế giới, biết hết thảy thế giới đều như không; muốn ngaynơi một niệm biết hết thảy thế giới, biết hết thảy thế giới không cònsót bất cứ một thế giới nào, nên phát tâm thuợng Bồ-đề11.
Như vậy, phát Bồ-đề tâm do sự nhu cầu hiểu biết toàn diện, nói cách khác, phát Bồ-đề tâm muốn thành tựu tuệ giác tuyệt đối của Phật, tức thành tựu mục đích tối hậu của giáo dục Phật giáo12. Không có Bồ-đề tâm, Đại biĐại trí sẽ không có cơ sở thành tựu, không Đại bi Đại trí, hai sự thật sẽ không được tuyên thuyết, không hai Sự thật thì giáokhông nền tảng, từ đó giáo dục Phật giáo cũng sẽ không thành hình, cho nên Bồ-đề tâm cốt lõi, nguyên lý chỉ đạo của giáo dục Phật giáo. Chúng ta thể đọc lại một đoạn trong Thắng man giảng luận như sau: Quy y như vậy sự gieo xuống hạt giống Bồ-đề. Hạt giống Bồ-đề không được gieo vào một cánh đồng trừu tượng nào xa xôi, cũng không chờ đợi để được gieo vào một vùng đất hứa thần thoại nào khác, được gieo xuống ngay




sarvabodhisattvacaryāmukhapraveśanatayā. Tham chiếu, Hoa-nghiêm 59 (Đại 9, tr. 775).
  1. Đại 9, tr. 450c, Hoa Nghiêm 9 (Phật-đà-bạt-đà-la).
  2. Cf. Giới thiệu nguồn gốc đức Phật A-di-đà (cùng tác giả), 2018.
 

trên sa mạc sinh tử này, khô cằn với những đau khổ triền miên của chúng sinh này. Rồi hạt giống ấy cần phải được tưới bằng nước ngọt của từ bi để lớn mạnh, để đến thời trổ hoa giác ngộ. Do đó, quá trình Quy, Giới, Nguyện Hành của Bồ tát đạonhững giai đoạn gieo giống vun tưới hạt giống Bồ-đề. Nói cách khác, phát Bồ-đề tâm thành tựu Bồ-đề quả trọn vẹn tất cả sự nghiệp của Bồ tát13. Chừng đó, cũng đủ để thấy được đường hướng giáo dục Phật giáo từ hiện thực đến chứng nghiệm được phác họa một cách rõ ràng từ sở Bồ-đề tâm.
  1. KẾT LUẬN
Vấn nạn mất cân bằng trên cán cân giáo dục ĐôngTây, đang được nhiu nhà nghiên cứu giáo dục quan m. Trước các vn nạn giáo dục bị chỉ trích là nặng về lượng, nhẹ về cht, mà các nhà kinh tế học ví von là lm phát giáo dục, hay gi theo y khoa là béo pgiáo dục, đang trở nên đáng lo ngi. Sự trùng phùng giữa hai nn triết lý, cần được quan tâm, không nên quá vội xoá bỏ những giá trị giáo dục của các Thánh triết Đông Phương. Cần chú tâm đến việc nghiên cứu các Thánh điển Phương Đông, đòi hỏi việc phải chú tâm đào tạo các ngôn ngữ: Sanskrit, Pāli Hán cổ. Song song các sinh ngữ để tiếp cận nắm bắt các nghiên cứu hàn lâm của các học giả ĐôngTây.
Phương tiện, không phải kéo giáo Phật xuống để ngang bằng thời đại, pháp yếu đức Phật dạy vốn như vậy, tuỳ thời tuỳ xứ vận dụng cho thích ứng. Đối với những ai suythực tiễn, đức Phật dạy chânthường nghiệm, để họ thoả mãn nhu cầu hiểu biết, khát vọng tri kiến, sống an lạc trong kiếp phù sinh. Đối với những ai muốn vượt lên cái thường nghiệm, đức Phật dạy những chânsiêu nghiệm, thoát ly mọi cố thủ khát ái, đạt đến giải thoát giác ngộ chơn thật14.
Nếu cần một đường hướng cho giáo dục Phật giáo thì nguyênhai Sự thật, xây dựng trên sở Bi tâm Bồ-đề tâm, triển khai cụ


    1. TT. Tuệ Sỹ, Thắng man giảng luận, tr. 22.
    2. Xin xem, Tham luận Vesak 2019, Nền tảng giáo dục Phật giáo, cùng tác giả.
 

thể qua Bốn Thánh đế, thực thi qua các chi phần của Bát Thánh đạo, hy vọng đóng góp nhiều nguyên lý chỉ đạo cho con đường giáo dục tại Học viện Phật giáo Việt Nam trên bối cảnh hội nhập diễn đàn giáo dục toàn cầu.



***




Tài liệu tham khảo
Buddhist Sanskrit Texts, No 3: Saddharmalakāvatāratram, ed. by
P.L. Vaidya, Darbhanga: The Mithila Institute, 1963, p. 10.
Buddhist  Sanskrit  Texts,  No.  5:  Gaavyūhatram,  ed.  by  P.L. Vaidya., Darbhanga: The Mithila Institute, 1960, p. 396.
Taishō Tripiaka (大正新脩大藏經), Vol. 05, no. 0220a, 大般若 波羅蜜多經 392, p. 1026c26.
Taishō Tripiaka (大正新脩大藏經), Vol. 26, no. 1537, 阿毘達 磨法蘊足論 6, p. 480a3.
Phước Nguyên dịch chú, A-tì-đạt-ma Pháp uẩn túc luận, 2018, tr.
350-357.
Hoàng Chương, Bút nở hoa đàm, Vạn Hạnh, 1967.
Phước Nguyên, Giới thiệu Nguồn gốc A-di-đà, 2018, tr. 235-237.  TT. Tuệ S, Huyền thoi Duy-ma-cật, Nxb. Phương Đông, 2007, tr.
237.
TT. Tuệ S, Thng man giảng luận, Nxb. Phương Đông, 2012, tr. 33.
Phước Nguyên dịch & chú, Thánh pháp Nhập Lăng-già kinh - Phạn bản tân dịch, Nxb. Hồng Đức, 2019, tr. 51-52.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây