16. HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC TĂNG NI

Thứ sáu - 06/12/2019 20:46
 

HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN
CÔNG TÁC GIÁO DỤC TĂNG NI

 
                                  Nguyễn Đại Đồng                             



Sau ngày tnh lp Giáo hi Tăng già Toàn quốc (14.9.1952) Thượng ta TLiên với tư cách là Tng Thư ký Giaso hi Tăng già Việt Nam đã đề xuất với Hội Phật giáo Thế giới các nước hội viên chấp nhận các nhà trẻ Phúc Tuệ (Quảng Độ), Chân Từ (Thanh Kiểm), Quảng Minh, Tâm Giác, Trí Không, Minh Châu... sang Ấn Độ, Nhật Bản Sri Lanka tu học Phật pháp. Sau ngày tốt nghiệp về nước họ trở thành cầu nối Phật giáo Việt Nam với Phật giáo quốc tế.
Cách đây 80 năm trước sự suy thoái của Phật giáo nước ta thể hiện chủ yếu trên 2 phương diện sự dốt nát đốn của Tăng đồ, sự chia rẽ các tông phái, Giáo thụ Thiện Chiếu - trụ trì chùa Linh Sơn, Sài Gòn Tỷ khưu Tự Lai - trụ trì chùa Hang (Tiên Lữ động tự) Thái Nguyên đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà một trong những nội dung chấn hưng phải “Lập Phật gia công học hội để đào tạo những bậc cách đúng đắn để truyền giáo”1, “Nên đặt ra 3 bậc học ở trong ba nơi Phật gia công học hội Nội, Huế, Sài Gòn. dụ: cấp thời để ở Nội,

  1. Chấn hưng Phật giáo nước nhà, Thiện Chiếu, Đông Pháp Thời báo số 532, ra ngày 14.01.1927.

Trung cp thì để ở Huế, Cao cp thì để ở Sài Gòn2 nghĩa là, để chấn hưng Phật giáo, một trong những công việc cần kíp Tăngphải được đào tạo bài bản theo một chương trình mới, mới truyền được giáo pháp của đạo Phật trong nhân dân.
Nhận thức được sự quan trọng cấp thiết này Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã coi công tác giáo dục Tăng Ni một trong những nhiệm vụ hàng đầu (nhất đối với Tăng Ni thanh niên). Ban Giáo một trong 10 ban chuyên môn được lập ngay khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ ra đời cuối năm 19433. Công tác giáo dục Tăng Ni luôn một trong những nội dung chính của các cuộc họp đầu tiên của Hội4.
Hội trưởng Hội Phật giáo Bắc Kỳ Nguyễn Năng Quốc ngay khi bắt đầu tổ chức nên Hội đã xác định “cái công cuộc chấn hưng thứ nhất tôi đã để ý muốn săn sóc ngay đến việc học ở chốn Thuyền môn. Sự săn sóc đến việc học đó, tứctrau dồi về đường tinh thần của nền Phật giáo, nghĩa muốn chấn hưng Phật giáo nước nhà, thì tất phải chú trọng về mặt tinh thần, cũng như về đường vật chất”5. Đồng thời với tổ chức khóa Hạ mở lớp học Phật học tại chùa Quán Sứ trong năm 1935, Hội đã những bước chuẩn bị tích cực cho việc mở trường Phật học:
Tháng 3 năm 1936, trong chuyến vào dự lễ Nam Giao do Nam Triu tổ chức, Hi trưởng Nguyn Năng Quốc đã đưa các Hòa thượng: Bng Sở, Trung Hu, Phúc Chỉnh, cụ Bộc và sư ông Trí Hải đi Huế để khảo sát việc thuyền học thăm các trường học do Hi Pht học Trung Kỳ mới mở.
Tiếp đó, ngày 17.8.1936, Hội cử Thượng tọa Tố Liên vào Huế tham cứu các chương trình Phật học. Thượng tọa đã đàm đạo với


  1. Nói về sự lập ra Phật gia công học hội, Tỷ khưu Tự Lai, Khai Hóa Nhật Báo số 1657 ra ngày 12.2.1927.
  2. Biên bản số VII cuộc họp Ban Quản Trị Ban Đạo Trung ương ngày 14.12.1934, tập Kỷ yếu số 1 Hội Phật giáo Bắc Kỳ ra tháng 5 năm 1935.
  3. Biên bản số XII, cuộc họp Ban Quản trị Trung ương ngày 17.2.1935. Tập Kỷ yếu số 1 Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Biên bản số XXII, họp Đại hội đồng thường niên Trung ương Hội Phật giáo Bắc Kỳ, ngày 10 tháng 5 năm 1935 tại chùa Quán Sứ. Tập Kỷ yếu Hội Phật giáo Bắc Kỳ.
  4. Đuốc Tuệ, số 62 ra ngày 15 tháng 6 năm 1937, tr. 20.
 

ông Lê Đình Thám PHi trưởng Hi Pht học Trung K, ri đến chùa Tây Thiên Di Đà tức trường Đại học, Trung học của Hội. Từ hôm sau cứ 2 buổi tham học ở chùa Tây Thiên, 1 buổi nghe sách ở chùa Trúc Lâm trường Tiu học, một bui nghe sách ở trường Ni chùa TĐàm và thêm 1 bui theo học khóa lễ đại chúng. Trường Trung học Trúc Lâm có 50 người, trường Ni có 40 người chương trình học cũng như trường Tăng, chỉ dạy thêm những công việc nữ công, phụ hạnh.
Ngày 20.9.1936, Thượng tọa Tố Liên đi Huế về, đề xuất với Ban Giáo sư Hi Pht giáo Bắc Kỳ: Tôi nghe nói trường Pht học ở Huế códyctriếthọc Đông Tây, nếungoài Bắctacómtrường Phthọc cũng nên theo chương trình Phật học ở Huế, rồi tùy châm chước giáo huấn thì Phật học hiện hữu mới được tiến đạt. Chuyến đi tham cứu trường Phật học ở Huế chi “hết 20$00 của Hội chỉ được mấy tờ chương trình Phật học ít câu chuyện góp không biết phải phí của thập phương Tam bảo không? Nhưng sách nói: “Thực lòng làm việc Phật pháp thì một ngày ăn đến lạng vàng cũng thể tiêu được”6. thể nói Thượng tọa Tố Liên người công đầu trong việc thành lập trường Phật học ở xứ Bắc. Từ “bột” mấy tờ chương trình Phật học ít câu chuyện góp đó.
Ngài đã cùng Ban Thuyền học Hội Phật giáo Bắc Kỳ dựng được chương trình Pht học cho cả ba cp: Sơ học, Trung Học và Đại học “gột nên hồ”: Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 14.12.1936 trường Phật học Hội Phật giáo Bắc Kỳ làm lễ khai giảng tại chùa Quán Sứ. Trường có 70 ng sinh, chia 3 lớp: lớp Đại học (20 người), lớp Trung học (30 người) và 20 Tăng sinh lp Tiu học. Do chun bị trùng tu chùa Quán Sứ nên hai lớp Đại học Trung học đặt tạm tại chùa Sở (tức chùa Phúc Khánh, Ngã Sở,Nội); lớp Tiểu học đặt tại chùa Quán Sứ. Chánh Đốc giáo Tổ Bằng Sở (HT. Phan Trung Thứ), Phó Đốc giáo HT. Dương Văn Hiển (Tổ Tế Cát), các giảng Hòa thượng trụ trì chùa Phù Lãng


  1. Đi tham cứu trường Phật học ở Huế, Tố Liên, đăng trên báo Đuốc Tuệ số 45 ra ngày 20.10.1936.
 

Trung (Bắc Ninh), Tài Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ông Nguyễn Quang Oánh ...
Chương trình học nội điển, ngoại điển của các trường này khác hẳn với hai cách tu học truyền thống của Phật giáo xứ Bắc Tăng Ni tu học tại mỗi ngôi chùa vào các kỳ an cư kiết hạ. thể nói việc Hội Phật giáo Bắc Kỳ mở các trường Phật học ở 3 cấp đào tạo theo lối mớimột bước ngoặt trong công tác giáo dục tăng tài của Phật giáo xứ Bắc.
Việc mở trường Phật học của Hội đã được các nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên đã mở tùng lâm Văn Miếu Hưng Yên tự lo giảng lương cho tăng sinh theo học. Ngày 28.11.1940, cụ Hoàng Thị Uyển (cụ Cả Mọc) Hội trưởng Hội Tế Sinh Hà Ni đã cúng vào Trường Thuyn học Hi Pht giáo Bắc Kỳ một ngôi chùa mới tân tạo cùng 31 mẫu ruộng 43 mấu thổ thuộc địa phận làng Đông Bài, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên (nay sân bay quốc tế Nội Bài). Để đáp tấm lòng chân thành của cụ, Ban Thuyền học đã cho rời trường Tiểu học từ chùa Quán Sứ lên Kim Anh, thành lập trường Tiểu học Cao Phong. Ngày 2.12.1940, Thượng ta Trịnh Mnh Đinh, giám vin chùa Côn Sơn đã cúng cho Hội Phật giáo Bắc Kỳ, Hội đã cử Thượng tọa Tố Liên về Chí Linh, Hải Dương trụ trì chùa này mở trường Tiểu học Côn Sơn (Tùng lâm Côn Sơn). Ngài vừa tổ chức khai khẩn cach tác 50 mẫu ruộng tại đây vừa tham gia giảng dạy Tăng sinh.
Như vậy tới năm 1941, Hội đã lập được 4 trường Phật học: Đại họcchùa S, trường Trung học ti chùa Quán S, trường Tiu học Cao Phong (Phúc Yên) Côn Sơn (Hải Dương) với 69 học Tăng.
Năm 1941, ông chủ hiệu Nhật Chươngphố Hàng Thiếc, Nội bạn thân của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha cúng cho Hội một mẫu ruộng toàn bộ số tiền xây dựng trường.nằmQuán Bún, làng Mọc Thượng Đình (Km số 7 đường tàu điện Nội - Đông). Hội giao cho ông Kha trông coi việc này. Khởi công từ giữa năm 1941 đến cuối năm 1944 Hội làm lễ khánh thành trường (được đặt tên Phổ Quang) tổ chức chiêu sinh. Ông Nguyễn 
Quang Oánh thanh tra nha Học chính Bắc Kỳ đã hưu trí được cử làm Giám đốc và sư ông Vô Vi làm Trưởng giáo.
Trường có ban Sơ đng (gồm các lớp Sơ đng, Dự bị, Đng u) khai ging ngày 3.1.1945; Ban Trung đng (m thứ 2 và m thnhất); Ban Cao đẳng (đủ 6 lớp). Mỗi học sinh xin học phải giấy khai sinh, xin vào nhng lớp Trung đng và Cao đng phải có học bạ giấy chứng nhận của trường cũ. Học qui của trường theo như trường công. Với học phí thấp hơn trường ngoài, lại dạy cả nghề tiểu thủ công (vừa học vừa làm), trường Phổ Quang đã cuốn hút được nhiều học sinh gia cảnh khó khăn nhưng chí tiến thủ nhập học. Trường Phổ Quang là trường vừa học vừa làm đu tiên ở xBắc - một mô hình giáo dục sáng tạo của Hội, được nhiều người ủng hộ.
Để người đi làm giám thụ các trường Tăng học địa phương (tức định cách chọn học sinh đặt chương trình giáo dục cho lớp học), ngày 16.10.1937, Theo đề nghị của HT. Trung Hu, Hi trưởng Nguyễn Năng Quốc đã triệu tập chư Tăng họp phiên bất thường tại chùa Quán Sứ Nội bầu Ban Tốc thành phạm chư tăng tức mở lớp phạm tốc thành. Đây một ý tưởng mới táo bạo. Rất tiếc cho đến cuối năm 1938, do Tăng sinh nhập học qúa ít, Hội lại phải tập trung kinh phí và nhân lực để làm chùa Quán Sứ nên phải hoãn lớp tốc thành phạm7.
Ít lâu sau, ngày 28.11.1937, Hội trưởng Nguyễn Năng Quốc, ông Nguyn Trng Thut, sư cụ Bng Sở - Trưởng ban Tài chính kiêm Chánh trụ trì chùa Sở, cụ Tế Cát, cụ thủ quỹ trụ trì chùa Hương Tích, cụ Cồn Đương gia chùa Quán Sứ, cụ Ngũ kế toán, cư sĩ Nguyễn Hữu Kha, giám sát cụ Bát Mẫu, đã họp tại chùa Quán Sứ, để bầu thêm Ban Trị sự Phật học Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Hội đồng bầu Ban Chuyên trách đi khuyến hóa cả thập phương chùa cùng các thiện tín ở địa phương lo việc tài chính cho các trường của Hội, gồm: cụ Chánh giám trường, các ông: Phù Tải (Kim Thành,

  1. Biên bản kỳ hội đồng bất thường chư Tăng. Đuốc Tuệ, số 72 ra ngày 1.11.1937, tr. 43-44; Công đức Thuyền học của Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Đuốc Tuệ, số 90, 1.8.1938, tr. 9 -10.

Hải Dương), Thanh Yên (Nam Sang, Nam), Mặc (Bình Lục, Nam), Phóng tự Thanh Mai đệ tử tổ chùa Muống, Hải Dương. Thượng tọa Tố Liên được bầu làm Thư ký.
Tuy nhiên, những khóa học, lớp học đầu tiên của các trường Phật học ở Bắc Kỳ chỉ dành cho tăng sinh. Chính vậy, Ni Tâm Nguyện trên báo Đuốc Tuệ, số 60 ra ngày 1 tháng 5 năm 1937 đã đăng bài “Lời than phin của ni cô Tâm Nguyn. Bày tsự bức xúc trước tình hình các trường Phật học do Hội đã mở trong thời gian qua chỉ dành cho tăng giới cho rằng, điều này một sự thiên vị và khinh thường ni giới chúng tôi. Từ đó, một mt, Ni sư mong Hội mau chóng lập trường Phật học dành cho Ni giới “để chị em nữ ni niên thiếu nơi học hành, thầy dậy bảo, mong một ngày kia cũng xin đương vai gánh vác Phật pháp tuyên dương giáo hóa cho nn dân, cho khi phụ chí hướng xut gia đu Pht.
Mặt khác, để thể hiện sự nhiệt huyết của mình, Ni Tâm Nguyện còn đề nghị phía Ni giới phải chủ động “hợp sức cùng nhau mở trường Phật học để chị em ta nơi ăn học, chứ không nên bắc nước chờ go người. Vic này, theo Ni sư Tâm Nguyn là có tính khả thi cao, bởi vì: “Nếu bây giờ các vị Thượng tọa bên Ni hiệp sức cùng nhau, nhờ bên Tăng giúp đỡ phương pháp, thì trường học của chúng ta dựng tnh dễ như trbàn tay. Đáp ứng yêu cu trên của Ni giới, Hội đã lập trường Ni học (có 1 lớp Tiểu học 1 lớp Trung học) do tBng Slàm Chánh Đốc giáo ở chùa Bồ Đ, Gia Lâm, Hà Nội (ban đầu đặt tại chùa Bút ThápBắc Ninh) do các vị Thượng toạ Ni mời các Ni Huế ra giúp về việc giảng dạy với trên 30 ni sinh. Tng sTăng Ni sinh ở 5 trường thin học của Hi đã lên tới hơn 100 vị8.
Sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Thượng tọa Tố Liên người nhiệt liệt ủng hộ lời kêu gọi “diệt giặc dốt” của Chtịch HCMinh. Trong bài Tăng già muốn ng cao trình


  1. Tờ trình của Phó Hội trưởng Bùi Thiện Căn tại Đại hội đồng Hội Phật giáo Bắc Kỳ họp ngày 13.9.1942.

độ thời phải nhiệt liệt tham gia vào việc Bình dân học vụ” đăng trên nguyệt san Diệu Âm số ra tháng 6 năm 1946 - quan hoằng pháp của ủy ban Tăng già Bắc Bộ, Thượng tọa viết: “Các chiếnquyết hy sinh tính mệnh ra nơi chiến địa, chiến đấu với quân thù để giữ vững non sông đất nước, thì đằng này các giáo viên hy sinh hết tâm lực thì giờ để tiễu trừ giặc dốt cho quốc dân, hai đường đều công ân cứu quốc cả.
Riêng tôi, thì tôi nhận thấy việc Bình dân học vụ còn mật thiết hơn” Ngài, vớicách Phó chủ tịch ủy ban Tăng già Bắc Bộ đề nghị .... toàn cõi Vit Nam mi chùa đu lp 1 trường BDHV, trường học đó lại trụ sở tuyên truyền báo chí, đó một phương pháp cải tổ nhân tâm rất giản dị rất nhiều hiệu quả. Hầu khắp nước Việt Nam, làng nào cũng chùa, vị chủ chùa nào cũng gắng gỏi cũng nhiệt liệt với công cuộc Bình dân học vụ như vậy thì chẳng cần phải bỏ bút mặc chiến bào vẫn thành công tiễu trừ giặc dốt xóa cái nạn dân ngu như vậy chả một biện pháp cứu quốc có hiu lực ư. Chủ trương của Ngài đã được các chùa ủng h, nhiu Tăng Ni đã trở thành thầy giáo góp phần tích cực vào công cuộc xóa nạn chữBắc Bộ.
Tháng 10 năm 1948, Thượng tọa Tố Liên trở về chùa Quán Sứ, Hà Ni cùng một svị như Lê Toi, Trn Văn Đi, Nguyn Đình Dương, Văn Quang Thùy... vận động tái thành lập Hội đề nghị thành phố giúp đỡ Phật sự. Nhận thấy nhiều trẻ em Nội thất học do thiếu trường sở, Thượng tọa đã cùng các vị nói trên xin phép thị trưởng thành phố thành lập trường Bảo trợ Giáo dục Nhi đồng tại chùa Quán Sứ, dạy theo chương trình thế gian.
Từ 1.2.1949, nhờ sự vận động của Thượng tọa Tố Liên, phủ Th hiến Bắc Việt trợ cấp cho trường Bảo trợ Giáo dục Nhi đồng tại chùa Quán Sứ mỗi tháng 5.000 đồng. Từ 1.5.1949, mỗi tháng phủ Th hiến Bắc Việt trợ cấp cho trường Bảo trợ Giáo dục Nhi đồng của Hội tại chùa Quán Sứ một vạn đồng.
Theo sáng kiến của Hội trưởng Tố Liên Thượng tọa Trí Hải ngày 23.9.1949, trường Tăng học bậc tiểu học dạy theo chương 
trình của Bộ Quốc gia Giáo dục mang tên Khuông Việt được thành lập theo quyết nghị của Uỷ ban chấp hành Hội Tăng Ni Bắc Việt đặt tại chùa Quán Sứ (trên gác) do ông Nguyễn Ngọc Quỳnh một vị hi viên làm Hiu trưởng. Hòa thượng Tuệ Tng - Tâm Thi (tCồn) làm Đốc giáo đã làm lễ khai giảng.
Trước sphát trin của đi ngũ sư Ni, Thượng ta TLiên đã bàn với các vị trong Ban Quản trị nhanh chóng thành lập trường Ni học. Nhờ sự quan tâm của Ngài sự giúp đỡ của Hội Phật học Trung Vit ngày 27.9.1949, Trường Ni học cũng mang tên Khng Việt đặt tại chùa Vân Hồ (nay thuộc phường Đại Hành, quận Hai Bà Trưng) Hà Ni đã làm lễ khai ging. Trường do Ni sư Đàm Soạn làm Giám học Quản chúng (năm 1951 mời Ni Đàm Đậu thay mình để chuyên lo việc giảng dạy). Hòa thượng Tuệ Tng và các Thượng ta TLiên, Trí Hải đã được mời làm ging sư của trường, ngoài ra trường còn mời một số Ni trong Huế ra dạy. Chương trình học ngoài nội điển còn tiếng Hán, khoa học phổ thông tiểu công nghệ.
Thượng tọa Tố Liên người đầu tiên khai thông việc cử tăng sinh ra nước ngoài đào tạo bản. Với tầm nhìn chiến lược lâu dài phát triển Phật giáo nước nhà, tại hội nghị bất thường Hội Phật giáo Thế giới tại Colombo, Sri Lanka (19.2.1951) nhân danh Đại diện Ban chấp hành Hội Phật giáo Thế giới tại Việt Nam Thượng tọa đã yêu cầu Hội Phật giáo Thế giới giúp đỡ cho các học sinh tăng Việt Nam được dễ dàng sang học Phật Pháp tại Sri Lanka, Ngài dự định gửi ngay 3 Tăng sinh sang một lúc sau khi dàn xếp xong. Nguyên lão nghị viên Justn Kotelawala hứa sẽ phát tâm cúng hàng tháng 75 Rupi để cúng dường 3 vị học sinh Tăng này về việc ăn học. Thượng tọa Tố Liên tỏ lời cảm ơn ngài ước định gửi ngay số Tăng học sinh ấy trong thời gian gần nhất.
Sau ngày tnh lp Giáo hi Tăng già Toàn quốc (14.9.1952) Thượng ta TLiên với tư cách là Tng Thư ký Giáo hi Tăng già Việt Nam đã đề xuất với Hội Phật giáo Thế giới các nước hội viên chấp nhận các nhà trẻ Phúc Tuệ (Quảng Độ), Chân Từ (Thanh 
Kiểm), Quảng Minh, Tâm Giác, Trí Không, Minh Châu... sang Ấn Độ, Nhật Bản Sri Lanka tu học Phật pháp. Sau ngày tốt nghiệp về nước họ trở thành cầu nối Phật giáo Việt Nam với Phật giáo quốc tế.
Ngày 12 tháng 10 năm 1952, đọc thông điệp tại Đại hội Phật giáo Thế giới ln thhai tại Tokyo, Nht Bn trưởng phái đoàn Vit Nam Thích Tố Liên kêu gọi: “Phật tử phải thực hiện một sự lớn lao nữa trong địa hạt giáo dục, những người thiếu giáo dục sẽ bị người đời coi khinh. Riêng đọc sách không cũng chưa đủ. Người còn ngu dốt, người công dân thiếu giáo dục sẽ những gánh nặng cho chủng tộc. hiện nay cần phải bành trướng nền phổ thông giáo dục cho quảng đại quần chúng chứ không phải chỉ riêng sự học chuyên nghip. Toàn thể dân chúng phải được giáo hóa để nhận định nhng điu phải trái. Trong sgiáo hóa qun chúng để đt được kết quả mầu nhiệm hơn cả phải công cuộc hoằng dương Phật pháp. Quảng đại quần chúng sẽ được giáo hóa để hiểu những bổn phận trách nhiệm để tạo thành những cuộc sống thực tế hữu dụng. Dân chúng phải nhận định rằng đức hạnh văn hóa một vấn đề chung. Những sự mê tín làm bại hoại phong hóa tổn hại tiền tài. Chính thế chư Tăng Ni phải giáo hóa để giác ngộ dân chúng. Nam nữ thanh niên phải được huấn luyện để hiểu về Giới luật, về Chính tư duy Chính mệnh.
Phải chăng đó những lời tâm huyết về giáo dục Tăng Ni hoằng dương Phật pháp của Đại lão Hòa thượng Tố Liên - một cao tăng tài đức tấm gương sáng cho đàn hậu tiến chúng ta ngày nay.



***
 
252

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây