15. CHÂN DUNG CÁC VỊ CÓ CÔNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI CẬN ĐẠI

Thứ sáu - 06/12/2019 21:19
CHÂN DUNG CÁC VỊ CÔNG
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI CẬN ĐẠI

 
TT. Thích Tng Thin
 
Vào thời kỳ cận đại, những tấm gương sáng chói của phong trào phát triển Giáo dục Phật học trong đó các bậc tiền bối thạc đức học lực, tài cao, chí lớn, đức tánh hiền hòa điềm đạm, sống bình dị thân thương, nhiệt tình yêu nước mến đạo, linh động hòa hợp dung thông cho đại sự nhờ đó Phật giáo Việt Nam trở nên sáng ngời khắp bầu trời miền Nam.
Phật giáo Việt Nam bắt đầu chấn hưng từ những năm 1920. Trong nhng thập niên sau đó, 1930, 1940, chỉ có nhng trường Hương, lớp Gia giáo của những vị tôn túc cùng cư sĩ tiên khởi chấn hưng Phật giáo Việt Nam chỉ mới nói tới mục tiêu cao nhất là Cao đng Pht học cho tu sĩ Pht giáo. Trước m 1964, Sài Gòn trường Cao đẳng Phật học với tên Phật học Đường Nam Việt thuộc chùa Ấn Quang.
Sau năm 1963, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, chủ trương đào tạo nhân sự và đưa Phật giáo vào cuộc sống thường 
nhật được Giáo hội xúc tiến qua việc xây dựng một sở giáo dục bậc đại học Đại học Vạn Hạnh, làm sống dậy lòng tin cho tuổi trẻ... với châm ngôn Duy tuệ thị nghiệp, tức mọi hoạt động của sở giáo dục này cốt để phát triển trí tuệ. Viện đại học mang tên thiền Vạn Hạnh, vị danh tăng Việt Nam thời nhà
Ni dung tham lun dựa trên cơ sTrường lớp đào to ngành Phật học như một ngành khoa học về Phật giáo Đại thừa, cho nên lược bớt những mục như truyền giới, hoằng pháp… Chúng tôi cũng tạm phân định: những hoạt động giáo dục theo trường lớp như trường Hương, lớp Gia giáo, Trung cp, Cao đng thuộc vGiáo dục Học viện; Những hoạt động giáo dục thiên về hướng dẫn hành trì gọi Giáo dục Tu viện. Chúng tôi sắp xếp tiểu sử chư tôn đức thứ tự theo niên cao lạp trưởng hoạt động giáo dục của các vị chỉ khuôn trong thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX.
  1. HÒA THƯỢNG KHÁNH HÒA (1877 - 1947)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pp hiu Knh Hòa, sinh m Mu Thân (1877) tại làng Phú L, tng Bảo Tr, qun Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Ngài sinh trong một gia đình trung lưu, nề nếp Nho học, từ nhỏ đã được tiếng thông minh nết hạnh.
Năm Ất Mùi (1895), khi 19 tuổi, Ngài đến chùa Long Phước, qun Ba Tri, xin xut gia học đo. Sau đó đến tham học tại chùa Kim Cang, tỉnh Tân An, nơi đây được Hòa thượng Long Triu trực tiếp giảng dạy. Thời gian này Ngài rất chăm chỉ năng nổ trong việc học đạo, nên nghe đâu bậc thạc đức thì Ngài luôn tìm đến cầu học, không ngại gian khó, chẳng nài xa cách. Nhờ tinh thần tiến 
thủ đó Ngài đi đến đâu cũng đều được các bậc trưởng thượng quý mến.
Năm Canh Thân (1920), Ngài mở trường gia giáo để đào tạo Tăng tài hầu đảm nhiệm trọng trách hoằng dương chánh pháp, dìu dắt người sau. Bên cạnh đó Ngài cần mẫn dịch Kinh, Luật, Luận ra chữ Quốc ngữ để phổ cập được trong mọi tầng lớp quần chúng.
Năm 1928, Ngài cùng các vị Thiện Chiếu, Từ Nhẫn, Chơn Huệ Thiện Niệm lập Thích học đường Phật học Thư tại chùa Linh Sơn (Cầu Muối). Cùng năm này, chư Tôn đức tỉnh Bình Định mở trường hạ tại Tổ đình Long Khánh (Quy Nhơn), đã cung thỉnh Ngài làm Pháp chủ giảng suốt 3 tháng tại đây.
Để đẩy mạnh việc truyền Phật pháp, Ngài cùng các Hòa thượng khác cho xuất bản tập san Phật học bằng chữ Quốc ngữ tên Pháp âm. Số đầu tiên ra ngày 13.8.1929. Sau đó tập san Phật hóa Tân Thanh niên ra đời năm 1930 cũng bằng chữ Quốc ngữ nhưng nội dung tiến bộ hơn, nhắm vào hàng cư sĩ trí thức Tăng trẻ. Không lâu sau, nhiều nội ngoại chướng dồn dập, hai tập san đều ngưng hoạt động.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài cùng nhiều vị Tôn đức các cư sĩ học giả, thành lập Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học đặt Hội quán tại chùa Linh Sơn Sài Gòn, sau đó cho xuất bản tạp chí Từ bi âm (1932). Ngài được cử làm Đệ nhất Phó Hội trưởng kiêm Chủ nhiệm báo Từ bi âm. Ngài đã cổ động hàng cư sĩ Phật tử Trà Vinh, thỉnh và hiến cúng Tam Tng Kinh đin cho hi để có tài liu ng- hiên cứu diễn dịch.
Năm Quý Dậu (1933), Ngài cùng các Tổ Huệ Quang, Pháp Hải, Khánh Anh... thành lập Liên đoàn Phật học nhằm tiếp tục con đường đào tạo Tăng tài. Tổ chức này hình thức di động không trú xứ, luân phiên mỗi chùa 3 tháng phải chu toàn, đài thọ các mặt hoạt động của Liên đoàn, sau đó lại đến chùa khác. Tổ chức này ra đời bằng nghi thức khai Gia giáo, bắt đầu từ chùa Từ Hòa (chùa Tổ Huệ Quang) thuộc làng Long Hòa, huyện Tiểu Cần; rồi đến 
khai giảng tại chùa Thiên Phước, quận Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, sau đó đến chùa Viên Giác, tỉnh Bến Tre. Nhưng công việc đang hanh thông giữa chừng thì lại gặp chướng duyên, xem như gãy đổ hoàn toàn (năm 1934).
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài lại cùng các Tổ Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải... các cư sĩ tỉnh Trà Vinh thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học do Ngài làm Pháp sư. Ngài cho xuất bản tạp chí Duy tâm thỉnh Đại tạng, Tục tạng để làm tài liệu nghiên cứu dịch giảng. Bên cạnh đó Ngài còn kiến tạo Phật học đường và khóa đầu tiên được khai giảng năm Ất Hợi (1935) với số lượng học Tăng ba mươi v. Trong số đó có các Ngài Thin Hòa, Thin Hoa, Hành Tr... Hi Lưỡng Xuyên Pht học và tạp chí Duy tâm tồn tại cho đến khi chiến tranh xảy ra năm 1945.
Thời gian sau, do sức khoẻ phần suy giảm, Ngài tạm thời lui về chùa Vĩnh Bửu, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre để tịnh dưỡng chuyên tu. Nơi đây Ngài lại cho mở Ni trường Phật học để chuyên chú cho Ni giới. Các Ni tốt nghiệp trường này Diệu Ninh (Thường gọi Ni Vĩnh Bửu sau Quảntrụ sở Ni bộ chùa Từ Nghiêm Chợ Lớn).
Ngài viên tịch vào ngày 19 tháng 6 năm Đinh Hợi (1947), tại chùa Tuyên Linh, hưởng thọ 70 tuổi đời, 40 tuổi đạo.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH KHÁNH ANH (1895 - 1961)
Hòa thượng họ tên Hóa, hiệu Khánh Anh sanh năm Ất Tỵ (1895), tại xã Phổ Nhì, Tng Lại Đức, Huyn Mô Đức, Tỉnh QunNgãi (Trung phần Vit Nam). Hòa thượng theo đòi Nho học, từ nhỏ đã tỏ ra một bậc xuất sắc thời ấy.
Năm 1916, chán cảnh thế phù hoa, cuộc đời thường giả tạm, Ngài quy y thọ giới nơi cụ chùa Cảnh Tiên với Pháp danh Chơn Húy nhập chúng làm đạo tu ở chùa Quang Lộc, tỉnh Quảng Ngãi năm 1917. Ngài thọ giới Sa di nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ kheo, Bồ tát với Pháp hiệu Khánh Anh.
Năm 1927, Ngài vào Nam dạy học tại trường Gia giáo chùa Giác Hoa, tỉnh Bạc Liêu năm 1931 Hòa thượng về trụ trì chùa Long An (Đồng Đế) quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Ở nơi đây Hòa thượng rất nhiều Tăng đồ, tín đồ đến cầu học.
Năm 1932, Ngài nhận chức Pháp giảng dạy cho Liên đoàn học tại Chùa Thiên Phước, Trà Ôn ba tháng, chùa Rạch MiễuMỹ Tho ba tháng.
Năm 1935, Ngài nhận chức Đốc giáo tại Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) hợp tác với quí Hòa thượng Tuyên Linh (Lê Khánh Hoà), Hòa thượng Huệ Quang (cố Pháp chủ G.H.T.G.N.V) để xây dựng quan đào tạo Tăng tài hầu truyền trì đạo pháp tại miền Nam; Hòa thượng bắt đầu viết nhiều bài cho báo Phật giáo, trong đó báo Duy tâm Phật học để cổ xúy việc chấn hưng phong to Pht học nước nhà hu kịp các nước Pht giáo bn như Trung Hoa, Nhật Bản v.v…
Năm 1940, Ngài làm Pháp dạy trường hương chùa Thiên PhướcTân Hương (Tân An) ba tháng.
Năm 1941, Ngài đến dạy trường hương chùa Linh Phong Tân Hiệp.
Năm 1942, Hòa thượng về trụ trì chùa Phước Hậu, quận Trà Ôn (Cần Thơ) mở những lớp Phật pháp cho Phật học cư sĩ, cho đến năm 1945 Hòa thượng đến dạy Tăng, Ni tại chùa Long Hòa Tiểu Cần (Trà vinh).
Năm 1946, Hòa thượng nhập thất tại chùa Phước Hậu (Trà Ôn), 
để nghiên cứu Tam Tng Kinh, son tho, phiên dịch rt nhiu kinh sách, đã được ấn hành mãi cho đến năm nay vẫn còn bản thảo.
Đầu năm 1955, Hội Phật học Nam Việt thỉnh Hòa thượng vào Ban Chứng minh Đạo sư.
Ngày mồng 1 tháng 3 Đinh Dậu (31-3-1957) toàn thể đại hội Tăng, Ni Phật tử miền Nam tại chùa Ấn Quang suy tôn Hòa thượng lên ngôi pháp chủ để lãnh đạo tinh thần Phật giáo miền Nam.
Cũng tại chùa Ấn Quang Chợ Lớn, một Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc kỳ II, ngày 10 tháng 9 năm 1959, toàn thể hội nghị đã long trọng suy tôn Hòa thượng lên ngôi Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc, để cầm cương lãnh vận mệnh Phật giáo Việt Nam.
Từ ngày lên ngôi Thượng thủ kiêm Pháp chủ, Hòa thượng vẫn thường lưu trúchùa Ấn Quang, để đôn đốc Phật sự tiếp tục phiên dịch, trước tác, các bản thảo bây giờ còn chưa viết hết. Hòa thượng luôn luôn tinh tấn tu trì, không giờ phút nào quên câu niệm Phật để cầu sanh Tây phương.
Tưởng rằng tuổi thọ còn dài, chúng tôi được tin Hòa thượng viên tịch hồi 4 giờ chiều ngày 30 tháng giêng Tân Sửu (16/4/1961) tại chùa Phước Hậu sau khi viếng chùa(chùa Long An, Đồng Đế, Trà Ôn) trở về; trước giờ thị tịch, Ngài cho gọi các đệ tử đến dặnsự tu học, hành đạo khuyên bảo rồi niệm Phật về cõi Tịnh.
    • Tác phẩm
Hoa Nghiêm nguyên nhân luận. Nhị khóa hiệp giải.
25 Bài thuyết pháp của TháiĐại Sư. Tại gia cư sĩ luật.
Duy thức triết học. Quy nguyên trực chỉ.
Khánh Anh văn sao (3 tập).
  1. HÒA THƯỢNG HÀNH TRỤ (1904-1984)
Hòa thượng Pháp danh Thị An, Pháp tự Hành Tr, Pháp hiu Phước Bình, thuộc dòng Lâm tế Chúc Thánh (1) đời thứ 42. Ngài thế danh An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài xuất gia năm 12 tuổi ở chùa làng. Đến năm 19 tuổi, được Hòa thượng Giải Tường chùa Phước Sơn thế độ làm đệ tử học tại đây. Năm 22 tuổi Ngài thọ Cụ Túc giới giữ chức thư trong chùa.
Năm 1936, Ngài được mời làm Giáo thọ sau khóa trường hương do Hội Lưỡng Xuyên Phật học tổ chức tại chùa Long PhướcVĩnh Long. Sau đó, Ngài được cử ra Huế học tại Phật học đường chùa Tường Vân, rồi đến chùa Tây Thiên với học tăng cả ba miền tham dự, do Quốc Phước Huệ làm Pháp chủ giảng dạy.
Năm 1940, bệnh trầm trọng, Ngài phải trở vào Nam điều trị, lại giảng dạy tại Ni trường chùa Kim SơnPhú Nhận.
Năm 1942, Ngài được Tổ Khánh Hòa bổ về Sóc Trăng làm Giáo thọ giảng dạychùa Hiệp Châu, chi hội Kế Sách của Hội Lưỡng Xuyên Phật học chùa Viên Giác tại Vĩnh Long.
Năm 1945, Ngài được Hòa thượng Vạn An mời về làm Giáo thọ ging dy tại chùa Hi Phước, Nha Mân tỉnh Sa Đéc. Trong thời gian ấy, Ngài làm Đệ nhất Yết Ma trong Đại Giới Đàn chùa An Phước, Châu Đốc.
Năm 1946, Ngài với ba vị đệ kết nghĩa lên Sài Gòn hợp nhau lập chùa Tăng Già, hiện nay chùa Kim Liên, để tiếp độ chúng 
Tăng tựu về học. Đây Phật học đường đầu tiênđất Sài Gòn trong phong trào chấn hưng Phật giáo, mở đường cho các Phật học viện sau này phát triển.
Năm 1947, Ngài lại cùng ba vị đệ dựng nên ngôi già lam thứ hai chùa Giác Nguyên để chuyển chư Tăng về đây tu học, chùa Tăng Già biến thành trường Phật học dành cho Ni chúng. Hai đạo tràng này ngày thêm vang tiếng Tăng Ni khắp nơi về học rất đông, góp sức phần lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo tại đất Sài Gòn bấy giờ. Ngài đảm nhiệm Giám đốc Phật học đường Giác Nguyên Hóa Chủ Phật học Ni trường Tăng Già.
Năm 1948, Ngài mở Đại Giới Đàn tại Phật học đường Giác Nguyên để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni thọ trì tu học. Sau Ngài được đề cử làm Trưởng ban Nghi lễ của Giáo hi Tăng già Nam Việt vào năm 1951, làm chứng minh Đạo Hội Phật học Nam Việt tại chùa Lợi Sài Gòn cho đến cuối đời (1956 - 1984), và làm Trưởng đoàn Pht giáo Vit Nam tham dự Hi nghị Pht giáo Thế giới kỳ 4 tại Nam Vang năm 1957.
Năm 1963, Ngài khai mở Phật học đường Chánh Giác tại chùa Chánh GiácGia Định do Ngài làm Giám đốc kiêm Trụ trì. Sau đó Ngài về trụ trì thêm chùa Đông HưngTh Thiêm chọn nơi này làm chốn tĩnh tu nhập thất vào những mùa an cư kiết hạ. Năm 1967
  • 1969, Ngài làm Giới các Đại Giới đàn Hải Đức ở Phật học viện Hải Đức (Nha Trang) và Qung Đức ở Pht học vin Huệ Nghiêm (Sài Gòn).
Năm 1975, 1977 - 1980, liên tiếp Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng các Đại Giới đàn tại chùa Ấn Quang do Giáo hội Phật giáo Việt Nam Th    g nhất mở ra để truyền trao giới pháp cho giới tử toàn quốc.
Nhận thấy thời gian đồng hành với lão bệnh, phát sinh nơi thân tứ đại, từ năm 1976 trở đi, Ngài phát nguyện nhập thất an tịnh cho đến khi về cõi Phật. Vào ngày 29 tháng 10 năm Giáp (1984), huyễn thân Ngài nhẹ nhàng chuyển hóa. Ngài trụ thế 80 năm, được 59 hạ lạp.
  • Tác phẩm
  • Sa Di Luật Giải. - Qui Sơn Cảnh Sách. - Tứ Phần Giới Bổn Như Thích. - Phạm Võng Bồ Tát Giới. - Kinh A Di Đà Sớ Sao. - Kinh VTng Hữu Thuyết Nn Duyên. - Kinh Hin Nn. - Kinh TrKhủng Tai Hoạn. - Tỳ Kheo Giới Kinh. - Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn. - Long Thơ Tịnh Độ. - Đẳng Phật học Giáo Khoa Thư. - Nghi Thức Lễ Sám. - Kinh Thi Ca La Việt. - Sự Tích Phật Giáng Thế.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN HÒA (1907-1974)
Hòa thượng pháp hiệu Thích Thiện Hòa, thế danh Hứa Khắc Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân Nhựt Chợ Lớn.
Cũng năm mười lăm tuổi, Ngài phát tâm mộ đạo, tìm đến chùa Long Triu trong lòng để quy y thọ giới với TBửu Sơn và được pháp danh Tâm Lợi, hiệu Thiện Hòa.
Năm lên 28 tuổi, nội từ trần, thế hiếu nghĩa đã vẹn toàn, Ngài quyết chí xuất gia. Sắp đặt việc gia đình xong, Ngài đến yết kiến Tổ Bửu Sơn xin xuất gia. Tổ giới thiệu Ngài đến Tổ Khánh Hòa hin là Giám đốc Trường Pht học Lưỡng Xuyên Trà Vinh. Lxut gia của Ngài được tổ chức vào rằm tháng năm Ất Hợi (1935) tại trường Phật học Lưỡng Xuyên Trà Vinh.
Tuy mới xuất gia nhưng phong cách đã vượt chúng bạn, nên tất cả đều đồng ý cử Ngài làm Chánh Trị sự của trường. Nhờ sự chăm chỉ học hành, tinh tấn tu tập, giới luật trang nghiêm tận tâm phục vụ chúng Tăng nên được Ban Giám đốc nhà trường yêu mến ngợi khen, toàn chúng đều quý kính Hòa thượng như người anh cả.
Đến năm 1949, Hòa thượng hợp tác với cụ Tố Liên thành 
lập Giáo hội Tăng Ni Chỉnh (tiền thân Giáo hội Tăng Già toàn quốc) mở Phật học đường đào tạo Tăng Ni tại chùa Quán Sứ Nội. Nơi đây, ngoài chức Giám trường, Hòa thượng còn trợ bút cho Tạp chí Phương tiện Bồ đề Tân văn.
Tóm li, Hòa thượng tham học ở Trung chín năm (1936-1945), ra Bắc năm năm (1945-1950) 14 năm, chỉ một lần đi một lần về.
Sau khi về Sài Gòn, Hòa thượng dừng lạichùa Sùng Đức, nơi đây chỗ hợp nhứt hai Phật học đường Liên Hải Mai Sơn Hòa thượng đã hợp tác với quý Thượng tọađây thành lập một Ban Giám đốc của Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng được cử làm Giám đốc. Sang năm 1951, Thượng tọa Thích Trí Hữu cúng cho Hòa thượng ngôi chùa nhỏ hiệu Ứng Quang nằm bên đường Lorgeril (Sư Vạn Hạnh) gần ngã ba Vườn Lài. Hòa thượng cho sửa chùa này thành trường học để hiệu Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang khóa đầu tiên được khai giảng vào mùa an năm Tân Mão (1951), quy tụ được Tăng chúng cả ba trường trên các nơi lần lượt đến tu học.
Sau Phật học đường Nam Việt Phật học viện Giác Sanh năm 1960, Phật học viện Huệ Nghiêm năm 1964 đều do Hòa thượng sáng lập. Đặc biệt của Phật học viện Huệ Nghiêm từ một bãi tha ma hoang vng của An dưỡng Đa biến tnh trường Trung học chuyên khoa rồi tiến lên Viện Cao đẳng Phật học. Mặc dù tuổi già sức yếu, Hòa thượng vẫn giữ chức Giám luật cho trường này đến ngày theo Phật.
Đi song song với trường Tăng, Hòa thượng còn làm Giám đốc Phật học Ni trường Từ Nghiêm, sau dời về chùa Dược Phật học Ni trường Dược Sư, do Hội Phụ nữ Phật tử hiến cúng.đây cũng đào tạo thành đạt một số Ni tài đáng kể, hiện đảm đang Phật sựnhiều nơi.
Hòa thượng đã giảng dạy Giáo nhiều nơi cho các Hội Đoàn Phật tử các khóa huấn luyện ngay từ khi còn đi học, tất cả đều quý mến phát Đại Bồ đề tâm. Về già, Ngài ít giảng kinh thuyết pháp, 
nhưng nếu ai phước duyên được gặp Ngài hoặc nghe danh hiệu Ngài đều ngưỡng mộ phát lòng Bồ đề cảm thấy bớt khổ. Do đó, nhiều Thượng tọa ngoài nước cũng cho đệ tử hướng về.
  • Tác phẩm:
Tỳ-kheo Giới Kinh.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH (1917 – 2014)
Hòa thượng sinh tại làng Mỹ Luông, quận Cái Tàu Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).
Năm 1945, Hòa thượng đã cùng với Hòa thượng Thích Thiện Hoa, thành lập Phật học đường Phật Quang, Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay tỉnh Vĩnh Long), do Hòa thượng Thích Thiện Hoa làm Giám đốc, Hòa thượng làm Đốc giáo kiêm Giáo thọ.
Năm 1948, Hòa thượng về Sài Gòn thành lập Phật học đường Liên Hải, tại chùa Vạn Phước, Bình Trị Đông, huyện Long Hưng Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh), do Hòa thượng làm Giám đốc, Hòa thượng Thích Huyền Dung làm Đốc giáo.
Năm 1951, Hòa thượng cùng Hòa thượng Thích Thiện Hòa sáp nhập 03 Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang, quận 10, tỉnh Chợ Lớn (nay quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Từ năm 1951
  • 1956, Hòa thượng tham gia Ban Giảng huấn giảng dạy cho lớp Cao đẳng Phật học.
Tác phẩm
  1. Kinh Pháp Hoa: 08 quyển
  2. Kinh Hoa Nghiêm: 08 quyển
  3. Kính Đại Bát Niết Bàn: 02 quyển
  4. Kinh Đại Bát Nhã: 03 quyển
  5. Kinh Đại Bảo Tích + Đại Tp: 12 quyn
  6. Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện: 01 quyển
  7. Kinh Đa Tng bổn nguyện: 01 quyn
  8. Kinh Tam Bảo: 01 quyển
  9. Tỳ kheo giới bổn: 01 quyển
  10. Bồ Tát giới bổn: 01 quyển
  11. Kinh Pháp Hoa cương yếu: Tóm tắt
  12. Kinh Pháp Hoa thông nghĩa: Tóm tắt
  13. Cực Lạc liên hữu tập: 01 quyển
  14. Đường về Cực Lạc: Trọn bộ
  15. Ngộ tánh luận: 01 quyển
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TƯỜNG (1917 - 1984)
Hòa thượng pháp danh Thanh Giới, tự Chơn Như, hiệu Thiện Tường, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41. Ngài thế danh Ngô Văn Phải, sinh năm 1917 tại làng Bình Xuân, tổng Hòa Lạc, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).
Đến năm 19 tuổi (Đinh Sửu - 1937), nhân ngày Phật đản, Ngài tới chùa Long Quang, làng Bình Thạnh làm lễ thế phát quy y với Hòa thượng trụ trì. Trải qua bốn năm tinh tấn chuyên cần tu học,
Ngài vẫn chưa thỏa mãn được việc thâm nhập kinh tạng của mình, Ngài bèn khăn gói y bát nâu sòng lên Sài Gòn túc ở chùa Linh Sơn công quả tham học. Nơi đây, hạnh duyên được gặp Hòa thượng Phước Chí, Ngài cầu pháp thọ học sớm khuya chuyên cần được truyền trao nhiều pháp yếu.
Năm 1941, Ngài được thọ tam đàn Cụ Túc giới tại chùa Xuân Quang ở thị Phan Thiết.
Năm 1943, Ngài cùng huynh Hòa thượng Thích Thới An cùng đi nhiều nơi tham học Phật pháp. Hễ nghe đâu bậc cao đức thì Ngài tìm đến xin thụ giáo. Do đó Ngài đã gặp không ít bậc Thầy lỗi lạc như Hòa thượng Hòa Bìnhchùa Kim Huê, Hòa thượng Bửu Đạtchùa Linh Sơn - Sa Đéc...
Năm 1944, Ngài về làm trú trì chùa Long An ở Sa Đéc, tại đây diễn ra cuộc hội ngộ đáng nhớ giữa Ngài, Hòa thượng Thới An, Hòa thượng Khánh Phước với một Tăng khách đặc biệt Hòa thượng Hành Tr, nn một hôm Hòa thượng dừng bước trên đường hong pháp. Cảm mến đạo hạnh kiến thức quảng bác của Hòa thượng Hành Tr, ba vđã cung thỉnh Hòa thượng lưu lại chùa Long An để mở Phật học đường nuôi dạy Tăng chúng tu học, tôn Hòa thượng làm Huynh trưởng kiêm Hóa chủ ngôi chùa này. Bốn vị đồng phát nguyện kết nghĩa làm Tăng hữu trọn đời kề vai sát cánh bên nhau trên con đường hoằng dương chánh pháp, tiếp Tăng độ chúng.
Năm 1946, tiếp nối phong trào chấn hưng Phật giáo sau khi chiến tranh chống Pháp tạm lắng, cả bốn vị đều rời miền Tây lên Sài Gòn thành lập ngôi Tam Bảo ở vùng Khánh Hội đặt tên là chùa Tăng Già để qui tụ Tăng chúng mở trường đào tạo. Đây cũng Phật học đường đầu tiênSài Gòn.
Năm 1947, nhận thấy Tăng chúng Ni chúng về học rất đông, các vị lại lập nên ngôi già lam thứ haigần đấy chùa Giác Nguyên để tiếp độ chúng Tăng, còn chùa Tăng Già để cho Ni chúng thọ học. Về sau, chùa Tăng Già được đổi tên chùa Kim Liên.
Năm 1950, cảm mến ân đức đạo hạnh của Ngài, Hội Vạn 
Thọ hiến cúng cho Ngài ngôi chùa Vạn Thọ ở vùng Tân Định. Ngài về đấy an trụ tiếp Tăng độ chúng. Từ đó trải hơn 10 năm sau, Ngài miệt mài với công việc hoằng dương chánh pháp công gầy dựng trùng tu lại các ngôi già lam khác như: Tăng Già, Giác Nguyên, Vạn Thọ, Thiền Lâm, Giác Minh, Quan Âm, Thiên Phước, Hi Tôn...
Năm 1960, Ngài trở về làm Hóa chủ Tổ đình Giác Nguyên nhiếp độ tứ chúng thay ba vị huynh đệ nhận trú xứ khác để hoằng dương Phật pháp.
Năm 1969, Ngài làm Hóa chủ kiêm Giám đốc Phật học viện Tổ đình Giác Nguyên.
Những năm sau đó, tuổi già sức yếu, Ngài chỉ an trú nơi Tổ đình Giác Nguyên, chuyên tâm trực tiếp dạy bảo đồ chúng, khu- yến giáo tín đồ. Ngài còn dành thì giờ dịch kinh, lấy việc vãng sanh Tịnh độ làm yếu chỉ. Cũng như những bậc Cao đức khác, biết trước ngày giờ trở về cõi Phật, Ngài khuyên chúng đệ tử cố gắng tu trì, xả thânđạo pháp, noi gương đạo bạn giữa Ngài ba vị pháp hữu thực hiện lục hòa đoàn kết trong Tăng giới. Vào ngày 23 tháng 8 năm Giáp Tý, tức 18 tháng 9 năm 1984, Ngài xả nhục thân thâu thần về cõi Phật, hưởng thọ 68 tuổi đời với 46 năm hành đạo.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN HOA (1918 – 1973)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 07 tháng 08 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Qui (sau đổi tên An Phú Tân), huyện Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (sau đổi tên tỉnh Trà Vinh).
Sau khi thân phụ quá cố, Hòa thượng theo thân mẫu đi chùa Phước Hậu, làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ làm lễ kỳ siêu bảy tuần thất cho cha, sau đó Hòa thượng quyết tâm xin mẹ cho ở lại chùa Phước Hậu xuất gia được cụ đồng ý, năm ấy Ngài mới được 7 tuổi. Tiếp đến Hòa thượng được gởi tới chùa Đông Phước, làng Đông Thành, huyện Cái Vồn (hiện giờ huyện Bình Minh), tỉnh Cần Thơ theo tu học với Tổ Khánh Anh được Tổ đặt cho pháp hiệu Hoàn Tuyên.
Vào năm 1945, Hòa thượng hợp tác cùng Hòa thượng Trí Tịnh khai giảng Phật học đường Phật Quang tại rạch Bang Chang, Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, sở của Thượng tọa Hoàn Tâm lãnh đạo. Số Tăng sinh đến tu học trên 30 vị. Đến năm 29 tuổi, Hòa thượng Thiện Hoa mới thọ giới Tỳ Kheo Bồ tát tại Giới đàn chùa Kim Huê, Sa Đéc. Năm 1946 1947, thấy tình cảnh chiến tranh của đất nước càng ngày càng tăng thấy Tăng sĩ một phần đã cởi áo sa mặc áo chiến bào, Hòa thượng Trí Tịnh quyết định dời về Sài Gòn.
Lúc bấy giờ Phật học đường Phật Quang chỉ còn lại một mình Hòa thượng Thiện Hoa gánh vác tất cả mọi Phật sự, thế Phật học đường này đã khó khăn lại gặp khó khăn hơn. Một mình Hòa thượng vừa dạy học, vừa lo đối phó với hoàn cảnh.
Đầu mùa xuân năm 1953, vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch, Hòa thượng cùng hàng đệ tử mang hànhlên đường đi Sài Gòn đến Phật học đường Nam Việt Ấn Quang (trong số đó thầy Thích Thanh Từ). Sau cuộc họp của Giáo hội Tăng Già Nam Việt, quý Hòa thượng đã đồng tình đề cử Hòa thượng Thiện Hoa giữ chức vTrưởng ban Giáo dục kiêm Trưởng ban Hong pp Giáo hội Tăng Già Nam Việt luôn cả chức Đốc Giáo Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
Với trách nhiệm Đốc giáo Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng đã tận tâm giảng dạy cho hai cấp nơi trường này: một lớp Cao đng và một lớp Trung đng. Đng thời Hòa thượng cũng d
lớp Trung đng Ni Chúng tại chùa TNghiêm, sau dời v Pht học Ni trường Dược sư.
Với tch nhim Trưởng ban Giáo dục trong Giáo hi Tăng Già Nam Việt, Hòa thượng đã khuyến khích mở trường Phật học ở các tỉnh như: Trường Pht học tại chùa Bình An, Long Xuyên (1956), Trường Phước Hòa ở Vĩnh Bình, Trường Giác Sanh ở Phú Th, Chợ Lớn, Trường Pht học ở Biên Hòa và Trường Pht Ân ở Mỹ Tho v.v... Hầu hết Tăng Ni miền Nam đương thời dù gián tiếp hay trực tiếp đều chịu ân huệ giáo dục ít nhiều của Hòa thượng.
Đến năm 1956, Hòa thượng chủ trương thực hiện những dự án sau đây:
  • Hợp tác với Hòa thượng Nhất Hạnh xuất bản nguyệt san “Phật giáo Vit Nam.
  • Lp nên nhà xut bn Pht giáo ly tên là “Hương Đo.
  • Chủ trương một “Phật học Tùng thư” để phổ biến những tác phẩm của Hòa ghượng.
Sáng ngày 20 tháng Chạp năm Nhâm Tý, nhằm ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Hòa thượng đã an lành viên tịch, thọ 55 tuổi đời 26 tuổi hạ.
    • Tác phẩm Trước tác:
  • Phật Học Phổ Th g (12 quyển) cũng gọi Cây Thang Giáo Lý.
  • Bản Đồ Tu Phật (10 quyển).
  • Bài Học Ngàn Vàng (8 quyển).
  • Nghi Thức Tụng Niệm.
  • Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm.
  • Lược Giải Kinh Viên Giác.
  • Phật Học Giáo Khoa các trường Bồ Đề.
  • Giáo dạy Gia Đình Phật Tử.
  • 50 Năm Chấn Hưng Phật Giáo.
    • Phật Giáo Việt Nam Ngày Nay.
    • Tám quyn sách quý gồm có: Tu Tâm, Dưỡng Tánh, Nn Quả Luân Hồi, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Diu Đế, TBi Trong Đo Pht, ChHòa Bình Trong Đo Pht, và Năm Yếu THòa Bình.
    • Tạp Luận.
    • Sự Tích, v.v... Phiên dịch:
  • Duy Thức Học (6 quyển)
  • Kinh Kim Cang
  • Tâm Kinh
  • Luận Đại Thừa Khởi Tín.
  • Luận Nhân Minh.
Tng cng nhng tác phẩm phiên dịch và trước tác là 80 quyn trong đó chia ra 8 loại chuyên đề.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ HƯNG (1917 - 1990)
Ngài thế danh Nguyễn Thanh Chẩm, sanh năm Đinh Tỵ (1917) tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Vào năm 1938, Ngài được Tổ Vạn An (Sa Đéc) cho thế phát, lúc ấy Ngài vừa tròn 21 tuổi.
Năm 1942, Tổ Vạn An khai đàn trao giới, Ngài chính thức thọ Sa di. Vốn thông minh sẵn lòng khát ngưỡng Đại thừa, ngày đêm Ngài tinh tấn tu hành, lo phụng trì chánh giới.
Năm 1943, Tổ Vạn An biết Ngài bậc pháp khí Đại thừa, xứng đáng ngôi Long Tượng của Phật pháp bèn quyết định cho thọ Tỳ kheo Bồ tát giới tại chùa Viên GiácVĩnh Long.
Năm 1951, Ngài dưỡng bệnh tại chùa Giác Nguyên - Khánh Hội, đồng thời dạy kinh pháp cho Tăng chúng. Cũng tại chùa Giác Nguyên này, Ngài phiên dịch kinh Duy Ma Cật Kim Cang Giảng Lục.
Năm 1954, với hoài bão “Hoằng pháp nhà, lợi sanh sự nghip, Ngài đã phgiúp Hòa thượng Thích Thin Hòa, vin chchùa Ấn Quang giảng các bộ kinh Đại Thừa.
Năm 1956, Ngài sang Nam Vang dạy khóa hạ tại chùa Chuẩn Đề, khi trở về Ngài được mời làm trụ trì chùa Kim Huê - Sa Đéc.
Năm 1958, Ngài giảng dạy tại Phật học đường Phước Hòa - Trà Vinh.
Từ năm 1966 đến 1969, Ngài làm giáo tại Phật học viện Cao đẳng Huệ Nghiêm giảng kinh Viên Giác tại chùa Tuyền Lâm.
Năm 1982, Thành Hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ I đề cử ngài giữ chức vụ Phó Ban Trị sự Thành hội kiêm Ủy viên Giáo dục Tăng ni.
Năm 1984, Ngài giới Đại giới đàn do Thành Hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại chùa Ấn Quang. Đồng thời Ngài được mời giảng dạy tại các trường hạ do Thành Hội tổ chức cùng giữ chức Hiệu phó kiêm giảng viên trường Cao cấp Phật học Việt Nam sở 2.
Năm 1989, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Ngài được cử làm Trưởng ban Pht giáo chuyên môn.
    • Tác phẩm
      • Kinh Duy Ma Cật.
      • Kim Cang Giảng Lục.
      • Lược Sử Đức Lục Tổ.
      • Pháp môn tu chứng Lăng Nghiêm Đại Định.
Chưa xuất bản:
  • Kinh Phật thuyết Đương Lai Biến.
  • Kinh Phật thuyết diệt tận.
  • Tập Tri Kiến Giải Thoát.
Đang soạn dịch: Kinh Phạm Võng Hiệp Chú.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH BỬU HUỆ (1914 - 1991)
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Ba, pháp danh Tâm Ba tự Nhựt Quang, pháp hiệu Bửu Huệ thuộc đời thứ 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt), đời thứ 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm), sinh năm Giáp Dn (1914) tại xã Tân Hương, huyn Bến Tranh, tỉnh Định Tường, nay tỉnh Tiền Giang.
Năm 1944 (Giáp Thân) lúc 30 tuổi, Ngài chính thức xuất gia tại chùa Thiên Phước. Tám tháng sau,chùa Long Quang tỉnh Vĩnh Long mở giới đàn, Ngài được Bổn cho đến thọ giới Sa di.
Năm 1949, Phật học đường Liên Hải mở Đại giới đàn, Ngài thọ Cụ Túc giới.
Ban Giám đốc Phật học đường Ấn Quang giao trách nhiệm cho quý Ngài tnh lp trường Trung đng Pht học Chuyên khoa đt tại chùa Huệ Nghiêm với gần 40 học Tăng. Ngài được cử làm Giám viện, Hòa thượng Thiền Tâm làm Giáo thọ. Hòa thượng Thanh Từ làm Quản viện. Đồng thời Ni trường Dược Gia Định cũng được khai giảng, đặt dưới sự lãnh đạo kiêm nhiệm của ba vị.
Trong phiên họp ngày 4-5-1965 tại chùa n Quang giữa Ban
Giám đốc với Tng vTăng svà Pht Học v, trường Trung đng Phật học Chuyên khoa được đổi thành Phật học viện Huệ Nghiêm, nhận thêm khoảng 300 Tăng sinh vào tu học, gồm các trình độ từ Đệ thất (lớp 6) đến Đệ nhất (lớp 12) theo chương trình phổ thông. Ngài vẫn giữ chức Giám viện.
Đến năm 1968, Phật học viện gặp khó khăn về tài chánh, phải pn n Tăng sinh tới các Pht học vin Hải Đức ở Nha Trang, Liễu QuánPhan Rang, Bảo TịnhPhú Yên, Nguyên ThiềuBình Định. Pht học vin Huệ Nghiêm chỉ duy trì một lớp Trung đng Chuyên khoa khóa II. Cũng m y, thể theo lời mời của Tng Vụ trưởng Tng vVăn hóa Giáo dục, Ngài đm nhim luôn chức vụ phụ Vụ trưởng Phật học vụ, đặc trách chỉ đạo các Phật học viện Bắc tông tại các tỉnh miền Nam.
Năm 1970, Đại hội Văn hóa Giáo dục kỳ IV họp tại Đà Lạt, Giáo hội quyết định thành lập một Viện Cao đẳng Phật học đặt tại chùa Huệ Nghiêm suy cử Hòa thượng Trí Tịnh làm Viện trưởng, Ngài làm Phó Viện trưởng. Ngài cũng trực tiếp tham gia giảng dạy bộ môn Luận cho Tăng Ni sinh ở hai trường Huệ Nghiêm Dược Sư.
Vào lúc 2 giờ ngày 27 tháng 10 Tân Mùi (02-12-1991), Ngài viên tịch tại chùa Huệ Nghiêm, hưởng thọ 78 tuổi đời 42 hạ lạp.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU (1918 – 2012)
Hòa thượng thế danh Đinh Văn Nam, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Hòa thượng xuất gia năm 1946 tại chùa Tường Vân (Huế). Từ 
năm 1964 đến năm 1975, Hòa thượng về lại Việt Nam giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, chuyên lo sự nghiệp giáo dục và dịch Kinh Tng Pali.
Năm 1976, Hòa thượng thành lập Viện Phật học Vạn Hạnh. Năm 1979, Hòa thượng tham gia vận động thống nhất thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1981, Hòa thượng làm hiệu trưởng Trường Cao cp Pht học Vit Nam, cơ sở I tại Hà Nội. Năm 1984, Hòa thượng mở Trường Cao cp Pht học Vit Nam, cơ sII tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1989, Hòa thượng thành lập làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam Hội đồng Phiên dịch Đại tạng Kinh Việt Nam.
Tác phẩm: Tính đến nay trên 30 tác phẩm do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch biên soạn, các tác phẩm dịch phẩm chính gồm có:
  • Những dịch phẩm: Kinh Tng Pàli
    • Kinh Trung Bộ
    • Kinh Tăng Chi Bộ
    • Kinh Tương Ưng Bộ
    • Kinh Trường Bộ
    • Kinh Tiểu Bộ Dịch từ Abhidhamma
    • Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhamma Atthasangaha) Biên soạn
    • Phật Pháp (đồng tác giả)
    • Đường về xứ Phật (đồng tác giả)
    • Những ngày những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
    • Đại Thừa sự liên hệ với Tiểu Thừa
    • Sách dạy Pàli (3 tập)
    • Chữ hiếu trong Đạo Phật
      • Hành Thiền
      • Lịch sử Đức Phật Thích Ca
      • Hãy tự mình thắp đuốc lên đi
      • Chánh Pháp hạnh phúc.
Bằng tiếng Anh
    • Hsuan Tsang, The Pilgrim and Scholar (Huyn Trang, Nhà Chiêm bái Học giả - NS Thích Nữ Trí Hải dịch Việt)
    • Fa-Hsien, the Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển, Nhà Chiêm bái khiêm tốn - NS Thích Nữ Trí Hải dịch Việt)
    • Milindapanha and Nàgasenabhikhusùtra - A Comparative Study
    • The Chinese Madhyama Àgama and the Pàli Mahjjhima Nikàya
  • A Comparative Study (Luận án TiếnPhật học)
    • Some Teachings of Lord Buddha on Peace Harmony and Hu- mandignity.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU (1921 - 2001)
Hòa thượng tên tht là Võ Trng Tường, sinh ngày 15 tng 7 năm Tân Dậu 1921 âm lịch trong một gia đình mộ đạo Phậtlàng Thần Phù, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Năm 14 tuổi (1935), Hòa thượng xut gia học Pht pp tại chùa Trúc Lâm, Huế - trường Phật học đầu tiên của Hội An Nam Phật học - trải qua các chương trình Phật học cấp, trung cấp rồi đến cao cấp.
Năm 23 tuổi (1944), Hòa thượng trở thành giảng viên của 
trường Phật học nói trên - lúc này đã chuyển địa điểm sang Đại Tòng lâm Kim Sơn, Huế.
Từ năm 1957 đến năm 1962, Hòa thượng được cử làm Đốc giáo Pht học đường Trung Vit tại chùa Hải Đức, Nha Trang.
Năm 1962, Hòa thượng trở lại Huế làm giảng viên Phật học và tham gia công tác của Tng trsPht giáo Trung phần và Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên - Huế.
Từ năm 1964 đến năm 1974, Hòa thượng điều hành giảng dạy lớp Cao đẳng Phật học chuyên khoa Liễu Quán tại chùa Linh Quang, Huế. Hòa thượng cũng tham gia giảng dạy các lớp Phật học ở nhiu tỉnh min Trung khác.
Từ năm 1973 đến năm 1974, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Vin trưởng Vin Cao đng Pht học Hải Đức, Nha Trang.
Năm 1981, Hòa thượng được suy cử chức vTrưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam.
Từ năm 1981 đến năm 1984, Hòa thượng được mời giảng dạy tại Trường Cao cp Pht học ở chùa Quán Sứ.
Từ năm 1984 đến năm 1988, Hòa thượng được cử làm Phó hiệu trưởng Trường Cao cp Pht học tại Thành phố HCMinh.
Năm 1988, khi Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Hòa thượng được cử làm Phó Viện trưởng.
Năm 1991, Giáo hội cử Hòa thượng làm Phó chủ tịch Hội đồng Phiên dịch Đại tạng Kinh Việt Nam, đặc trách Hán tạng.
Từ năm 1994 đến năm 2001, Giáo hội cử Hòa thượng làm Hiệu trưởng Trường Cơ bn Pht học (nay là Trường Trung cp Pht học), Thừa ThiênHuế.
Năm 1997, Hòa thượng được Giáo hội cử làm Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế đảm nhiệm vị trí này cho đến ngày qua đời.
  • Tác phẩm
Trước tác:
  1. Nghi thức tụng niệm (đồng tác giả, 1958).
  2. Nghi thức thọ Bồ-tát giới tại gia (1958).
  3. Đại cương luận Câu-xá (1987).
  4. ngã Niết-bàn (1990).
  5. Tỏa ánh Từ quang (1992).
  6. Lối vào Nhân minh học (1995).
  7. Cương yếu Giới luật (1996).
  8. Ngũ uẩn ngã (1997).
  9. Kinh Pháp hoa giữa các Kinh điển Đại thừa (1997).
  10. Trí đức văn lục (9 tập, 1994-2001).
Biên khảo: (đăng tảicác Tạp chí từ 1940-2001)
    • Tạp chí Viên âm (1940).
    • Phật giáo Việt Nam (1960).
    • Liên Hoa (1961).
    • Giác ngộ, 1982.
    • Tp văn - Ban Văn hóa Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam (từ năm 1985-2001).
Dịch phẩm:
  1. Kinh Th Lăng Nghiêm (1940).
  2. Phát Bồ-đề tâm văn (1952).
  3. Kinh Kiến Chánh (1953).
  4. Kinh 42 chương (1958).
  5. Kinh Trường A-m (lược dịch * 1959).
  6. Kinh Pháp (1962).
  7. Tân Duy thức luận (1962).
  8. Đại cương Luận Câu (1978)
  9. Luận Thành duy thức (1995).
  10. Luận Đại Trí độ (5 tập, 1997-2001).
  11. Trung lun (2001)
12. HÒA THƯỢNG THÍCH THANH TỪ (1924 - )
Hòa thượng tục danh Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp (1924) tại ấp Tích Khánh, Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long), Việt Nam.
Vào ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu (1949), Hòa thượng Thích Thiện Hoa đã thế phát xuất gia cho sư.
Từ năm 1960 đến 1964 từng đảm nhiệm các chức vụ trong Phật giáo:
  • Phó vụ trưởng Phật học vụ, sau đó Vụ trưởng Phật học vụ.
  • Quản viện kiêm giáo Phật học viện Huệ Nghiêm.
  • Giảng các Phật học đường Dược Sư, Từ Nghiêm.
  • Giảng Đại học Vạn Hạnh.
  • Năm 1970: Thành lập Tu Viện Chơn Không trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu, mở khóa tu Thiền đầu tiên với 10 thiền sinh.
  • Năm 1974: Thành lập Thiền Viện Bát Nhã Linh Quang cũng tại Vũng Tàu.
  • Năm 1975 trở đi: Phát triển các Thiền viện mang tên CHIẾU: Thường Chiếu (1974), Viên Chiếu (1975), Huệ Chiếu (1979), Linh Chiếu (1980), Phổ Chiếu (1980), Tịch Chiếu (1987), Liễu Đức (1986).
  • Năm 1993: Thành lp Thin vin Trúc Lâm Phng Hoàng trên núi Phụng Hoàng, Đà Lạt.
    • Năm 2002: Trùng tu Chùa Lân, lp tnh Thin vin Trúc Lâm Yên Tử.
    • Năm 2005: dựng lp Thin vin Trúc Lâm Tây Thiên.
Đến năm 2013, Thích Thanh Từ đã xây dựng trên 60 Thiền viện, Thiền tự trên 100 đạo tràng học Phật tu Thiền theo thiền phái Trúc Lâm Vit Nam và đã ging dy tại các nơi này.
  • Tác phẩm Kinh
    • Bát-nhã Tâm Kinh giảng giải (1998)
    • Kinh Bát Đại Nhân Giác giảng giải (1997)
    • Kinh Bát-nhã giảng giải (2000)
    • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải (1993/2000)
    • Kinh Kim Cang giảng giải (1997)
    • Kinh Lăng-già Tâm Ấn (dịch 1993/1997)
    • Kinh Thập Thiện giảng giải (1993/1998)
    • Kinh Viên Giác giảng giải (2000) Luận, lục
    • Bích Nham Lục (dịch 1995/2002)
    • Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải (1993/1999)
= Thiền Căn Bản (dịch 1993/1999), (Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thin Chỉ Quán (dịch 1963), Ta Thin Tam-mui (dịch 1961), Lục Diệu Pháp Môn (dịch 1962).
    • Thin Đốn Ng(dịch 1973/1999), (Thin Tông Vĩnh Gia Tp (dịch 1974), Đốn Ngộ Nhập Đo Yếu Môn (dịch 1971), Truyn Gia Bảo Thin Tông Trực Ch, Ta Thin Dụng Tâm Ký, Tham Thiền Yếu Chỉ (dịch 1962).
    • Thin Sư Thn Hi ging giải (2001/2002), Hin Tông Ký (dịch giảng 1993).
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ THÔNG (1924- )
Hòa thượng Thích Từ Thông, Hiu trưởng trường Cao Trung Phật học Thành phố Hồ Chí Minh một trong những bậc danh tăng thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Qua những đề tài Ngài gọi “nhắc nhở tu học” đã toát lên một tư tưởng Phật học tiến bộ, đi sâu vào việc thực hành tâm linh cho các Tăng Ni, Phật tử gần xa. Tuy tuổi tác đã cao song trí tuệ của Hòa thượng vẫn minh mẫn đặc biệt ở Ngài luôn toát lên một trường năng lượng khiến cho người đối diện cảm thấy cùng bình yên.
Với kiến thức uyên thâm của mình, trong hơn 50 năm hành đạo, Hòa thượng đã phiên dịch nhiều kinh sách đóng góp một phần không nhỏ vào việc tu học của Tăng Ni Phật tử. Thật vinh hạnh khi Quỹ Đạo Phật Ngày Nay, đã được Hòa thượng ủy quyền cho xuất bản tất cả đầu sách của Ngài.
    • Tác phẩm
  • Chứng Đạo Ca.
  • Như Lai Viên Giác Kinh.
  • Những chiếc trong tay.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM (1925-1992)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Nht thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại Bình Xuân,Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Vào năm Ất Dậu (1945) được thế phát xuất gia làm đệ tử của Đại lão Hòa thượng Thành Đạo.
Năm 1948, Ngài thọ giới Sa di học ở Phật học đường Liên Hải cùng Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang cho đến năm 1951 để hoàn tt chương trình Trung đng Pht học. Thời gian đó, Ngài được thọ Tỳ kheo giới tại Đại giới đàn Ấn Quang tổ chức năm 1950.
Năm 1964, Hòa thượng Thin Hòa mở Trường Trung đng Chuyên khoa Phật học tại chùa Huệ Nghiêm, Bình Chánh, Sài Gòn. Ngài hai vị Thanh Từ, Bửu Huệ được mời giao đảm trách việc giáo dục học Tăng. Song song đó, các Ngài còn phụ trách giảng dạy cho học Ni tại Phật học viện Dược Sư. Ngoài ra, Ngài còn giảng dạy tại Phân khoa Phật học thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trong giai đon này, Ngài tập trung biên son các bộ sách để làm giáo trình kiến thức Pht học Trung Cao như: Pht học Tinh Yếu, Duy Thức học Cương yếu phiên dịch sách Tịnh Độ Thập Nghi Luận cùng kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni.
Đến 9 giờ sáng ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Thân (tức ngày 14- 2-1992), Ngài an nhiên thoát hóa, vãng sinh hưởng thọ 68 tuổi, hạ lạp 42.
    • Tác phẩm
  • Kinh Quán Lượng Thọ.
  • Tịnh Học Tân Lương.
  • thơ Tịnh Độ.
  • Hương Quê Cực Lạc.
  • Phật học Tinh yếu. 01-02-03
  • Duy Thức Học cương yếu.
  • Tịnh độ Thập nghi luận.
  • Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni.
  • Niệm Phật Thập yếu.
  • Tây phương Nhựt khóa
  • Tịnh Độ Pháp Nghi.
  • Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni.
  • Mấy điệu sen thanh.
  • Tam Bảo Cảm ứng lục.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH NHẤT HẠNH (1926 - )
Thích Nhất Hạnh tên khai sinh Nguyễn Xuân Bảo, sinh m 1926 tại Thừa Thiên (min Trung Vit Nam). Vào m 16 tui Hòa thượng xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi Hòa thượng thọ giáo với Thin sư Thanh Quý Chân Tht với pp danh là Trng Quang, pháp tự Phùng Xuân, pháp hiệu Nhất Hạnh, nối pháp đời thứ 42 của thiền phái Lâm Tế thuộc nhánh Từ Hiếu đời thứ 8, dòng Liễu Quán. Tốt nghiệp Phật học viện Báo Quốc, Huế.
Vào thập niên 1960, Hòa thượng tnh lp Trường Thanh niê
Phng sXã hi (School of Youth for Social Services - SYSS) ở Sài Gòn, thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh Nhà xuất bản Bối.
Hòa thượng dạy giáo Phật giáo Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajnaparamita).
Hòa thượng đã đến Hoa Kỳ nhiều lần để diễn thuyết giảng dạy về Phật giáo tại Viện Đại học Princeton Viện Đại học Cornell sau này giảng dạy tại Viện Đại học Colombia. Hòa thượng thuyết giảng với nhiều người nhiều nhóm về hòa bình. Vào năm 1967, King đề cử Hòa thượng cho Giải Nobel Hòa bình. một trong những người thầy về Phật giáophương Tây, những lời dạy các phương pháp thực hành của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh thu hút nhiều người đến từ các quan điểm về tôn giáo, tâm linhchính trị khác nhau. Hòa thượng đưa ra cách thực hành “chánh niệm” thường được điều chỉnh cho phù hợp với văn hóa phương Tây.
Năm 1966, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh lập ra Dòng tu Tiếp Hiện thiết lập các trung tâm thực hành, các thiền viện khắp trên thế giới. Nơingụ của Hòa thượng Tu viện Làng Mai ở vùng Dordogne thuộc miền Nam nước Pháp.
    • Tác phẩm
Ngài đã xuất bản trên 100 cuốn sách, trong đó hơn 70 cuốn bằng tiếng Anh. Hòa thượng cũng xuất bản các bài giảng trong các tạp chí Mindfulness Bell của Dòng tu Tiếp Hiện.
Danh sách các tác phẩm đã xuất bản (không đầy đủ): Truyn
  • Tình người (tập truyện; bút danh: Tâm Quán), 1951; Bối 1973.
  • Nẻo về của ý (bút ký), Bối 1967; An Tiêm 1972.
  • Am mây ngủ (truyện ngoại sử), Bối.
  • Bưởi (tập truyện ngắn), Bối.
  • Tố (tập truyện), Bối.
  • Văn Lang dị sử (truyện cổ tích, bút danh Nguyễn Lang), Bối; An Tiêm 1975.
  • Đường xưa mây trắng, Bối; Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2007.
  • Truyn Kiu dịch ra văn xuôi, Nhà xut bn Văn hóa Sài Gòn.
  • Truyn tranh Coconut - Monk xut bn ngày 25 tng 1 m 2006 bởi Nhà xuất bản Plum Blossom Books.
Khảo luận
  • Đông phương luận lý học, Hương Quê 1950.
  • Vấn đề nhận thức trong Duy Thức học, Bối 1969.
  • Tương lai văn hóa Việt Nam, Bối.
  • Tương lai Thiền học Việt Nam, Bối.
  • Việt Nam Phật giáo sử luận (bút danh Nguyễn Lang), 3 tập, tập 1: Bối 1974, 2 tập sau xuất bảnnước ngoài sau 1975.
  • Th một bè lau, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2008.
  • Những con đường đưa về núi Thứu - Làng mai nhìn về núi Thứu - Đập vỡ vỏ hồ đào - Sen búp từng cánh hé...
Khác
  • Gia đình tin Phật, Đuốc Tuệ 1952.
  • Bông hồng cài áo, viết vào mùa Vu lan 1962; Bối xuất bản lần 2, 1965.
  • Đạo Phật đi vào cuộc đời, Bối 1964.
  • Đạo Phật ngày nay, Bối 1965.
  • Nói với tuổi hai mươi, Bối 1966, 1972.
  • Phật giáo Việt Nam hướng đi nhân bản đích thực (bút danh Trần Thạc Đức), Bối 1967.
  • Đạo Phật hiện đại hóa, Bối 1965, 1968.
  • Đạo Phật ngày mai, Bối 1970.
  • Nẻo vào thiền học, Bối 1971.
    • Đạo Phật áp dụng vào đời sống hàng ngày, Viện Hóa đạo xuất bản 1973.
    • Tuổi trẻ tình yêutưởng, Bối.
    • Kiều văn nghệ đứt ruột, Bối, USA, 1994.
    • The Miracle of Mindfulness: A Manual on Meditation, Beacon Press, 1999, ISBN 0-8070-1239-4 (Vietnamese: Phép lạ của sự tỉnh thức).
    • Phép lạ của sự tỉnh thức, Nhà xuất bản Tôn giáo.
    • Đi như một dòng sông.
    • An lạc từng bước chân.
    • Trái tim của Bụt, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
    • Hạnh phúc: mộng thực Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2009.
    • Kim Cương: Gươm báu cắt đứt phiền não, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2009.
    • Giận, Nhà xuất bản Thanh niên, 2009.
    • Tĩnh lặng, Nhà xuất bản Thế giới, 2018.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH HOÀN QUAN (1928 - 2005)
Hòa thượng thế danh Phạm Ngọc Thơ. Pháp danh Như Cụ Thin. Pháp tự Giải Toàn Năng. Pháp hiu Thích Hoàn Quan.
Sinh ngày 16-09-1928 (Năm Mậu Th   ) tại làng Phước Long, nay thôn Hòa Bình Nghĩa Hoà huyện Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 15 tuổi, tìm đến cụ Khánh Anh hiện đang Trụ trì tổ đình Phước Hậu, huyện Trà Ôn. Sau khi trình bày tự sự thổ lộ ý 
chí muốn xuất gia tu học, Hòa thượng được Tổ chấp thuận thế phát xuất gia, ban Pháp danh Như Cụ Thiện.
Năm 1942, Tổ Khánh Anh cho Ngài thọ giới Sa di cho Pháp tự là Giải Toàn Năng.
Năm 1955, Hòa thượng thọ Cụ túc giới ở Đại giới đàn được tổ chức tại Tổ đình Ấn Quang, do Hòa thượng Thích Đôn Hậu làm đàn đầu, với Pháp hiệu Thích Hoàn Quan.
Khi tốt nghiệp Cao đẳng tài toàn phần, thì sau đó Ngài đi dạy các Phật học Viện, đồng thời Ngài Giáo thọ Phật học đường Nam Việt. Năm 1960 Ngài làm Đốc giáo trường Phật học Phước Hoà - Trà Vinh. Từ năm 1964 đến năm 1975, Hòa thượng Giáo thọ của các trường Phật học như: Phật học viện Huệ Nghiêm, Hunh Kim, Hải Tràng, Dược Sư, Từ Thin, Bồ ĐLan Nhã v.v… những Tăng Ni sinh thọ học với Hòa thượng thuở ấy, hiện nay hầu hết các bậc tôn túc ở các Tự viện, đã Trụ trì, Giảng sư, Giáo thọ các trường Phật học, người hiện đã lên hàng Giáo phẩm, đang giữ chức vụ quan trọng trong Giáo hội các tỉnh tnh, và các ngành các cp Trung ương giáo hội.
  • Tác phẩm
Kinh: Ngài đã dịch các bộ Kinh như: Thập Thiện Nghiệp Đạo, Bát Đại Nhơn Giác, Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Di Giáo, kinh Viên Giác…
Lut: Dịch bộ Lut Trường Hàng gồm TNi, Sa Di, Oai Nghi, Cảnh Sách, thành văn vần rất hay, làm cho hàng hậu học dễ nhớ.
Luận: Ngài đã dịch các bộ như: Tu Tập Chỉ Quán Toạ Thiền Pháp Yếu, Hiển Mật Viên Thông Tâm Yếu Thành Phật, Tam Thập Tụng luận…
Hán Văn: Ngài đã soạn các bộ như: Giáo trình Hán Văn - Văn Phạm cương yếu, Tân Học Quốc Văn… Các bộ Giáo trình Hán Văn này Ngài đã biên soạn dạy cho Tăng Ni tại các Phật học viện, phần này vẫn còn “Bản thảo” chưa in ấn lưu hành.
Nghi Lễ: Ngài đã biên soạn tập “Nghi Lễ” rất công phu chi tiết, rất hữu ích cho lớp Tăng Ni trẻ cũng như rất thuận tiện cho những ai nhu cầu trong việc ứng phó đạo tràng, cũng thể lấy đây làm phương tiện để truyền Phật pháp.
  1. HÒA THƯỢNG THÍCH CHƠN THIỆN (1942-2016)
Hòa thượng thế danh Nguyễn Hội, sinh ngày 1 tháng 12 năm 1942 (nhằm ngày 24 tháng 10 năm Nhâm Ngọ) tại làng Dưỡng Mong thượng, Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm 1960, Hòa thượng được Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, bấy giờ Trụ trì Tổ đình Tường Vân cho xuất gia, lấy pháp danh Tâm Ngộ, pháp tự Chơn Thiện, pháp hiệu Viên Giác, đồng thời làm Thị giả cho Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Hòa thượng thọ Sa-di giới ngày 17 tháng Một (11) năm Quý Mão (1963) tại Tổ đình Tường Vân. Bảy tháng sau, tức năm Giáp Thìn (1964), Hòa thượng được Hòa thượng Thích Tịnh Khiết cho thọ Cụ-túc giới tại Đại giới đàn Quảng Đức, Việt Nam Quốc tự, Sài Gòn, do chính Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu.
Từ năm 1972 đến năm 1975, Hòa thượng được cử làm Phó Giám đốc Sinh viên vụ đặc trách Hướng dẫn TâmGiáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh, tham gia giảng dạy đóng góp cho tạp chí tưởng Vạn Hạnh.
Sau ngày Việt Nam thống nhất, từ tháng 4 năm 1977 đến tháng 9 năm 1984, Hòa thượng được mời phụ cho Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Phật học Vạn Hạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, làm Giảng tại Viện, đồng thời tham gia giảng dạy 
chương trình cao cp Pht học tại Già Lam. Trong khong thời gian này, Hòa thượng đã nghiên cứu biên soạn nhiều tác phẩm Phật học giá trị trong lãnh vực học thuật hành trì cho Tăng Ni Phật tử.
Từ tháng 10 năm 1984 đến năm 1988, Hòa thượng làm Giảng tại chùa Linh Sơn, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Từ năm 1988 đến tháng 7 năm 1992, được mời phụ Viện trưởng kiêm Trưởng ban Học v, đồng thời tham gia ging dy tại Trường Cao cp Pht học Vit Nam tại Thành phố HCMinh (nay Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh). Trong khong thời gian này, Sư là thành viên Ban gm hiu, đóng góp rất lớn vào việc biên soạn chương trình Giáo dục Tăng Ni các cấp.
Từ tháng 7 năm 1996 đến tháng 5 năm 2002, được mời giữ chức vụ Phó Viện trưởng Thường trực Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; Phó Viện trưởng Thường trực Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố HCMinh; Trưởng ban Pht giáo Quốc tế Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam; PTrưởng ban Thường trực và Quyn Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam; là tnh viên sáng lp và Trưởng ban thư ký Hội đồng Phiên dịch Ấn hành Đại tạng Kinh Việt Nam.
Từ tháng 6 năm 2002 đến tháng 11 năm 2016, đảm nhiệm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam; Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
Từ tng 3 m 2008, Sư được mời giữ chức vTng biên tập Tạp chí Văn hóa Phật giáo.
Vào lúc 10g50 ngày 08/11/2016 nhằm ngày 09 tháng 10 năm Bính Thân, Phật lịch 2560, Hòa thượng xả báo thân, an nhiên thị tịch tại Tổ đình Tường Vân.
  • Tác phẩm
  1. Nghiên cứu biên soạn:
  • Phật Học Khái Luận
    • Tăng-già Thời Đức Phật
    • Tưởng Kinh Pháp Hoa
    • Tưởng Kinh Kim Cang
    • Tư Tưởng Kinh Đa Tng
    • Tưởng Kinh Di Đà
    • Những Hạt Sương
    • Hoa Ngọc Lan
    • Tưởng Việt Nam
    • Bàn về Tây Du của Ngô Thừa Ân
    • The  Concept  of  Personality  Revealed  Through  the  Panca Nikayas
    • Tìm hiu Trung Bộ Kinh
    • Tìm Vào Thực Tại
    • GiáoDuyên khởi
    • Hương Còn Mãi
    • Tiếng Hót Ca-lăng-tần-già
    • Trí Tuệ Chân Thành
    • Tưởng Việt Nam: Nhân Bản Thực Tại Luận
  1. Biên dịch:
  • Nghiên cứu Kinh Lăng Già (đồng dịch giả)
  • Lăng Già Đại Thừa Kinh (đồng dịch giả)
  • thuyết Nhân tính qua kinh tạng Nikayas
  • Satipatthana-Trng Tâm của Thin Pht giáo (The Heart of Buddhist Meditation)
  • Tìm hiểu Đạo Phật (Buddhism Explained)
Trong snghip giáo dục, ngoài vic tham gia điu nh các cơ sở giáo dục, Hòa thượng trực tiếp giảng dạy cho nhiều khóa học tại Đại học Vạn Hạnh, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế; thuyết giảng Phật pháp cho Tăng Ni Phật tử ở nhiều tỉnh thành; đóng góp tiếng nói trí tuệ cho các tạp chí báo chí như tưởng Đại học Vn Hnh, o Giác ng, tập văn của Ban Văn hóa Trung ương, tạp chí Văn hóa Phật giáo, báo Đại biểu Nhân Dân. Đặc biệt, Ngài đã nỗ lực giới thiệu Pháp tạng Pali, kết nối thống nhấttưởng Phật giáo từ Nguyên thủy đến Phát triển.
  1. TRƯỞNG THÍCH NỮ NHƯ THANH  (1911 – 1999)
Sư trưởng pp húy Hng n tự Diu Tánh, hiu Như Thanh, tên thật Nguyễn Thị Thao, sanh ngày 08 tháng 02 năm Tân Hợi (1911), tại Tăng Nhơn Phú (Th Ðức).
  • Năm 1943 (33 tuổi), nhân mùa An cư, Ni trưởng Diệu Tấn chùa Kim Sơn (Phú Nhuận) khai trường Hương mời trưởng làm Thiền chủ kiêm Pháp sư, Ni chúng hơn 80 vị.
Năm 1945 (35 tuổi) chùa Bình Quang (Phan Thiết) khai Ðại giới đàn, thỉnh trưởng Ni trưởng Diệu Hường làm Giới Ni đăng đàn thuyết pháp tại Giới đàn này. Mùa annăm ấy, trưởng khai trường Hương tại chùa Hội Sơn (Th Ðức), dạy bộ luật Tỳ Kheo Ni Sao.
Năm 1946 (36 tuổi), trưởng đi khắp nơi để đào tạo Ni tài, đến chùa Linh Sơn (Quận 8), chùa Giác Thiên (Vĩnh Long), chùa Tân Hiệp (Mỹ Tho) sau đó trở về Chợ Lớn lãnh chùa Huê Lâm do gia đình Trần Thị Nhiều dâng cúng.
1947 (37 tuổi), trưởng mở Phật học Ni viện tại chùa Huê Lâm, lo giáo dục chư Ni giúp đỡ trẻ em nghèo hiếu học.
Năm 1956 (46 tuổi), trưởng muốn thành lập Ni bộ, được chư Tôn đức Giáo hội Tăng Già Nam Việt ủng hộ. Ngày 6, 7 tháng 10 m 1956, Sư trưởng cùng với các Trưởng lão Ni vn động tn
lập Ni Bộ Nam Việt. Chư Ðại Ðức Ni đều hiện diện, đông đủ trong Ðại hi tại chùa HLâm. Sư trưởng được công cử làm Trưởng ban Quản trị Ni Bộ Nam Việt.
Năm 1956, Giáo hội giao chùa Dược cho Ni bộ Nam Việt quản lý, trụ sở Ni bộ cũng được dời về đây.
Năm 1957, trưởng cùng với quý Ni trưởng Ni bộ Nam Việt thấy cần phải trụ sở của Ni bộ để thuận tiện cho việc sinh hoạt đạo tràng, hội họp chư Ni, trang nghiêm Phật sự. trưởng cùng Ban Quản trị Ni bộ, được Hòa thượng Ðạt Từ nhượng lại tịnh thất của Hòa thượngđường Hạt, quận 10. Quý Ni trưởng trong ban kiến thiết, vận động tài chánh xây dựng chùa Từ Nghiêm làm Tổ đình Ni giới trụ sở Ni bộ Nam Việt.
Năm 1962 (52 tuổi), chùa Từ Nghiêm hoàn thành viên mãn. trưởng cùng Quản trị Ni bộ Nam Việt mở Phật học viện đào tạo Ni tài, trưởng vừa lo giảng kinh, dạy luật cho Ni chúng vừa mở lớp giáohàng tuần cho Phật tử. Cứ ba năm mở Ðại Giới đàn Kiều Ðàm để truyền giới cho chư Ni.
    • Tác phẩm
+ Trước tác và son thut: 1. Lược Sử Ðức Pht Thích Ca, 2. Lược Sử Kiều Ðàm Di Mẫu, 3. Nghi Thức Tụng Niệm, 4. Nghi Thức Niệm Hương, 5. Oai Nghi Người Xuất Gia, 6. Nghi Thức Phóng Sanh, 7. Pháp Hạnh Người Xuất Gia, 8. Cẩm Nang Người Phật Tử,
9. Giới Ðức Kiêm Ưu, 10. Hành Bồ Tát Ðạo, 11. Bát Nhã Cương Yếu, 12. Duy Thức Học, 13. Phật Pháp Giáo (5 tập).
+ Dịch phẩm: 1. 24 Bài Kệ Bát Nhã, 2. Thin Tông và Tịnh ÐTông, 3. Thin Tông Cương Yếu, 4. Gương Tăng Sĩ Hin Ti, 5. Hưng Thiền Hộ Quốc, 6. Làm Thế Nào Ðể Chấn Hưng Phật Giáo.
+ Thi phẩm: 1. Hoa Ðạo, 2. Hoa Thiền, 3. Hoa Thanh Hương, 4. Hương Hoa Bát Nhã, 5. Hoa Ðạo Hạnh, 6. Phẩm Chất Người Con Phật.
+ Chbiên các tậpsan: 1. Tp Chí Nn Cách, 2. Tp Chí Hoa Ðàm.
  1. CHÁNH TRÍ MAI THỌ TRUYỀN (1905-1973)
Mai Thọ Truyn sinh ngày 1 tng 4 m 1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Vit Bến Tre, ri Trung học MTho, Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư Hành chánh được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Tiên Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên Sa Đéc.
Trong nhng m làm vic đó đây khắp lục tỉnh min Tây, Mai Thọ Truyn để m nghiên cứu tìm hiu vPht giáo, Nho giáo, và cáctưởng tôn giáo triết lý khác. Đến đâu ông cũng tham vấn các vị danh nho nổi tiếng để thử tài học vấn biện bác, nhưng chưa vị nào giúp ông thỏa nguyện. Đến khi làm việcSa Đéc, ông đến tham vn Hòa thượng Thích Hành Tr, là ging sư tại chùa Long An, chính nơi đây ông thực sự qui ngưỡng cảm phục trước đức độ trí tuệ của vị danh Tăng nên cầu làm đệ tử của Ngài. Hòa thượng Thích Hành Trđt pp danh cho ông là Chánh Trí. Tđây, ông bắt đầu dốc lòng đem khả năng trình độ học thức của mình ra hộ trì chánh pháp.
Đối với phong trào chấn hưng Phật giáo, ông một kiện tướng trong hàng cư sĩ đã đóng góp công sức rất lớn. một Phật tử thuần thành, ông ăn chay trường từ ngày thọ Tam quy ngũ giới, làm Phật sự không biết mệt mỏi. Năm 1950, ông vận động thành lập Hội Phật học Nam Việt. Ban đầu hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, sau dời qua chùa Phước Hòa. Ông vận động đứng ra xây dựng ngôi chùa lịch sử Lợi, tiêu biểu cho nét văn hóa mới của Đông
 

Tây hòa quyện, làm trụ sở của Hội Phật học Nam Việt. Năm 1958 hi chuyn về chùa Xá Li. Ông làm Tng thư ký của hi khi mới thành lập Hội trưởng từ 1955 cho đến ngày ông mất. Hội đã mở các lớp Phật học phổ thông lúc bấy giờ do chư Thượng tọa Thiện Hòa, Trí Hữu, Thiện Hoa, Quảng Minh diễn giảng. Ông cũng tham gia soạn giảng một số tiết mục cho học viên. Hàng tuần, tại chùa Lợi, ông còn tổ chức các thời thuyết pháp cho đại chúng do ông mời các vị cao Tăng Đại đức trong nước hay nước ngoài đăng đàn. khi chính ông giảng sư.
Bên cạnh đó, Hội Phật học Nam Việt còn xuất bản tạp chí Từ Quang do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tạp chí này suốt gần 24 năm liên tục (1951 - 1975) đã đóng góp không nhỏ cho công việc phổ biến Phật học ở Sài Gòn các tỉnh. Tạp chí đã được chư Tăng bên Giáo hội Tăng Già Nam Việt sốt sắng góp phần về phương diện biên tập. Chính ông người viết thường xuyên trên Từ Quang. Với lối hành văn nhẹ nhàng, bóng bẩy sâu sắc, với trình độ thâm hiểu nghĩasâu xa của kinh điển, những bài ông viết đã được độc giả hoan nghênh, đã tạo duyên cho nhiều người đến với đạo Phật. Ông cùng Hội Phật học Nam Việt đã thành lập trên 40 Tỉnh hội Chi hội Phật học khắp miền Nam.
Khi Viện Đại học Vạn Hạnh được thành lập, tạm đặt tại chùa Lợi trong khi chờ xây xong sở, ông nhận làm giáo viên cho Viện trước tiên, sau đó ông còn giữ chức Phụ Viện trưởng đặc trách nh cnh và tài cnh, kiêm Tng thư ký niên khóa 1967 - 1968.
    • Tác phẩm
  • Tâm và Tánh (do Nhà xut bn Đuốc Tuệ - Hà Ni n nh năm 1950).
  • Ý nghĩa Niết Bàn (1962).
  • Một đời sống vị tha (1962).
  • Tâm kinh Việt giải (1962).
  • Le Bouddhisme au Viet Nam (1962).
  • Pháp Hoa huyền nghĩa (1964).
  • Đa Tng mt nghĩa (1965) (Do Hi Pht học Nam Vit n hành).
Ngoài ra, ông còn một stác phẩm chưa xut bn như: Truyn tâm pháp yếu, Tây Du Ký, Vân Lão Hòa Thượng, Kinh Lượng Thọ, Kinh Quán Lượng Thọ, Mười lăm ngàyNhật, Vòng quanh thế giới Pht giáo, Đo đời, Kho cứu vTịnh ĐTông, Mật Tông một tác phẩm đang viết dở Kinh Lăng Nghiêm.
Những bậc tiền bối trên đây, vị đã về cõi Phật, vị vẫn còn trụ thế, nhưng nhìn chung đều những vị công trong lãnh vực phát triển Giáo dục Phật học. Hầu hết những vị này hướng dẫn Tăng Ni theo cách Giáo dục Học viện hoặc kiêm cả hai Giáo dục Học viện lẫn Giáo dục Tu viện như các Hòa thượng Thiền Tâm, Thanh Từ, Nhất Hạnh… đã được hàng hậu học thương kính quý trọng. vị đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng Tăng Ni Phật tử, trong sự nghiệp hoằng dương chánh pháp của đức Phật. vị qua sự nghiệp giáo dục Phật học đã viết nên trang sử Phật giáo Việt Nam thật huy hoàng của thế kỷ XX.

***
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây