13. TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC CỦA“HỘI AN NAM” TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO TẠI TRUNG KỲ

Thứ sáu - 06/12/2019 20:40


 
TƯ TƯỞNG PHẬT HỌC CAHỘI AN NAM” TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO TẠI TRUNG KỲ
 

NCS.SC. Thích Nữ Nhuận Bình



 

DN NHẬP
Thế cuộc đổi thay, thịnh suy lên xuống. Đó bản chất của cuộc đời mà đo Pht nói gọn trong hai chữ, Vô thường. Đã ở trong kiếp hồng trần, mấy khi thoát được cái vòng lẩn quẩn ấy. Phật giáo cũng vậy, cũng đã những lúc phát triển cực thịnh đến nỗi, đâu đâu cũng nghe đến Phật giáo, đi đâu cũng nghe niệm tiếng “Nam Mô. Đó phải kể đến hai triu đại Lý, Trn. Thời vàng son y của Phật giáo rồi cũng nhanh chóng qua đi. Sau đó, Phật giáo đã những lúc dường như mất dần trong lòng quần chúng. Người ta không còn xem hàng Tăng bảo bậc đáng kính ngưỡng của trời người. Đứng trước tình hình đáng báo động như thế, chư Tăng quý vị cư sĩ Phật tử lòng nhiệt huyết với đạo, đã đứng lên thành lập phong trào chấn hưng Phật giáo. Thế nhưng, cái cốt lõi cho việc chấn hưng ấy để bảo tồn giá trị cho Phật giáo Việt Nam, cho hàng Tăng bảo sống đúng với hạnh nguyện xuất thế của mình?



*. Nghiên cứu sinh TiếnPhật học, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 

nhiên, cái trọng tâm cho việc Chấn hưng Phật giáo cốt nhất tu luyện lấy một hạng sa môn chohọc thức, cho làu thông kinh sách, nghĩa tập lấy một nhà “đạo viên” như các seminaires bên Gia giáo1. Muốn được như trên, không khác hơn phải mở trường Phật học, đào tạo tăng tài, để thanh lọc giới thể cho chư tăng, tìm người kế thừa nối thạnh giống Phật. Chỉ như vậy, Phật giáo mới mong tìm lại vị trí trong lòng dân tộc. Đây cũng chính lý do người viết chọn đề tài: Tư tưởng Pht học của hội An Namtrong phong trào chn hưng Pht giáo ti Trung kỳ”.
Sở dĩ người viết chọn Trung klà bởi, trong ba hi: Nam, Trung và Bắc k, thì mô hình trường Pht học, đào to ng tài tại Trung k địa điểm nổi trội hơn cả. Ở đó, lần đầu tiên Phật giáo Việt Nam ra đời một mô hình giáo dục Phật giáo mới, kết hợp cả Đông lẫn Tây. Từ đường hướng hoạt động đến chương trình sinh hoạt, thời khóa biểu học tập, cách quản lý cả người học người dạy,... đều rất khoa học. Do đó, đã tạo được tiếng vang cho Phật giáo đương thời. Cũng tại mô hình đào tạo mới này, Phật giáo Việt Nam đã xuất hiện những bậc anh tài ưu tú, lãnh đạo Giáo hội cho đến ngày nay. Đây điều đáng để người ta ngưỡng mộ, bái phục. Chọn đề tài này cũng là cách để ôn cố tri n. Tưởng nhớ công ơn của các bậc tin bối, học hỏi cách làm việc của quý Ngài, đồng thời, hun đúc cho mình nhiệt huyết cháy bổng về hạnh nguyện, trách nhiệm phải làm của một người con Phật.
  1. ĐÔI NÉT VỀ TÌNH HÌNH HỘI VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO ĐẦU THẾ KỶ XX
    1. Tình hình hội Việt Nam
Đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng về nền kinh tếbản sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), đã khiến những nước đế quốc mở cuộc thân chinh, càn quét, bóc lột các nước Đông Dương thuộc địa. Việt Nam một trong những con mồi ngon tại


      1. Nguyễn Đại Đồng PhD. Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm Biên soạn), Phong trào chấn hưng Phật giáo, bài Phong trào chấn hưng Phật giáo, TA số 135, ngày 26.6.1936, NXB. Tôn giáo, TP.HCM, 2008, tr. 415.
 

khu vực Đông Dương lúc này. Do đó, nỗi thống khổ vốnđã nặng nề lại còn tàn nhẫn hơn, khi một nước phải chịu dưới ách thống trị cả Pháp lẫn Nhật. Lúc này đây, nước ta đã xuất hiện những biến động, ảnh hưởng lớn đến đời sống, chính trị, kinh tế, hội, văn hóa, kể cả vấn đề tín ngưỡng tâm linh.
Đây giai đoạn mới, giai đoạn mở đầu cho phong trào kháng Pháp, Nhật, thay thế cuộc kháng chiến Cần vương của Nho sĩ thành cuộc vận động toàn dân, duy tân xứ sở. Những cuộc cách mạngTrung Hoa và với tư tưởng của Lương Hữu Vi và Lương Khải Siêu đã làm sáng tỏ thêm ý thức ấy. Sự kiện Nhật Bản duy tân trở thành cường quốc, đã thức tỉnh những chí sĩ yêu quê hương bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước như Nguyễn Ái Quốc, Phan Bội Châu, Phan Châu trinh,... với các phong trào Cộng sản, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, Văn Thân,... liên tục ra đời, mục đích để làm thay đổi một thể chế chính trị suy đồi, một hội với nền kinh tế, văn hóa biến động.
Suốt hơn 2.000 năm qua, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc. Từng nếp nghĩ, nét văn hóa, cho đến những chuyển biến trọng đại của đất nước Việt Nam, Phật giáo luôn song hành, uốn mình theo khúc quanh của tổ quốc. Lúc nước nhà hưng thịnh, Phật giáo cũng phát triển, thăng hoa. Khi tổ quốc lâm nguy, Phật giáo cũng đồng chung số phận đứng bên bờ vực thẳm. Dưới ách thống trị tàn ác của Pháp Nhật, chẳng những cả đại bộ phận nước Việt Phật giáo cũng chịu chung số phận đàn áp, khai trừ.
Thật may mắn thay, tưởng giáođạo Phật đã ăn sâu trong lòng dân Việt, đến cả những chiếncách mạng anh hùng như Phan Bi Châu, Phân Châu Trinh,... cũng thấm nhun tư tưởng Pht giáo. Trong đó, Phan Bi Châu đã áp dụng tinh thần từ bi, vô ngã, bt bạo động của Phật giáo để viết trong bài Hải ngoại huyết thư của mình rằng: Chỉ cần tranh đấu bất bạo động thôi, cũng đuổi Tây về nước. Họ chỉ có 50 chục ngàn người, trong khi chúng ta một dân tộc hai mươi triệu. Chẳng cần gươm súng, chỉ cần đấu tranh hai tay không, ta cũng đuổi họ về nước. Điều cần thiết nhất ta phải một lòng, một dạ. Chúng 
đến thu thuế, nếu ta đồng lòng không nạp, thì chúng làm được ta? Nếu chúng gọi lính thì ta kêu gọi lính đừng bắt ta, bởilính cũng người Việt. Nếu chúng bắt một người trong chúng ta thì chúng ta kéo hàng chục ngàn người đi theo. Không do giết hết được? Cuối cùng chúng bỏ nước mình đi”2.
đây, ngụ ý của Phan Bội Châu muốn toàn dân chống Pháp bằng con đường bất bạo động, lên tiếng kêu gọi toàn dân đồng lòng, đoàn kết, hưởng ứng phong trào. Đây chính tưởng chủ đạo của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Rất nhiều phương tiện truyền thông đại chúng như báo giới, thi ca, diễn thuyết,... đều kêu gọi sự thức tỉnh, đồng tâm hiệp lực trong quần chúng nhân dân. Đáp lại lời mời gọi nhiệt tâm của những nhà cách mạng yêu nước, đã có nhng cuộc vn động chống thuế nổ ra đu tiên tại Trung kỳ (1908), và sau đó là Nam Trung k.
Bên cạnh Phan Bội Châu, người dẫn đầu phong trào kháng Pháp lúc by giờ còn có Phan Châu Trinh. Ông là người có tầm nhìn xa, nhìn sâu, rất tinh tế để nhìn nhận về thời cuộc. Với ông, muốn vực dậy đất nước Việt Nam, việc đầu tiên phải để vận nước song hành cùng tôn giáo, tôn giáo đó phải được lòng dân, do dân, dân đã ăn sâu trong huyết quản của người dân. Ông nói: Nước Đại Việt chúng ta ngày nay sở yếu hèn thiếu tinh thần tôn giáo. Tôn giáo luyện cho chúng ta đức hy sinh, coi nhẹ tính mạng của mình, phá sản đạo. Khôngtinh thần tôn giáo chúng ta không biết cương cường xả thânnghĩa, chỉ bo bo giữ cái lối riêng của mình. Nay con thử xét, đời Trần sao dân tộc ta hùng dũng như vậy: quân Nguyên thắng cả Á, Âu, nuốt trọn cả Trung Hoa qua nước ta thì bại tẩu; nào bị cướp sáoChương Dương Độ, nào bị bắt tróiBạch Đng, như vậy chẳng phải nhờ đạo Phậtta thời đó rất thịnh ư? Nhờ cái tinh thần tôn giáo của ta ư?3.
Phan Châu Trinh noi gương người xưa (thời Lý, Trn), ly Pht


      1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB. Văn học, tập 3, Nội, 2000, tr. 751.
      2. Dẫn theo, tài liệu giảng dạy của TS. TT. Thích Phước Đạt, Tổng quan về phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr.1.
 

giáo làm đạo gốc, nơi ngưỡng vọng về của quần chúng nhân dân, để từ đó kêu gọi nhân dân góp tiếng nói chung cho dân tộc, lấy lại sự công bằng cho hội, việc làm này đồng nghĩa phục hưng lại vị thế cho đạo Phật Việt Nam.
Tiếc thay, những cố gắng gầy dựng phong trào đấu tranh chống Pháp của Phan Bi Châu, Phan Châu Trinh, Trn Quý Cáp, Hunh Thúc Kháng những nhà chí sĩ đương thời sớm bị thất bại. Họ bị chính quyền thực dân bắt kết án, Đông Kinh Nghĩa Thục đã khép lại từ đây.vậy, tiếng vang của phong trào này đã tác động mạnh vào đời sống hội, nhân dân. Đây chính điểm son, dấu ấn lịch sử gây chấn động lớn đến phong trào phục hưng Phật giáo sau này.
    1. Tình hình Phật giáo
    1. Thực trạng Phật giáo
Đức Phật dạy:
Đạo pháp xương minh do tăng già hoằng hóa Thiền môn hưng thịnh nhờ tứ chúng đồng tu.
Phật giáo đến với người dân Việt, hòa mình vào cuộc sống của người Việt, biến mình thành đứa con của người Việt thân yêu. Nước Việt nhu hòa mở rộng trái tim ôm trọn những tinh hoa mangtưởng Phật giáo. Khi được người dân hoan nghênh tiếp nhận, đạo Phật đã không phụ tấm lòng hiếu khách, thể hiện mình trọn vẹn, cống hiến mình trọn vẹn, để mang lợi lạc cho dân tộc Việt Nam. Nhìn về lịch sử của hơn ngàn năm trước, các triều đại Lý, Trần làm rạng danh Phật tổ. Đạo Phật xứng đáng đứng trên đỉnh cao dưới sự hộ trì xương minh của các vị vua, vị Tăng tài đức.
Thế nhưng, khi đứng trên bục vinh quang bậc nhất của một tôn giáo, được sự bảo trợ, che chở, hộ trì, ngưỡng vọng của hàng vua chúa, quan lại, nhân dân, hàng Tăngđã không giữ được vị trí của mình, giới hạnh đã không còn tinh nghiêm, chuyên nhất. Phật giáo mất dần niềm tin trong lòng quần chúng.
Đầu thế kỷ XX, tình hình sinh hoạt của Phật giáo không gì 
xán lạn, nổi bật. Lúc này, Nho giáo được các vua triều Nguyễn trọng dụng. Triu Nguyn dựa vào Nho giáo để xây dựng bộ máy chuyên chế, tập quyền của nhà nước. Phật giáo như một món hàng thừa thi, chỉ để lợi dụng, trưng bày chứ ít được người quan m. Trong Việt Nam Phật giáo đấu tranh sử viết: Khi nhà Nguyễn thống nhất, từ Gia Long cho đến đầu thế kỷ XX, Phật giáo trở thành lợi khí chính trị trong tay các vua chúa để củng cố, xây đắp ngôi báu của mình, còn tăngthì bị trục xuống hàng thủ tự (ông giữ chùa) hay thầy cúng. Phật go bây giờ chỉ còni xác. Mt số chùa Tăng Ni phm trai phá trới là chuyện bình thường4.
Theo như trên thể cho thấy, Phật giáo thời này không còn chỗ đứng trong lòng vua chúa, quan chức nhân dân. Họ xem thường Phật giáo, thậm chí không muốnphát triển thêm, cả vua Gia Long Tự Đức đều hạn chế tối đa việc cấp phép xây chùa, đúc tượng, đổ chuông hay lập đàn tràng cúng kiến. Dường như, tất cả đã không còn niềm tin với Phật giáo nữa. Nguyên nhân này đâu? Phải chăng, do Tăng Ni sống buông thả, tha hóa, suy đồi đạo đức. Việc tu học không lo, tối ngày chỉ việc cúng kiến, kiếm tiền, ham danh, thích lợi, ưa mê tín, ma thuật, đồng bóng theo tín ngưỡng dân gian, bỏ bê tu niệm, học hành. Đến nỗi, tờ tạp chí Duy Tâm số 18 năm 1926, cư sĩ Khánh Vân đã viết:Có kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ trì, nhập sóc vọng, cũng sám hối như ai, nhưng lại luyện bùa học ngải, luyện roi thần, khi lên ông, lúc gặp bà, gọi cứu nhân độ thế, nhưng thực ra lợi dụng lòng muội của thiện nam, n nữ, rng túi tham vơ vét cho sch sành sanh”.
Không chỉ thế, những quan ngôn luận khác cũng dành cho sự tha hóa của Phật giáo những lời lẽ rất chua xót như: Đau đớn thay xứ ta, những hạng xuất gia vào chùa chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp tán cho già, nay lãnh đám này, mai lãnh đám kia, cũng tràng hạt, cũng sa, thử lật mặt trái của họ ra xem thìkhác nào người trần tục5.


  1. Tuệ Giác, Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử, NXB. Hoa Nghiêm, 1964, tr. 74.
  2. Dẫn theo Tạp chí Đuốc Tuệ, bài viết của Thanh Quang.
 

Như thế, Phật giáo lúc này đã thật sự tuột dốc trầm trọng, giới hạnh suy đồi, đạo đức không được thiết lập. Nếu cứ tiếp tục như thế, đạo Phật nguy sẽ mất dần trong lòng dân tộc, nơi đã ngự trị hơn cả ngàn năm qua. Lúc này, giới trí thức một số người tâm đạo lo ngại cho sự suy tàn của Phật giáo. Đặc biệt ở Nam kỳ thiền Thiện Chiếu, một vị Tăng trẻ, am tường học thức về ngôn ngữ cả Tây học lẫn Đông học, liễu ngộ thâm sâu nguồn giáo lý của đức Phật đã bức xúc trên tờ Đông Pháp, ra ngày 14/01/1927, số 532 như sau:Xét lại tăng giới hiện thờinước ta nhất Nam kỳ, phần nhiều không chịu chuyên tâm về đường học vấn, kẻ hảo tâm thời lo độc thiện,khi lạc vào cái chủ nghĩa yếm thế nên không biết nghĩa vụ trách nhiệm của mình; mình đã chẳng biết thời làm sao truyền ra cho người khác biết được? Phật đã không rệt, nên những kẻ tại gia tín ngưỡng phần nhiều tín, chỉ biết đốt hương cầu khấn Phật, Thần phù hộ, cho cuộc đời của mình được sung sướng thảnh thơi thôi, chớ ít có ai tiêm nhiễm một chút từ bi bác ái, thành ra cái chùa của Phật hình như cái bảo hiểm công ty, thời tránh sao khỏi những kẻ gian tà, họ lợi dụng để mưu kế sinh nhai, khiến cho tăng giới hàng ngày diễn tấn bi kịch6.
Trong tình cnh thực trng Pht giáo đi đến chỗ kit quệ suy vi như thế, những người con Phật tâm với đạo, bao gồm cả chư tăng lẫn cư sĩ tri thức, đều khát khao làm một cuộc cách mạng thay đổi diện mạo mới cho Phật giáo. Đưa Phật giáo trở lại vị trí đỉnh cao nhưđã từng. Tất nhiên, giọt nước làm tràn ly phải đợi đến khi các cuộc chấn hưng Phật giáonước ngoài rộ nở.
    1. Động lực dẫn đến công cuộc chấn hưng
Theo Nguyễn Tài Thư tác giả khác trong cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam thì:
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nước ta mất dần về tay thực dân Pháp, trở thành thuộc địa của Pháp. Sự thống trị của Pháp đã



  1. Nguyễn Đại Đồng, TS. Nguyễn Thị Minh (sưu tầm biên soạn), Phong trào chấn hưng Phật giáo (tư liệu báo chí Việt Nam từ 1927 – 1938), NXB. Tôn giáo, 2007, tr.16.
 

tạo điều kiện cho Thiên Chúa giáo phát triển. Càng ngày, đạo Thiên Chúa càng muốn thay thế các tôn giáo bn đa. Trước tình hình đó, Phật giáo nguy bị đẩy lùi mất chỗ đứng. vậy, trách nhiệm từ bi cứu khổ, cứu nạn vốn của các Phật tử, tức thời vận dụng nội dung mới để thức tỉnh quần chúng, cứu nước, cứu đạo.
Bên cạnh đó, nhiều tổ chức mới được tách ra từ đạo Phật truyền thống, hoặctôn giáo ra đời trên cơ sở sử dụng một số yếu tố của Phật giáo pha trộn một số yếu tố của các tôn giáo khác như đạo Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, hội Tịnh Độ cư sĩ,... các đạo này xuất hiện vừa như sự thách thức, vừa như nhằm thay thế vai trò chi phối hội của đạo Phật chính thống. Nhiều tín đồ Phật giáo đã bỏ đạo của mình để đi theo các đạo trên, hoặc tách ra theo đạo Thiên Chúa, hay trở thành người không đạo. Theo đà này, nếu Phật giáo không thay đổi sẽ nguy mất hết quần chúng, nguy bị diệt vong rất cao. Đây cũng chính một trong những động lực cần thiết để vận động chấn hưng Phật giáo.
Đưa tầm mắt nhìn ra thế giới, Phật giáo Việt Nam chợt thẹn lòng khi bè bạn Á châu đang làm những cuộc cách tân cho Phật giáo của h. Ở Trung Quốc, Tích Lan, n Đ, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Hàn Quốc Nhật Bản đã diễn ra những cuộc vận động chấn hưng Phật giáo sôi nổi, danh tiếng đồn vang khắp châu Á, sang tận cả châu Âu. Những khẩu hiệu: Cách mạng giáo lý, cách mạng giáo chế, cách mạng giáo hội vang dội một thời. Các tờ báo mới sôi nổi xut hin, trong đó có tờ “Hải Triu Âm” (1918), cùng với nhng hoạt động Phật sự bổ ích của các nhà sư, nhất Hòa thượng Thái Hư bên Trung Quốc, lp Pht học vin Vũ Xương m 1912. Và còn rất nhiều, rất nhiều cuộc vận động khác đã đang diễn ra.
Những thông tin về phong trào chấn hưng Phật giáo tại các nước ngày một rầm rộ, truyền sang Việt Nam làm nức lòng người con Phật. Họ tìm được ở đó sự động viên, nguồn kiến thức mới, những giải thích mới về kinh điển nhà Phật, rồi lấy đó làm hội xét lại Phật giáo tại quê hương, để thấy được tiềm lực khả năng của mình. Từ đó đi đến sự nhất trí, đồng lòng, cùng quyết tâm đẩy 
nhanh những tưởng đã nung nấu thành phong trào công khai chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam7.
Theo tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, hội nước Việt thời bấy giờ, chư Tăng Ni cùng nhântrí thức yêu nước, mến đạo đã ngồi lại, cùng nhau lấy ngọn cờ Phật giáo, tổng hợp lực lượng chống thực dân Pháp, giành độc lập cho dân tộc. Phục hồi tôn giáo chính thống Phật giáo, Bình minh lịch sử Việt Nam luôn luôn gắn liền với bình minh lch sử Pht go. Vì đây kng phải là làm sng lại một tôn giáo đã tàn tạ, một tín ngưỡng đã bị lãng quên. Trên thực tế, đạo Phật vẫn còn sống, chỉ cần thay đổi, cải tiến làm mới cả về nội dung lẫn hình thức, cả giáo cách thức tu hành. Như thế, thực chất của phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam cuộc cải cách, một cuộc cải cách sâu sắc toàn diện.
    1. Sơ lược quá trình chấn hưng Phật giáo
Chấn hưng Phật giáo việc cấp bách cần thực hiện, thế nhưng việc châm ngòi nổ đầu tiên, chính thức lên tiếng để công cuộc chấn hưng thực sự được thể hiện phải kể đếnNam kỳ, do cư sĩ Huỳnh Thái Cửu mượn cớ thỉnh chư tăng đến tư gia tổ chức đại lễ cầu siêu cho cha mẹ sau mùa an cư m 1926. Trong bài tác bạch cúng dường của mình, ông tha thiết cầu xin chư tăng đồng lòng đứng lên chấn hưng Phật giáo, mạnh dạn lập hội chỉnh đốn tăng già, đưa Phật pháp ra khỏi cửa thiền môn. Tiếp nhận lời thỉnh cầu đó, Hòa thượng Khánh Hòa, người công đầu tiên trong việc tiên phong làm những cuộc cách mạng chấn hưng Phật giáo, đã bàn với Hòa thượng Long HòaTrà Vinh, đề xuất chương trình chấn hưng bao gồm bốn điểm.
  1. Lập hội Phật giáo
  2. Thỉnh ba tạng kinh điển dịch ra chữ quốc ngữ
  3. Lập trường Phật học đào tạo tăng tài



7. Trích: Nguyễn Tài Thư (chủ biên) tác giả khác, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB. Khoa học hội, Nội, 1988, tr.419, 430 – 433.
 
 
  1. Xuất bản tạp chí phổ biến giáo lý, kêu gọi tăng đồ thức tỉnh, chấn hưng quy củ thiền môn.
Từ đây, các cuộc chấn hưng bắt đầu xuất hiện phát triển rầm rkhắp nơi. Từ min Nam lan rng đến min Trung và nh hưởng đến miền Bắc. Mỗi nơi đều thành lập xây dựng cho mình bộ máy chấn hưng phù hợp với phong tục tập quán. Cả ba miền đều những nét riêng, những dấu ấn riêng đã để lại nhiều bài học quý cho đàn hậu học sau này. Chúng ta sẽ tham cứulược đến các hội ở ba miền.
    1. Nam kỳ
Công cuộc chấn hưng Phật giáoNam kỳ gắn liền với sự nghiệp hoằng pháp của Thiền Khánh Hòa, trong việc hình thành các tổ chức Phật giáo, đỉnh cao thành lập Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học (1931) tại chùa Linh Sơn, cung thỉnh Thiền sư Từ Phong làm Hội trưởng ra mắt tạp chí “Từ Bi Âm” (1932). Từ Bi Âm của hội đã chuyển tải phổ biến giáo đức Phật đến quảng đại quần chúng.
Với hoài bão mong muốn đào tạo tăng tài, kế vãng khai lai, Thiền Khánh Hòa cùng với các vị pháp hữu như Thiền Huệ Quang Thiền Khánh Anh,... lập ra Liên đoàn Phật học lập hội Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh, lập Ni trường ở chùa Vĩnh Bửu dành cho chư Ni tại Bến Tre.
Với sự mong muốn đem đạo Phật vào cuộc đời, Thiền Thiện Chiếu cùng với pháp hữu Trí Thiền lập ra Hội Phật giáo Kiêm Tế tại chùa Tam Bảo ở Rch Giá và xut bn tạp chí Tiến Hóa.
    1. Trung kỳ
Pht giáo Trung ktiêu biu là Hi An Nam Pht học, được thành lập năm 1932, dưới sự chứng minh của Thiền Giác Tiên, vin chủ chùa Trúc Lâm. c sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám làm hi trưởng. Hội đã ra mắt tạp chí “Viên Âm” năm 1933.
Hội An Nam Phật học hội đã tạo được tiếng vang lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo. Năm 1935, hội đã tổ chức đại lễ
 

Phật đản quy mô rất hoành tráng, tập hợp được đông đảo quần chúng, đánh động được tâm thức của người con Phật trong công cuộc chấn hưng Phật giáo. Hội đã khai giảng được các lớp Phật học từ đẳng cho đến đại học tại các chùa Vạn Phước, Từ Đàm, Tường Vân, o Quốc, đc bit tại chùa Trúc Lâm đã tổ chức được các lớp Đại học Cao học cho chư Tăng Ni, các cấp cán bộ lãnh đạo của Giáo hội cao tăng thạc đức như Thiền Trí Thủ, Thiền Mật Hiển, Thiền mật Khế,...
Năm 1937, khai giảng lớp Phật học trung đẳng tại chùa Long Khánh, Bình Định. Cùng năm này, Đà Thành Phật học hội được thành lập tại chùa Phổ Thiên (Phổ Đà), Đà Nẵng, xuất bản tạp chí Tam Bảo, khai ging các lớp sơ đng và trung đng Pht học. Đc biệt, hội An Nam thành lập được hệ thống Gia đình Phật tử đầu tiên tại Việt nam cả trên thế giới.
    1. Bắc kỳ
nh hưởng từ sự chấn hưng Pht giáo ở Nam kvà Trung k, công cuộc chấn hưng Phật giáo Bắc kỳ tuy muộn hơn nhưng phát triển rất nhanh. Hội Phật giáo Bắc kỳ đã nhóm họp tại chùa Quán Sứ (11 – 1934) thành lập ban quản trị, suy cử Thiền Thanh Hanh làm Thiền gia pháp chủ mời viên giám đốc trường Viễn Đông Bác cổ George Coedès làm hội viên danh dự. Xuất bản tạp chí “Đuốc Tuệ”, sau đó tạp chí Tiếng Chuông Sớm (1935) của sơn môn chùa Đá chùa Hồng Phúc.
Công tác giáo dục hoằng pháp của hội được xúc tiến một cách nhanh chóng, một phần nhờ hội đã quy tụ được các tầng lớp trí thức, các nhà văn, các nhà học giả của thủ đô. Về phương diện học thuật văn chương, hội Phật giáo Bắc kỳ báo Đuốc Tuệ đã đóng góp rất nhiều cho công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà.
Sự đóng góp của các hội Phật giáo trong thời kỳ chấn hưng thể nói rất to lớn trong công cuộc hoằng pháp, phổ biến giáoPhật đà đến quảng đại quần chúng Phật tử. Thành lập các tổ chức Phật giáo, mở ra các trường Phật học đào tạo Tăng Ni, cung cấp cho giáo
 

hội những bậc chân tu, thực học, những cán bộ ưu tú, nòng cốt cho Phật giáo Việt Nam.
Nổi bật về sự dấn thân, ủng hộ cả nhân lực, tài lực, vật lực, bên cạnh kế hoạch quy mô, tổ chức, đổi mới đường lối hẳn hoi đó, phải kể đến phong to chấn hưng Pht giáo tại Trung k. Bởi nhờ phong trào mũi nhọn này, đã sản sinh ra những nhân tài lãnh đạo giáo hội Phật giáo Việt Nam, khai sinh ra một thế hệ nòng cốt cho Phật giáo. Đây yếu tố đáng để người sau noi gương, học hỏi.
  1. QUAN ĐIỂM PHẬT HỌC TẠI TRUNG KỲ TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO
thể nói, miền Nam nơi nổ tiếng súng đầu tiên cho công cuộc chấn hưng Phật giáo. Phong trào này ngày một nổi lên rầm rộ khắp nơi, lan tỏa đến các vùng miền của đất nước Việt Nam. Miền Trung, nằm giữa hai đầu nỗi nhớ Nam Bắc. Do vậy, sự giao thoa thông tin giữa Nam và Bắc, min Trung đu nắm rõ. Đc bit khi sư Thiện Chiếu được Hòa thượng Khánh Hòa cử ra Bắc bàn về vấn đề chấn hưng Pht giáo có ghé lại min Trung. Trong ln gp mt này, chắc chắn Thiện Chiếu sẽ đem kế hoạch chấn hưng Phật giáo tại miền Nam kể lại với chư vị Tăng Ni, Phật tử tại Huế. Thế nên, sau một năm hội chấn hưng Phật giáo tại miền Nam được thành lập đi vào hot động. Min Trung cũng vng bước, bt đu cho cuộc hành quân trong phong trào phục hưng Phật giáo.
Người khởi xướng cho phong trào này Hòa thượng Giác Tiên, đệ tử của Hòa thượng Tâm Tịnh (Tây Thiên). Suốt những năm tháng hành đạo, Ngài đã độ được rất nhiều đệ tử tại gia lẫn xuất gia. Những vị xuất gia nổi bật, góp công lớn cho công cuộc phục hưng Phật giáo Việt Nam phải kể đến là: Ngài Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể,... về cư sĩ Tâm Minh Đình Thám còn rất nhiều vị khác nữa.
Nhận thấy sự suy vi của đạo Phật ngày một nghiêm trọng, Ngài cũng nhận ra nguyên nhân sâu xa Phật giáo ngày một mất dần chỗ đứng tầng lớp Tăng Ni thất học, bán rẻtưởng, vụng dại trên 
đường tu. Hàng Phật tử không hội tiếp cận giáo lý, mờ đi trong đêm tối, không phân biệt được chánh, tà, hư, ngụy,... Từ những lý do chánh đáng này, năm 1932, Ngài quyết định chỉ dạy các đệ tử tại gia xuất gia của mình thành lập hội An Nam Phật học. Khi hội này được thành lập, Ngài vị chứng minh đạo sư, hội trưởng do đệ tử Tâm Minh Đình Thám đứng đầu. Hội này được thành lập với rất nhiều ý nghĩa trọng đại cấp thiết như sau:
  1. Mở trường Phật học
    1. Chỉnh đốn tăng già
Mục đích chính đáng cấp thiết đầu tiên của hội làm sao chỉnh đốn lại hàng ngũ của tăng già. Bởi, khi Phật giáo suy thì nhân tâm thế đạo cũng suy, phong hóa cũng suy;Phật giáoquan hệ cho thế đạo nhân tâm,giúp ích cho nhà giáo dục nhà chính trị8. Thế nhưng, khốnPhật giáo ngày nay cũng chẳng còn thế lực gì. Đương lúc lớp đồi ba đổ dồn này, đạo đức đã kém, lòng tín ngưỡng cũng suy. Tha hồ cho giặcdục tràn ra không thể ngăn cấm được. Tranh nhau quyền lợi, đua nhau sắc dục, lừa dối lẫn nhau, làm hại lẫn nhau, quá đến nỗi xóa hết cả cương thường, khinh bỏ hết cả lễ nghĩa. Đáng than thở lắm thay!9.
Đây chính sự đau nhức, nỗi xót xa cho tình hình Phật giáo thời bấy giờ. Do đó, khi thành lập được hội An Nam, việc đầu tiên phải lên kế hoạch cụ thể cho việc chấn chỉnh lại hàng ngũ của tăng già. Hội chủ trương, nhanh chóng mở lớp dạy học cho Tăng Ni.
Khóa Phật học đầu tiên được mở vào năm 1933 tại chùa Vạn Phước, lớp học này chủ yếu dành cho các vị sa di, do ngài Giác Tiên ủy nhiệm cho ngài Mật Khế. Chủ trương của lớp học này đạo tạo thế hệ trẻ, thế hệ kế thừa, thế hệ tiên phong, gương mẫu đầu tiên, để giảm tải bớt những thành phần bất hảo đang mặt trong tăng đoàn. Và, như một điều kỳ diệu, như một sự gia bị của chư thiên,



  1. Nguyễn Đại Đồng PhD. Nguyễn Thị Minh (sưu tầm biên soạn), Phong trào chấn hưng Phật giáo, NXB. Tôn giáo, TP.HCM, 2007, tr. 405.
  2. Nguyễn Đại Đồng PhD. Nguyễn Thị Minh (sưu tầm biên soạn), 2007, Sđd, tr. 407.
 

long thần hộ pháp, lớp học này đã quy tụ những thiền kiệt xuất của Phật giáo ngày mai như: Quảng Huệ, Trí Thủ, Mật Thể, Chánh Thống, Th n Trí, Th n Hòa, Th n Hoa,... Đây chính là nhng nhân tố chính thống, làm nên trang sử vẻ vang, xương minh đạo pháp, những ngôi sao sáng, sáng mãi trên bầu trời Phật giáo Việt Nam.
Lớp học đầu tiên đã đi vào nề nếp. Một năm sau, năm 1934, hội tiếp tục tnh lp tổ chức trường An Nam Pht học tại chùa Trúc Lâm, quy tụ được 50 học tăng. Lớp học này tốt nghiệp, hội chọn ra nhng vcó học lực khá, có đo hạnh tốt đưa vTrúc Lâm để tiếp tục mở cấp Đại học Phật giáo. thể thấy rằng, đường lối chủ trương của hội An Nam được chuẩn bị đầukhá chu đáo. Biết chọn người, biết cách đào to và biết dụng người đúng ch. Tng sóng trước vỗ lên bờ, tầng sóng sau ập đến, từng làn sóng cứ tiếp nối, tiếp nối, tiếp nối mãi. Còn tuyệt vời hơn.
Để được những thành tựu như thế, ắt hẳn không ai quên được một nhân vật rất xuất sắc luôn đứng bên cạnh ngài Giác Tiên, nương vào đức độ của Ngài để phục hưng Phật giáo. BácTâm Minh Đình Thám một người tài, mang khối óc thông minh một trái tim yêu Phật giáo nhiệt tình. Ông uyên thâm cả Hán học, Pháp học, ứng dụng thành thạo về phương pháp làm việc cả Đông lẫn Tây. Yếu tố này đã làm nên sự thành công đại nhất của hội An Nam, những hội khác ít có. Ông còn người khiêm cung, đức độ, không ngồi mãi ở ghế hội trưởng, liên tục luân phiên, mời gọi hàng trí thức, chức sắc cùng tham dự. am tường Phật học thâm sâu, ông được mời vào giảng dạy trong các trường Phật học, nhưng bao giờ ông cũng đảnh lễ chư Tăng trước khi bước lên bục giảng.
vị trợ đắc lực của chư tăng, đặc biệt của ngài Giác Tiên. Nhận thấy trọng điểm của hội đào tạo tăng tài chấn chỉnh lại uy nghiêm cho Phật giáo. Đưa ra ý kiến thanh lọc lại tầng lớp chư tăng. Tức, thành lập hội đồng luật sư, thông hiểu giới luật để giám sát gới hạnh của tăng chúng. Đưa ra những biện pháp xử nghiêm khi nhữngnhân vi phạm giới luật.đây, không phải thành lập chương trình để làm khó chư tăng, để bảo vệ giới thể, để tăng già 
được xứng đáng thiên nhơn chi đạo trong ba cõi, để Phật giáo được hưng thịnh.
Bên cạnh đó, thành lập một ban thầy cúng riêng biệt, tách khỏi hàng ngũ xuất gia, để chư tăng thời gian học hành, hoằng pháp, tu niệm. Người xuất gia những vị hảo tâm, tưởng hướng đạo, thầy của trời người, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Thầy cúng, những vị ứng phó đạo tràng, chuyên về tán, tụng, xướng lễ. Họ không được ở những ngôi chùa dành cho chư tăng, không được đắp y, mặc hậu hay dùng những thứ chỉ một người xuất gia chơn chánh dùng. Ngoài ra, hội còn đưa ra 6 cách để chỉnh lý tình trạng tăng sĩ, với mục đích để tăng già được thanh tịnh, để chánh pháp mãi vững bền. Đây chính việc làm mang tính đột phá, táo bạo, hơi mạo hiểm, nhưng phương pháp tối ưu để trả lại sự trong sạch, thánh thiện cho Phật giáo. Mặcphương án này bị dư luận phản đối kịch liệt gặp rất nhiều trở ngại, tuy nhiên vẫn áp dụng được, dần dần cũng đi vào nề nếp.
Không dừng lại đó, hội An Nam còn đưa ra những hoạch định mới cho các chương trình Phật học quy mô, xưa nay chưa nơi nào làm được.
    1. Chương trình đào tạo Phật học
Như trên đã đề cập, chương trình Phật học đầu tiên của hội An Nam được mở tại chùa Trúc Lâm. Kế hoạch cho chương trình đào tạo này hai cấp; Tiểu học Đại học, được thành lập dưới hệ thống các bộ môn Nguyễn Lang đã viết trong Việt Nam Phật giáo sử luận như sau:
- Tiểu học (năm năm):
Năm thứ nhất: Quốc văn hai thời công phu
Năm thứ hai: Lịch sử đức Phật Thích Ca, bốn phép toán Phật học giáo khoa thư
Năm thứ ba: Luật Sa di (trường hàng), kinh Lương Thọ, kinh Đa Tng và Thủy Sám Pháp
Năm thứ tư: Sa di luật giải kinh Thập Lục Quán
Năm thứ năm: Di Đà sớ sao kinh Pháp Bảo Đàn10 (học tăng tốt nghiệp tiểu học mới được thọ giới Sa di)
Nhìn chung, chương trình cấp bậc tiểu học của hội An Nam khá dài, khá rườm rà, phức tạp. Người viết đồng ý với quan điểm của TT. TS. Thích Phước Đạt: “Chương trình này có khuyết điểm là quá dài, nhất hai năm đầu học tiểu học không cần thiết. Kiến thức của hai năm này thực rathể được các chùa địa phương cung cấp trước khi học tăng gửi về Phật học đường. Như vậy, gánh nặng về tài chánh sẽ được giảm bớt11. Theo người viết, chương trình tiểu học chỉ nên gói gọn trong ba năm, những học phần như lịch sử đức Phật Thích Ca, hai thời công phu,... nên đào tạo học tăng học gia giáo tại chùa. Theo lẽ, trong thời gian mới xuất gia học đạo, các học tăng nêngần vị bổn của mình để học các oai nghi, kinh điển. Đây cũng thời gian cho họ tập sự, hành điệu, làm công quả tích phước cho mình. Khi họ đã vững vàng rồi mới gửi vào Phật học viện học cùng chúng bạn.
Một điều nữa, người viết rất đồng ý với các môn học ở cấp bậc tiểu học. Đây những môn học căn bản của người xuất gia, từ các bộ luật dạy về oai nghi tế hạnh, đến những bộ kinh gần gũi, đọc tụng hàng ngày. Mục đích để các học tăng đến gần vớitưởng của mình, học giới, học oai nghi chuẩn bị cho hành trang làm bậc thầyphạm. Không đi theo vết xe đổ của sự tha hóa tăng già, dẫn đến Phật pháp suy vi trước đó.nhiên, đây lần đầu tiên hội An Nam tổ chức hệ thống Phật học đào tạo tăng tài bài bản, nên kinh nghiệm chưa cao. Do vậy, không làm sao tránh khỏi những thất.
Hội An Nam còn bước thêm bước nữa, bằng cách đào tạo cấp bậc đại học, với chương trình dạy như sau:
- Đại học (năm năm)


  1. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 821.
  2. Dẫn theo, tài liệu giảng dạy của TT.TS. Th Phước Đạt (2012), Tổng quan về phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, tr.22.
 

Năm thứ nht: kinh Kim Cương Trực Sớ, Tâm Kinh Chú Gii, Duy Thức Phương Tiện Đàm Bát Thức Quy Củ Tụng Trang Sớ
Năm thứ hai: kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác Nhân Minh Luận
Năm thứ ba: kinh Lăng Già, Khởi Tín Luận, Đại Thừa Chỉ Quán Năm thứ tư: Thành Duy Thức Luận, kinh Pháp Hoa kinh
Phạm Võng
Năm thứ năm: Đại Bát Niết Bàn, Tứ Phần Luật12 (tốt nghiệp đại học mới được thọ giới tỳ kheo)
cấp bậc Đại học, hội An Nam rất khéo léo trong cách chọn môn học cho tăng sinh. Khi các học tăng đã vượt qua được cấp bậc tiểu học, họ đã tiếp thu khá nhiều vốn kiến thức về giáo lý. Như vậy, họ đủ nguồn tri thức để tiếp nhận những bộ kinh mangtưởng cao siêu của đại thừa Phật giáo như: kinh Lăng Nghiêm, kinh Pháp Hoa, Thành Duy Thức luận. Mặcđã lên đến cấp bậc đại học, nhưng chương trình học của hội vẫn giữ truyền thống, củng cố giới hạnh cho tăng sinh, tiếp tục dạy Tứ Phần luật. Mục đích, để đào tạo một thế hệ trồng người cho Phật giáo ngày mai. Xong đại học mới cho thọ giới tỳ kheo cũng một cách để sàng lọc người chí khí, đạo hạnh, tài đức vẹn toàn. Tuy nhiên, chương trình đại học khá nặng dài, sẽ tạo áp lực rất lớn cho phía người học cả người dạy. Rút tỉa kinh nghiệm từ hai hệ thống giáo dục trên, năm 1944, một chương trình Phật học mới được hoạch định như sau:
- Sơ đẳng (hai năm)
Năm thứ nhất: Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Ngũ Thiên Sứ Giả, Trừ Khủng Tai Hoạn, Bụt kinh, Tứ Thập Nhị Chương Bát Đại Nhân Giác. Luật Sa di, luận Duy Thức Tam Tự kinh. Khóa tụng: Nghi thức của hội (giảng giải) các khóa nghi trong sơn môn.
Năm thứ hai: Kinh Phật Di Giáo, Nhị Khóa Hiệp Giải. Luật cảnh



  1. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 821 – 822.
 

sách, luận Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn luận giải (của Khuy Cơ). Bát Thức Quy Củ Tụng Trang Chú, Đại Thừa Khởi Tín luận. Khóa tụng: các khóa nghi trong sơn môn13.
Chương trình Phật học đẳng của hội mặc dù chỉ gói gọn trong hai năm, nhưng nội dung học bao hàm được kiến thức khái quát cấp thấp, phù hợp với đối tượng học đạo.
- Trung đẳng (hai m)
Năm thứ nhất: Kinh Duy Ma Cật kinh giảng lục (Thái Hư), Kim Cương kinh giảng lục (Thái Hư). Luật: Ưu Tắc Giới kinh. Luận: Đại Thừa Chỉ Quán, Duy Thức Đích Khoa Học Phương Pháp, Nhân Minh sớ. Khóa tụng: Các khóa nghi trong Sơn Môn.
Năm thứ hai: kinh Lăng Nghiêm. Luật: Tứ Phần Luật sớ. Luận: Tính Thc Lun, Trung luận. Khóa tụng: các khóa nghi trong Sơn Môn14.
Chương trình Phật học bậc trung đẳng không quá nặng nề. Mặc những bộ môn mangtưởng đại thừa khá cao như: Luận Đại Thừa Chỉ Quán, Nhân Minh sớ, Duy Thức,... nhưng do tăng sinh đã nguồn kiến thức nền từ đẳng, nên dễ dàng tiếp nhận.
- Cao đẳng (hai năm)
Năm thứ nhất: kinh Lăng Già Tâm Ấn. Luật: Bồ tát Anh Lạc kinh. Luận: Bách luận, A Tỳ Đạt Ma Câu luận.
Năm thứ hai: kinh: Pháp Hoa kinh Văn Cú. Luật: Phạm Võng kinh Hợp Chú. Luận: Nhị Thập Môn luận, Thành Duy Thức luận. Theo chương trình này, những học tăng tốt nghiệp cao đẳng, nếu muốn thành giáo dạy các trường Phật học thì phảilại nghiên cứu tu tập thêm hai năm nữa15. Một vấn đề khác, khi tuyển sinh vào các lớp Phật học, chư học tăng phải trải qua kỳ thi tuyển sinh với ba môn; quốc ngữ, đọc viết chữ Hán, đậu học pháp, vị nào đủ điểm mới được vào học.


  1. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 823.
  2. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 821 – 823 – 824.
  3. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 821 – 824.
 

Cao đẳng Phật học cấp bậc học cuối cùng, do vậy, chương trình học cần đào tạo chuyên sâu. Hội đã chọn ra những bộ kinh tầm cỡ về gốc độ nghiên cứu, học thuật mangtưởng đại thừa như: Kinh Pháp Hoa, Thành Duy Thức luận, Bách luận,...
Nhìn chung, sau lần rút kinh nghiệm từ cấp bậc Tiểu học Đại học, hội An Nam đã vạch ra cho mình đường hướng giáo dục tăng tài một cách hệ thống, logic, chặt chẽ, khoa học. Chương trình học không quá nặng nề, dàn trải. Không gây áp lực cho cả người học lẫn người dạy. Đình Thám đã áp dụng những sở học cả Đông lẫn Tây, định hướng cho kế hoạch đào tạo tăng tài một cách chỉn chu, hoàn thiện, trước nay, chưa hội nào làm được. Đây sự thành công bậc nhất từ trước đến nay. Mặcgặt hái được nhiều thành công thế, nhưng chủ trương chương trình dạy học của hội vẫn đảm bảo để chư tăng vừa học giáo lý, vừa hành trì giới luật, vừa mang sở kiến của mình để biện giải những bộ luận thư, lại vừa giữ đúng thời khóa hội đã đề ra. Bằng chứng mỗi học phần, từ đẳng, trung đẳng đến cao đẳng đều dạy luật, dạy luận, dạy kinh các thời khóa tụng niệm. Mục đích của hội không ngoài việc, giúp Phật giáo Việt Nam thêm đội ngũ kế thừa, mang trọng trách hoằng dương chánh pháp.
  1. Lập quan ngôn luận
Mục đích ra đời hoạt động của hội An Nam không ngoài việc cải tạo diện mạo mới cho Phật giáo. Do vậy, bất kỳ chương trình nào, việt làm nào lợi ích, mang đến kết quả tốt đẹp cho việc chấn hưng Phật giáo, hội Phật học An Nam đều tận dụng. quan ngôn luận chính một trong những mô hình không thể thiếu trong công cuộc phục hưng Phật giáo thời bấy giờ. Thế nên, ngoài việc chuyên tâm đào tạo các trường Phật học, hội còn cho ra đời tạp chí “Viên Âm. Thành lp cơ quan ngôn lun này để góp tiếng nói chung cho chương trình phục hưng Phật giáo.
Tạp chí Viên Âm ra đời đặt trụ sở tòa soạn tại số 13, đường Champeau Huế. Người tham gia trực tiếp viết bài cho tạp chí này 
cư sĩ Đình Thám16. Song song đó, hội còn mời gọi các thành phần nhân sĩ, trí thức, chính quyền tham gia vào hội như: Ứng Bàng, Nguyn Đình Hòe, Nguyn Khoa Tân,... Điu đc bit, vua Bảo Đại cũng tham gia vào vai trò làm hội trưởng danh dự của hội. Từ năm 1934 trở đi, tại Huế rất nhiều chùa được vua ban Sắc Tứ như: sắc tứ Tây Thiên Di Đà tự, sc tứ Đại Thánh Trúc Lâm tự,... Đây chính điểm nổi bật của hội, lối đi sáng suốt được sắp đặt rất chu toàn. Có thể nói, từ thời Lý, Trn, Pht giáo đến bây giờ mới ni lại được sợi dây thiện cảm với các vị vua nước Việt.
Một điểm nữa thể nhận thấy, hội An Nam Phật học rất khôn khéo khi nhiệt tình mời gọi sự tham gia của vua, quan, các nhà chức sắc, nhântrí thức,... vào hội. Bởi khi Phật giáo đã nhận được sự cảm mến này, thì mảnh đất sống sẽ trở nên màu mỡ, không sợ các thế lực khác lên tiếng bài xích, tẩy chay.
Hậu trường đại lễ Phật đản năm 1935, rất nhiều bài báo chỉ trích Phật giáo, buông những lời lẽ rất thiếu thiện cảm như: đạo Phật đạo ru ngủ quần chúng, chấn hưng Phật giáo không hợp thời cơ, đã thể hiện trong bài “Phật giáo dưới Kính Hiển Vi” của báo Ánh Sáng, ra ngày 8.6.1935. Các vị trí thức được hội mời vào lập tức lên tiếng, trong đó giả Nguyễn Xuân Thanh đã trực tiếp bác bỏ luận cứ về Kính Hiển Vi. Ông cho rằng: Kính Hiển Vi chỉ phù hợp để xem vi trùng, chứ không thể xem Phật giáo17. Với ông: Phật giáo rất thích hợp với đời sống mới. Đạo Phậtđủ tinh thần cải cách, tinh thần độc lập tinh thần dũng cảm18. Tiếp tục với những sự kiện trên, Nguyễn Xuân Thanh còn thẳng tay phê bình các bài viết của báo Tràng An báo Ánh Sáng đã cái nhìn sai lệch về Phật giáo. Bởi quan điểm của ông: Đạo Phậtthể luyện cho con người tinh thần tự lập, cương quyết, biết hy sinh, thanh niên của Phật giáo người có thể thực hiện tinh thần ấy,họ những bực đã phát Bồ đề tâm19.

  1. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 827.
  2. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 830.
  3. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 830.
  4. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 830.
 

Ông nhấn mạnh: Người nào muốn phê bình đạo Phật thì trước hết, ít nữa cũng phải biết đạo Phật chi đã20.
Bên cạnh Xuân Thanh, cư sĩ Tâm Minh Đình Thám cũng viết bài tranh luận với Bích Liên các học giả khác về đề tài “Cái Hồn” trong Phật giáo. Dưới ngòi bút điêu luyện nắm vững lý đạo của Tâm Minh, Viên Âm đã cho ra đời những tác phẩm tranh luận về Phật giáo sôi nổi, giá trị. Đặc biệt lúc này, chư tăng chỉ người chứng minh, để cho hàng nói lên tiếng nói công của Phật giáo, dùng trí tuệ siêu việt chơn chánh để bác bỏ những tưởng sai lệch, chấp trước. Làn sống này nổi bật đến nỗi, Hòa thượng Giác Nhiên chứng minh đạo của hội phải viết thư lên tiếng, khuyên Viên Âm tránh sự cãi cọ như tránh hang lửa trừ khi phải hộ pháp21. Điều này chứng tỏ, Viên Âm một tạp chí chỗ đứng, tiếng nói giá trị được mọi giới quan tâm thời bấy giờ.
nhiên, cái chính ở đây của hội An Nam không phải dùng trí tuệ ngòi bút của mình để phỉ báng, bài xích, yêu Phật giáo đến cuồng tín. chủ trưởng của hội muốn để mọi tầng lớp, mọi giới trong hội hiểu đúng về đạo Phật. Qua các bài viết tranh luận, phản hồi, đối chất đó, bạn đọc sẽ hiểu hơn về sự mặt rất ý nghĩa của đạo Phật giữa cuộc đời, mang đến hoa thơm trái ngọt cho cuộc đời, chứng minh Phật giáo hơn nghìn năm đồng hành cùng dân tộc,Bình minh của lch sViệt Nam là bình minh của lch sử Pht giáo”. Qua đó, để minh oan cho Phật giáo về những kiến giải sai lầm một số học giả đã gán cho đạo Phật.
Công cuộc chấn hưng của hội An Nam đã lên đến đỉnh cao của sự thành công bởi biết cách tân tiến hóa. Thừa thắng xông lên, hội không dừng lạiđây, tiếp tục trên con đường khám phá của mình, tìm lối đi mới, phát triển thế hệ đào tạo nhân tố mới cho Phật giáo Việt Nam. Mang đến diện mạo tươi trẻ cho đạo Phật Việt Nam,



  1. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 830.
  2. Nguyễn Lang, Sđd, tr. 830.
 

xưa nay chưa nơi nào làm được, kể cả các nước trên thế giới. Hệ thống gia đình Phật tử đã xuất hiện từ đây.
3. Thành lập hệ thống gia đình Phật tử
thể nói, việc đào tạo thế hệ trẻ cho Phật giáo không phải đợi đến ngày gia đình Phật tử Việt Nam chính thức thành lập tại Huế. mô hình này được thai nghén từ những năm 1932, những tổ chức thiếu niên thiếu nữ đã mặt rồi, tổ chức được gọi những ban Đng Ấu. Min Trung có cư sĩ Bửu c dy d, min Bắc có Công Chân. Tuy nhiên, những ban Đồng Ấu này chưa đích thực những tổ chức giáo dục thanh thiếu niên theo phương pháp mới. Cho đến năm 1940, cánh chim đầu đàn Đình Thám bắt đầu quy tụ một số thanh niên trí thức tân học, thành lập đoàn Đồng Ấu Phật tử Thanh niên Phật học đức dục (ra đời ngày 8/12/1940 Canh Th  ).
Hệ thống này được hình thành do hai nhu cầu chính, khách quan chủ quan. Về khách quan, do đạo đức giới trẻ ngày một suy đồi. Củng cố nền đạo đức cho giới trẻ, chính hệ thống lại đội ngũ về nhân sự tiếp nối cho đất nước đạo pháp. Về chủ quan, nhận thấy sự phát triển lớn mạnh tồn tại lâu dài của hội An Nam Phật học, trong công cuộc chấn hưng Phật giáo không thể thiếu sự đóng góp từ bàn tay khối óc của người trẻ. Do đó, đoàn thanh niên Phật tử mới được hình thành.
Gia đình Phật tử được thành lập, các lớp Phật học chuyên về giáocũng được mở để dạy cho họ. Tuy nhiên, với đường lối cách tân hóa tây học, các lớp học này không thuần chất về Phật học gia giáo theo các bản Hán văn, được hệ thống lại bằng cách Tây hóa. Do đó, đội ngũ này tiếp thu nguồn Phật học rất nhanh chóng. Dưới bàn tay yểm trợ đường lối cải cách, kế hoạch, nội quy, đường hướng hoạt động cách tân tiến hóa của Tâm Minh. Mục đích để đội ngũ thanh thiếu niên này dần dần được mở rộng, đào tạo tầng lớp kế thừa người đi trước. Tạo thành điểm son, dấu ấn đậm nét, mới mẻ đu tiên của Pht giáo min Trung, của Pht giáo cả nước trên thế giới. 
Một quyết định sáng suốt của Tâm Minh, khi chính thức để tầng lớp thanh niên Phật tử trí thức, sinh viên, học sinh tham dự vào biên tập tạp chí Viên Âm. Ông còn đứng ra tổ chức trường lớp cho hoạt động mới này. Đây chính chiêu thức để mời gọi sự tham gia của tầng lớp thanh niên Phật tử mới. Cho ra đời nhiều ban Đồng Ấu ở các nơi. Bên cạnh đó, chiến lược để tổ chức gia đình Phật tử hệ thống sáng tác bài ca chính thức “Sen trắng” (nhạc: Ưng Hội, lời: Phạm Hữu Bình Nguyễn Hữu Quán) trong mỗi lần sinh hoạt. theo Tâm Minh: Không thành tựu vững bền nào lại không nhắm đến hàng ngũ thanh thiếu nhi, chính họ người tiếp nối chúng ta trong ngày mai”.
Chương trình học của thanh niên Phật tử được chia làm bốn chúng: Tùy hỷ (mở mắt), tùng chúng (cánh mềm), dự bị (chân cứng) bậc đẳng (tung bay). Phong trào này đã thu hút nhiều nhântrí thức như: Đình Cường, Phạm Hữu Bình, Ngô Thừa, Đinh Văn Nam,... Người lãnh đạo trực tiếp giảng dạy đội ngũ này bácTâm Minh Đình Thám.
Năm 1941, Phật học tùng thư ra đời. Bởi khi đã hội tụ được tầng lớp thanh niên trí thức nghiên cứu chuyên sâu về Phật giáo, mới thành lập được các tổ chức so sánh những nhận định vềtưởng của Phật giáo dưới ánh sáng của nền khoa học hiện đại. Mục đích ra đời của Phật học tùng thư để biên soạn, ấn hành lưu trữ các sáng tác, khảo cứu của các thành viên trong đoàn Phật học đức dục. Sử dụng hình thức phổ biến này để tuyên truyền giáođạo Phật đến với mọi tầng lớp trong cộng đồng. Lúc này, các tờ báo khắp nơi ca ngợi sự cách tân tiến hóa của hội An Nam, ca ngợi sự ra đời những đóng góp thiết thực cho Phật giáo của Phật học tùng thư. Đoàn thanh niên này đã vạch ra thời khóa biểu sinh hoạt rất hẳn hoi. Vào chủ nhật hàng tuần, tất cả thành viên đều câu hội về chùa Từ Đàm, Huế sinh hoạt, ca hát, trò chơi, nghe thuyết pháp, tụng kinh tu bát quan trai trong một ngày. Lừng cũng đã đưa ra ý tưởng, hoa sen trắng trong hình tròn nền màu xanh làm huy hiệu cho gia đình Phật tử. 
Không dừng lại đó, năm 1944 gia đình Phật tử Hóa Phổ được thành lập, do nhu cầu sinh hoạt tham gia vào đoàn mỗi ngày một đông nên cần sự thống nhất giữa các gia đình. Với ý nghĩa Phật hóa gia đình, đem đạo vào đời, phổ cập Phật pháp đến mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi để cùng chung sống dưới mái nhà Phật pháp, sống chan hòa, đạo đức theo triết lý nhà Phật.
Cuốn theo dòng lịch sử của đất nước, sự kiện Nhật đảo chính Pháp năm 1945, làm mọi hoạt động của gia đình Phật tử bị gián đoạn. Tuy nhiên, với quy mô tầm vóc lớn mạnh, sự ảnh hưởng sâu rộng khắp trên cả nước, nên mô hình này vẫn được tiếp tục phát triển duy trì. Chẳng những nhân rộng trong chùa còn được đào tạocấp bậc tiểu học. Những cái tên thân thương, đồng hành một thời cùng gia đình thanh niên Phật tử như HT. Thích Minh Châu, cư sĩ Phan Cnh Toàn, cư sĩ Tng HCm, HT. Thích Tịnh Khiết, TT. Thích TLiên, Thiu Chu,... là nhng nn tố chắp cánh để mô hình này được nhân rộng phát triển mạnh.
Theo thời gian, hệ thống gia đình Phật tử do Tâm Minh Đình Thám khởi xướng không chỉ dừng lạiHuế, phát triển thành lập tại miền Bắc (1937 – 1938), miền Nam (1950), miền Tây, đâu đâu trong đất nước hình chữ S này cũng thành lập gia đình Phật tử. hình này được chư tôn đức quần chúng nhân dân ủng hộ. Năm 1949, hệ thống gia đình Phật tử đã đi vào hoạt động mạnh mẽ theo nội quy, quy chế được ban hành. Lần đầu tiên, các trại huấn luyện huynh trưởng nam nữ được ban hành. mục đích; đào tạo thế hệ trẻ hướng tâm theo Phật, đóng góp vào việc phổ biến giáođạo Phật đến quảng đại quần chúng, gầy dựng phong trào tìm hiểu giáo thực hành giáo lý, thu hút thanh thiếu niên dự vào hàng ngũ Phật tử hướng dẫn Phật tử.
thể nói, hội An Nam Phật học ra đời đã đóng góp cho phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà những bước đột phá mới mẻ. Từ mở trường Phật học, hệ thống chương trình giảng dạy, xuất bản tạp chí, đến thành lập gia đình Phật tử,... Với đường lối tiến bộ, chủ trương táo bạo, tiến hóa, chương trình áp dụng cả Đông lẫn Tây, 
quy củ nề nếp, phát triển cái mới dựa trên nền cũ, đã phát triển tồn tại một thời gian dài. Đây chính ưu điểm, lợi thế, bề nổi của hội An Nam.nhiên, các hội khác cũng những đóng góp không nhỏ trong công cuộc chấn hưng Phật giáo. Vậy, điểm nổi bật hạn chế của mỗi hội gì?
  1. TƯỞNG PHẬT HỌC GIỮA HỘI AN NAMCÁC HỘI KHÁC
Phong trào chấn hưng Phật giáo lần đầu tiên xuất hiện tại Nam k, sau đó lan dn đến Trung kvà Bắc k. Với ba min Nam, Trung, Bắc đã hình thành nên vị trí địa lý, thổ nhưỡng, cách sinh hoạt, phong tục tập quán ở mỗi vùng khác nhau. Từ đó, hình thành nên những tính cách, lối suy nghĩ, phương cách sống cũng khác nhau. thể nhận thấy, mặc dù cả ba hội thành lập với mục đích chung chấn hưng Phật giáo, nhưng bên cạnh những nét tương đồng, vẫn còn đâu đó sự khác biệt về chủ trương, đường lối của mỗi hội. giới hạn của đề tài,đây người viết chỉ trình bày một số điểm tương đồng dị biệt của mỗi hội.
  1. Chương trình Phật học
Nói về chương trình Phật học, lẽ không hội nào vượt được An Nam. Mặc dù An Nam lập hội, lập trường sau Nam Kỳ Lưỡng Xuyên, nhưng nhờ yếu tố nn lực tại Trung k, nhờ biết kết hợp cả Đông lẫn Tây về đường hướng hoạt động, phương thức hoạt động, quy chế, nội quy, nhờ sự ủng hộ của hệ thống Sơn Môn, sự chứng minh gia bị, đồng lòng, hòa hợp của chư Tăng, Tâm Minh đã lập nên kỳ tích, lập trường theo quy chế, sáng tạo ra một chương trình đào tạo giáo dục Phật giáo tại Việt Nam xưa nay chưa từng có. ... Sơn Môn Thừa Thiên đã có nhiều Ngàin túc đng ra ng vớic thanh niên học sinh thành lập một trường Đại học Trung học, tuy chưa được khuếch trương, nhưng cũngthể gọi một cơ sở học Phật duy nhất của hội Phật giáo về sau,...22. Dưới đây, chúng ta lần lượt so


    1. Nguyễn Đại Đồng TS. Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm biên soạn), Phong trào chấn hưng Phật giáo, bài duyên đã đến chăng???, Tam Bảo số 6 ra tháng 8, 9, 10 năm 1937, NXB. Tôn giáo, 2010, tr. 276 – 277.
 

sánh chương trình Phật học của các hội tiêu biểu như: An Nam - Lưỡng Xuyên An NamBắc Kỳ.
    1. An NamLưỡng Xuyên
Còn nhớ năm 1938, khi Hội Lưỡng Xuyên chính thức thành lập, ngài Khánh Hòa nóng lòng mở trường Phật học, đào tạo tăng tài, nên trước đó Ngài phải tổ chức Phật học đường lưu động, lấy tên Liên đoàn Phật học xã. Lớp học đầu tiên này thu hút được 50 vị tại chùa Long Hòa. Sau lớp học này vẫn còn hai lớp được mở tại chùa Thiên Phước Trà ÔnViên Giác Bến Tre, nhưng kinh tế eo hẹp nên sớm tan rã. Phải đợi đến lúc Hội Lưỡng Xuyên chính thức ra đời (cuối 1934), thì Phật học đường Lưỡng Xuyên mới chính thức thành lập ngay sau đó. Hội này lập hai lớp, một dành cho chư Tăng một dành cho chư Ni. Tài liệu giảng dạy cho lớp học này là bĐi tạng Kinh do cư sĩ Ngô Trung Tín và Hunh Thái Cửu hiến cúng23.
thể nhận thấy một điều rằng, so với hội An Nam tại miền Trung, con đường tnh lp Pht học đường với mục đích đào to tăng tài của Hội Lưỡng Xuyên dường như không nhiều may mắn. Sự èo uột về kinh tế, sự thiếu thốn về tài liệu học tập, sự non kém về phương pháp giáo dục mâu thuẫn nội bộ giữa chư tăng cư sĩ lãnh đạo, Trần Nguyên Chấn không ưa sự hiện diện của Hội Lưỡng Xuyên, nên đãlần kích bác hội tạp chí duy Tâm trên báo Từ Bi Âm” chính một trong những yếu tố dẫn đến sự yếu kém của hội, làm cho hội Lưỡng Xuyên cũng như Phật học đường không thể tồn tại phát triển lâu dài được. Tiếc thay cho ngài Khánh Hòa, một cánh chim đầu đàn nhiệt tâm với Phật, một nghĩa cử nhiệt tình, nóng lòng mở trường Phật học để Phật pháp được xương minh. Nhưng tất cả mọi cố gắng của Ngài như ngọn lửa rơm, chỉ bùng phát mạnh mẽ khúc dạo đầu, rồi sau đó dần dần lịm tắt. Không như hội An Nam, mỗi bước đi của ngôi trường Phật học đều được Tâm Minh chuyên lòng vạch lối, cẩn trọng trong mọi tổ chức,



    1. Theo Nguyễn Lang, sđd, tr.790 – 791.
 

đó chính điểm đặc biệt để hội An Nam ngày một lớn mạnh, ngày một phát triển tồn tại.
một sự giao thoa, kết nối thâm tình giữa An Nam Lưỡng Xuyên ít ai để ý đến. Chính cả hai hội này đều cùng nắm tay nhau, vào bản hiệp ước đổi trao về người dạy người học. Một điểm rất tình cờ nhưng đã làm nên kỳ tích cho Phật giáongày mai. Theo tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, năm 1936, hội Lưỡng Xuyên gửi bốn học tăng xuất sắc ra An Nam học tập. Tiếp đó, năm 1939 lại gửi ra thêm sáu vị nữa. Cũng trong dịp học tăng Hiển Thụy tốt nghiệp tại Huế, sau khi trở vào phụ với thiền Khánh Anh giảng dạy tại Hội Lưỡng Xuyên, đã mời ngài Mật Thể Như Ý từ Huế vào giảng dạy tại Lưỡng Xuyên.
Lịch sử đã ghi lại rằng, dưới sự đào tạo bài bản với hệ thống giáo dục Phật giáo quy mô của An Nam, những học tăng xuất sắc Lưỡng Xuyên gửi ra đa số đã thành nhân chi mỹ. những nhân tố nhiều đóng góp to lớn cho Phật giáo ngày mai. Hẳn không ai không biết đến những vị thực học chân tu, nhiệt tâm hoằng dương chánh pháp như Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Thủ,... Đây chính những hoa trái ngọt lành, những thâm tình chí cốt cả An Nam Lưỡng Xuyên đã làm được.
    1. An NamBắc Kỳ
Phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam thể nói cột mốc lịch sử đáng nhớ từ ngày Phật giáo du nhập vào đất Việt. Phát xuất chấn hưng từ miền Nam, sau miền Nam miền Bắc. Bởi năm 1927, HT. Khánh Hòa đã cử thiền Thiện Chiếu ra Bắc gặp gỡ các vị thiền để bàn về vấn đề chấn hưng. Mặcchuyến đi của Thiện Chiếu bất thành không tìm được tiếng nói chung, nhưng nhữngtưởng về phong trào chấn hưng Phật giáo đã ra đến miền Bắc. Tuy nhiên, do nhân lực miền Bắc không được dồi dào, tầng lớp tăngtrẻ, năng động không nhiều. Một điểm nữa miền Bắc nặng tính Sơn Môn, kinh tế eo hẹp nên mãi đến tháng 11/1934, Bắc kỳ Phật giáo hội mới được ra đời.
 

Hội Phật giáo Bắc kỳ ra đời sau, nên kế thừa được những tư tưởng tinh hoa từ các đàn anh ở min Nam và min Trung. Một trong những điểm kế thừa nhất chương trình đào tạo Phật học dành cho Tăng Ni sinh. típ về tổng thể chương trình giảng dạy, phân từng năm học, thời khóa biểu khá giống hội An Nam. cũng phân chia cấp bậc tiểu học mấy năm, trung học mấy năm, đại học mấy năm, rồi cũng phân chia năm nào, cấp bậc nào dạy những kinh gì. Nói chung, về tổng quan giống hội An Nam. Tuy nhiên, giữa những điểm tương đồng, cả hai hội vẫn còn nhiều khác biệt.
Hội An Nam do lần đầu cách tân giáo dục, nên phải trải qua hai lần thay đổi phương pháp mới đi vào ổn định. Như trên đã dẫn chứng, ban đầu hội An Nam chỉ phân thành hai cấp học, Tiểu học Đại học, mỗi cấp bậc học năm năm. Chương trình học rất nặng nề rất dài dòng, hao tốn nhiều công sức nguồn kinh tế tài chánh đầu tư. Do vậy, năm 1944, bácTâm Minh mới vạch một đường hướng mới cho nền giáo dục Phật giáo tại An Nam. Cấp bậc học lúc này được phân chia thành ba cấp: đẳng hai năm, trung đẳng hai năm cao đẳng hai năm. Chương trình học lúc này cũng được sắp xếp chặt chẽ hơn, logic hơn lần trước.
Rút tỉa kinh nghiệm từ hội An Nam, những nhà lãnh đạo hội Phật giáo Bắc kỳ đã lên chương trình Phật học cho mình cũng ba cp bậc, đó là: Tiu học ba m, Trung học ba m và Đại học ba năm. Nhìn chung, về hai cấp học không khác nhau lắm! đẳng của hội An Nam tương đương với tiểu học của hội Bắc kỳ. Cũng vy, Trung đng tương đương với Trung học và Cao đng lại tương đương với Đại học. So với ngày nay thì Đại học Cao đẳng rất khác nhau, nhưng nhìn vào thời khóa biểu của những bộ kinh giảngdy lúc đó, thể thấy chương trình học hai bên tương đương nhau.
Nói về các môn học của mỗi năm, chúng ta thấy hội An Nam đào tạo tăng tài nặng về tính Sơn Môn truyền thống, tuyển người làm Phật, chú trọng về giới thân huệ mạng của chư Tăng. Minh chứng cụ thể từ cấp bậc đẳng đến Cao đẳng, chương trình đào tạo rải rác dạy đều các bộ luật, từ Sa di, Cảnh sách, kinh Phạm Võng
Tứ phần Luật,... Hội Bắc kỳ cũng nhưng không được chuyên nhất đầy đủ như An Nam. Ngược lại chú trọng đến nền triết học Đông phương, Tây phương, học toán các Thư tịch Nho giáo. Bằng chứng từ cuối năm thứ ba trở đi, học kỳ nào cũng học Kinh Thư, Kinh Lễ, và Triết Đông, Triết Tây. Chương trình học của Bắc kcòn một sđiều chưa phù hợp như tác phẩm: Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu không được dạy ngay trong những năm đầu của bậc tiểu học, để cho Tăng Ni hành trì tu niệm, lại đưa vào chương trình Cao đẳng Bác học.
Nhìn chung, chương trình Phật học đào tạo tăng tài của hội Phật giáo Bắc kỳ tương đối ổn định. Nhưng miền Bắc quá nặng tính Sơn Môn, thể nói nặng gấp nhiều lần so với miền Nam miền Trung. Một đim nữa vì min Bắc các cụ rt đông nhưng ng trlại hiếm, thành phần cư sĩ lại nhiều, đã dẫn đến một tổ chức không được cht ch, đồng b. Trong khi đó hệ thống đào to ng tài của Trung klại rt cht ch, hòa hợp. CLê Đình Thám quá ni bt vđường lối, nội quy. Ông đem khả năng học hỏi của mình, tổ chức theo hệ thống Tây hóa, lần đầu áp dụng hình thức giáo dục phương Tây vào Phật học. Từ mô hình đào tạo đến cách thức quảnnhân sự. Dựa vào đội ngũ Tăng Ni trí thức, lòng mộ đạo của tín đồ Phật tử tri thức nơi đây, được sự ủng hộ nồng hậu của Sơn Môn. Đình Thám đã núp dưới bóng chư tăng, nương vào thần lực của quý Ngài tổ chức Phật học, đào tạo tăng tài được xem quy mô nhất, đạt được thành công lớn nhất trong ba hội. Cũng từ ngôi trường đào tạo Phật học của An Nam, chư vị Hòa thượng như: Trí Quang, Thiện Siêu, Trí Tịnh,... đứngvai trò lãnh đạo giáo hội đến bây giờ.
  1. quan ngôn luận
Một trong những hoạt động tạo nên thành công cho phong trào chấn hưng Phật giáo, gây được tiếng vang lớn cho mỗi hội, thiết lập mối quan hệ tốt giữa các hội, đưa giáođạo Phật đến gần với quần chúng nhân dân, thu hút sự quan tâm, chia sẻ của đông đảo giới tri thức,... thể kể đến quan ngôn luận của mỗi hội. Nhờ sự ra
 

đời của các tạp chí Phật giáo đã để lại cho cuộc đời những giá trị lớn lao. Đưa đạo Phật đến gần với cuộc sống. rất nhiều tạp chí đã xuất hiện trong suốt thời gian phục hưng Phật giáo, nhưng trong phạm vi bài nghiên cứu này, người viết chỉ so sánh tạp chí Viên Âm của hội An Nam với một số tạp chí tiêu biểu tại Nam kỳ Bắc kỳ thời chấn hưng Phật giáo.
    1. Viên Âm Pháp Âm, Từ Bi Âm, Duy Tâm
Miền Nam luôn nơi tiên phong trong mọi hoạt động từ thành lập hội chấn hưng đến mở trường đào tạo tăng tài kể cả việc xuất bản các tạp chí. Năm 1929, HT. Khánh Hòa cho xuất bản tạp chí Pháp Âm tại chùa Xoài HộtMỹ Tho, đây tờ báo đầu tiên xuất bản bằng chữ quốc ngữ tại Việt Nam. Sử liệu không nói nhiều về tờ báo này, chỉ biết Thiện Chiếu chê quá “xưa” cũ. Năm 1932, HT. Khánh Hòa tiếp tục cho xuất bản tạp chí Từ Bi Âm. Tạp chí này so với tạp chí Viên Âm của An Nam thì không nổi trội, không nhiều đóng góp cho Phật giáo như An Nam, nhưng sự tồn tại mười năm đó, Từ Bi Âm cũng đã làm được công việc phổ thông hóa Phật học thành quốc ngữ. Đây dường như sự đóng góp một không hai của hội Nam kỳ.
Tạp chí Duy Tâm của hội Lưỡng Xuyên ra đời năm 1935 do Huệ Quang làm chủ bút, bácNguyễn Văn Khỏe làm quản lý, đặt tại chùa Long Phước. Nội dung các số báo của tạp chí này thường lên tiếng kêu gọi thành lập một Phật giáo tổng hội để thống nhất tổ chức Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, Duy Tâm còn dịch được các bản kinh như Ưu Tắc Giới Quán Lượng Thọ Phật. Tuy phát triển lan rộng khắp nơi nhưng Trần Nguyên Chấn sự mâu thuẫn với hội Lưỡng Xuyên, nên đã viết bài kích bác hội tạp chí Duy Tâm trên báo Từ Bi Âm.
So với hội An Nam, cả Pháp Âm, Duy Tâm Từ Bi Âm của hội Nam kỳ Lưỡng Xuyên đều không tìm được tiếng nói chung, mặcđều xuất hiện tại miền Nam cùng được ngài Khánh Hòa khai sáng. Cả ba tạp chí trên đều rất cố gắng để cho ra đời những thành phẩm giá trị như dịch kinh, đưa nguồn văn hóa quốc ngữ đến 
với cộng đồng hội, nhưng chưa thật sự tạo được tiếng vang như tạp chí Viên Âm của hội An Nam. Còn nhớ khi hai tác giả Nguyễn Xuân Thanh Tâm Minh Đình Thám xuất bản loạt bài chỉnh đốn giáo lý, giới luật,... đãthu hút sự quan tâm cả trong ngoài Phật giáo, đặc biệt giới tri thức. Như thế, thể nhận thấy, sự mặt của tờ báo Viên Âm, chính niềm tự hào lớn của Phật giáo cả ngày ấy bây giờ.
    1. Viên Âm Tiến Hóa
Tạp chí Tiến hóa của hội Kiêm Tế ra đời vào năm 1938, chủ nhim là Đỗ Kiết Triu, chủ bút là Phan Thanh Hà. Đtên là vy nhưng hầu như tất cả bài viết đều do Thiện Chiếu làm chỉ để bút hiệu, Thiện Chiếu không nắm giữ một chức vụ nào trên mặt giấy tờ. Thiện Chiếu người thông cả Đông học lẫn Tây học. Do vậy, công tác từ thiện hội hoằng pháp rất được quan tâm. Bằng chứng khi tạp chí Tiến Hóa số ra mắt đầu tiên đã cho đăng hình nhi viện tại chùa Tam BảoRạch Giá. Tiến Hóa số một, đăng hình hội Kiêm Tế tặng quà cho nạn nhân bão lụt tại Rạch Giá.
Hai chữ Tiến Hóa, như cái tên kiêu kỳ nhằm nói lên lập trường tiến bộ, không chỉ nặng về học Phật còn phải kinh bang tế thế. Hơn thế nữa, Tiến Hóa còn tuyên bố rằng; tờ tạp chí này không những sẽ “tuyên truyền” cho Phật học còn “tuyên truyền” cho bất cứ học thuyết nào đủ phương pháp làm chúng sanh khỏi khổ được vui. Theo Tiến Hóa, những học thuyết nào tính cách từ bi bác ái thì đều được Tiến Hóa công nhận “Phật pháp” cả. Bên cạnh đó, từ số báo thứ 4, ông khen ngợi trình bàytưởng duy vật biện chứng của K.Marx từ số 6 trở đi ông mạnh dạn phê bình tư tưởng duy tâm luận của hội Lưỡng Xuyên, tờ Pháp Âm24.
Theo tác giả Nguyễn Lang, Tiến Hóa chủ trương nhữngtưởng sau đây:
- Người Phật tử mới phải sự giác ngộ mới, giác ngộ những



  1. Nguyễn Lang, sđd, tr.797.
 

điều khoa học khám phá ra. Biết khoa học để biết rằng cõi cực lạcphương Tây cũng không thật sự, thiên đường địa ngục cũng không có, chăng tất cả vạn pháp do tâm khởi phụ thuộc vào hành động tạo tác của ta.
    • Học kinh tế để biết rằng; giàu nghèo do mạng sai, đau khổ của con người do chế độ chính trị đè nén, do khủng hoảng kinh tế chứ không phải do một vị thần linh nào ban phước hay giáng họa.
    • Phật Thích Ca vị Phật sáng suốt hoàn toàn, nhưng chỉ trong thời đại của Ngài thôi. Bây giờ nhân loại đang phát triển rộng lớn, thế thì những cái biết ngày nay mới gọi Phật. Chữ Phật bây giờ được hiểu tổng thể những hiểu biết của các ngành khoa học, chứ kng thhiu theo kiu một cá nhân giácng. Chúng sanh chưa thành Phật, ta chưa giác ngộ”, câu nói này chưa hoàn toàn sáng suốt.
    • Đường lối cải tạo tâm không hiệu quả, ông chủ trương phải cải tạo cảnh, cải tạo môi trường. Phải tổ chức trường học, cung cấp sở vật chất, người nghèo phải cho họ vật chất, số khác phải nắm giữ guồng máy kinh tế.
So với Viên Âm của An Nam, Tiến Hóa chủ trương đi xây dựng cái mới. Phải làm kinh tế thật giỏi, phải tăng nguồn lực kinh tế để nhân dân bớt khổ, từ đó dân chúng sẽ theo đạo. An Nam không được tính ưu việt này, nhưng An NamViên Âm hết lòng làm tất cả để củng cố đạo Phật, củng cố giới hạnh cho tăng già, để hàng Phật tử hiểu đạo, tìm nguồn an lạc cho tự thân. Bên cạnh đó, Tiến Hóa giống An Nam ở chỗ đầugiáo dục lớn, tăng nguồn trí tuệ cho Tăng Ni, đào tạo tăng tài. Mặt khác, Tiến Hóa không được lòng người như An Nam, không thu phục nhân tâm bằng Viên Âm của An Nam ở chỗ: Tiến Hóa muốn cải tạo hội phải cải tạo cảnh, nhưng Tiến Hóa đã nhầm lẫn khi không đặt những hành động thiết thực đó trên nn tảng của sgiải thoát m linh, mà chủ trương đường li giải thoát bng kinh tế. Chính nơi đây, Tiến Hóa bnhiều luồngluận phản đối, ngay cả báo Duy Tâm cũng lên tiếng phản đi kịch lit. Trong khi đó, Viên Âm của hi An Nam mi ngày một phát triển rộng lớn, bắt tay hợp tác với cả hội Lưỡng Xuy-
 

ên những học giả tri thức đương thời, mỗi ngày một phát triển rầm rộ đã tồn tại lâu dài.
Một điểm nữa, Tiến Hóa lên tiếng phản đối ngaytưởng của chính tông môn của mình. Kích c kinh Đa Tng, kng chấp nhận địa ngục, trong khi đó, tạp chí Pháp Âm dịch bộ kinh này ra, ấn hành rộng rãi để người dân sợ nhân quả lo tu. Táo bạo hơn, Tiến Hóa còn bác bỏ tăngđầu tròn áo vuông, cho rằng sẽ cản trở việc làm thế sự. Học theo phái tân tăng Nhật Bản mặc âu phục, cưới vợ làm phật sự. tưởng này chỉ một số ít người ủng hộ, đa phần những bậc tu hành chơn chánh đều phản đối, đặc biệt các hội Phật học cũng phản đối kịch liệt. Tôn chỉ này đi ngược lại hoàn toàn với hi An Nam và tạp chí Viên Âm. Trong khi An Nam Viên Âm làm tất cả để được đội ngũ tăng già thanh tịnh. Thành lập ban giám luật để thanh lọc giới thể cho chư tăng. Nhữngtưởng hay bộ kinh nào xuất phát từ Phật giáo, Viên Âm của An Nam đều trân trọng, không bài xích, không kích bác. Viên Âm chỉ lên tiếng khi chỉ khi một tư tưởng nào đó muốn xuyên tạc đạo Phật, ác tâm muốn làm giảm giá trị giáođạo Phật. Nguyễn Xuân Thanh Tâm Minh Đình Thám chỉ viết bài để chấn chỉnh những ai đã hiểu sai về giáođạo Phật, hướng họ đến nguồn tư duy đúng đắn của Phật giáo, phù hợp với khoa học hiện đại. Việc làm này của Viên Âm - An Nam được rất nhiều giới ủng hộ, không chỉ nội bộ Phật giáo những tờ báo bên ngoài, đặc biệt đã thu hút nhiều tầng lớp trí thức quan tâm, tìm hiểu về Phật giáo. Điều này đã gây được tiếng vang lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo Viên Âm của An Nam đơn vị đứng đầu.
    1. Viên Âm Đuốc Tuệ
Theo Nguyễn Lang, tạp chí Đuốc Tuệ ra đời vào đầu tháng chạp năm 1935, do Nguyễn Năng Quốc làm chủ nhiệm Thiền Trung Thlàm chủ bút. Tp chí được đt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Cũng như tạp chí Viên Âm của hội An Nam, Đuốc Tuệ đăng nhiều bài viết cổ cho phong trào chấn hưng Phật giáo với chủ trương; đạo Phật cuộc đời chứ không phải trốn cuộc đời. Ngay bài đầu tiên Đạo Phật quan thiết với sự sống của đời người” của Phan Đình Hòe. Bài thứ hai nói về Đạo Phật trong cuộc đời của Đồ Nam TNguyn Trng Thut. Đim đc bit của Đuốc Tuệ là đưa ra ý kiến Đề nghị con nhà Phật từ nay trở đi nên làm lễ kết hôn trước cửa Pht. Đây là ý tưởng vô cùng mới m, xưa nay chưa từng có ở Pht giáo Việt Nam. Lấy kinh Thiện Sanh làm căn bản cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Hiếu mẹ cha, ân đất nước, đạo tứ ân đã dạy bảo đủ luân thường; chống kính ái. Vợ thuận tùng, lễ Lục Phương càng ân cần về gia đạo25.
Bên cạnh đó, mặc Đuốc Tuệ của hội Bắc kỳ ra đời muộn hơn so với Nam kvà Trung k, nhưng tạp chí Đuc Tuđã hi tụ được những cây bút tầm cỡ thời bấy giờ. Do đó, trên nhiều số báo của Đuốc Tuệ, đã xuất hiện những tập truyện ngắn (tiểu thuyết), như truyn “Cô Con Gái Pht Hái Dâu, kvề cuộc đời của Ỷ Lan phu nn, hay tác phẩm QuDưa Đ(Nguyn Trng Thut),... Chủ trương của tạp chí muốnđem đạo Phật đi vào cuộc sống hằng ngày, tỏ ý Pht qua nhng câu chuyn bình d, mộc mc của con người Vit Nam. Cũng theo Nguyn Lang, ngoài Nguyn Trng Thuật, Đuốc Tuệ còn một cây bút vững chãi sâu sắc. Ông đã đem đến cho nền học thuật Phật giáo một dấu ấn khó phai, đó Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha với tác phẩm giá trị Hán Việt Từ Điển” được sử dụng rộng rãi trong nước. Ngoài ra, Đuốc Tuệ còn sưu tầm, biên soạn, dịch thuật ấn tống rộng rãi những tác phẩm thời Phật giáo Trần đã để lại như; Khóa Lục, Thiền Uyển Tập Anh, Tuệ Trung Thượng Sĩ NgLục,... Đây chính là nét độc đáo của hội Bắc kỳ, không chỉ khôi phục lại nền văn hóa Phật giáo Việt Nam, còn di sản của văn học Việt Nam.
Nhìn chung, tuy Viên Âm Đuốc Tuệ nhiều điểm giống khác nhau, nhưng mỗi nơi đều tùy theo phong tục tập quán, tùy theo thổ nhưỡng, con người phát triển thế mạnh của mình. Viên Âmthế mạnh và đặc trưng của Viên Âm, nên tạp chí ra đời



  1. Nguyễn Lang, sđd, tr.876.
 

cũng phục vụ cho con người Phật pháp nơi ấy. Đuốc Tuệ cũng vậy, cũng dựa vào cái vốn của mình để phát triển hùng cứ một phương. Nhưng, dù Viên Âm, Đuốc Tuệ, Tiến Hóa, Từ Bi Âm, Pháp Âm hay đi nữa, thì mục đích chung của các tạp chí ra đời nhằm phục vụ tốt hơn cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Chính sự đa sắc màu, nhiều chủ trương của các tạp chí, đã tạo được tiếng vang cho phong trào chấn hưng, đã đưa Phật pháp đến gần với cuộc sống, đã hướng đạo Phật đi đúng với quỹ đạo của mình. Đây chính thế mạnh, bước ngoặt để Phật giáo tồn tại phát triển đến ngày nay mãi mãi về sau.
  1. So sánh chương trình Phật học thời chấn hưng Phật giáo ngày nay
Hệ thống trường lớp thời chấn hưng đã tạo được bước tiến mới, cách tân toàn bộ hệ thống giáo dục Phật giáo trước đó. thể nói, trước khi trường An Nam Phật học được thành lập, mô hình đào tạo tăng tài của Phật giáo Việt Nam chỉ thu nhỏ được dạy theo kiểu gia giáo, chưa hệ thống trường lớp quy mô. Sau khi phong trào chấn hưng phát triển rầm rộmiền Nam, chư tôn đức cùng các vị cư sĩ hữu m tại min Trung bt đu cho cuộc chấn hưng của mình, tiêu biểu chương trình đào tạo tăng tài, tìm người nối thạnh giống Phật.
Lần đầu tiên trong phong trào chấn hưng Phật giáo, một mô hình giáo dục Phật giáo cải tiến được thành lập. Yếu tố này chính nhờ vào vị cư sĩ lỗi lạc Tâm Minh, người được mệnh danh linh hồn của hội An Nam Phật học. Nhờ sự uyên bác từ Nho học, Đông học, Tây học kiến thức Phật pháp rộng sâu, ông đã vạch ra chương trình giáo dục đào tạo Phật học theo kiểu Tây hóa áp dụng ngay cho hội An Nam. Hệ thống đào tạo Phật học từ đây được chia theo từng kỳ, từng năm, từ cấp, Trung cấp đến Cao đẳng. Ở mỗi học kỳ được phân ra nhiều môn học phù hợp với trình độ, cấp bậc. Các sách vở được ấn bản cũng phân chia theo từng chương, từng mục như bộ sách Phật Học Phổ Thông của HT. Thích Thiện Hoa một minh chứng. Tiếp nối bước chân của An Nam, hội Phật học Bắc kỳ cũng đã làm nên kỳ tích trong hệ thống giáo dục đào tạo tăng tài với 
các cấp bậc đào tạo từ Tiểu học, Trung học Đại học. Nhờ vào yếu tố này, Phật giáo Việt Nam đã đào tạo được đội ngũ kế thừa phát triển dài lâu.
Trải qua gần 80 năm tồn tại phát triển kể từ ngày chấn hưng, hệ thống giáo dục Phật giáo, đào tạo tăng tài ngày nay đã nhiều thay đổi. Cũng dựa vào nền tảng gốc từ thời chấn hưng, nhưng hệ thống trường lớp bây giờ quy mô nổi bật hơn thời chấn hưng. Hệ thống giáo dục đào tạo đại, nhiều bước đột phá. Chẳng hạn, ngày nay Phật giáo đã thành lập được 4 học viện Phật giáo, đào tạo cấp bậc cử nhân Phật học ở 4 địa điểm như: Nội, Huế, Nam tông Khmer tại Thành phố Cn Thơ và Thành phố HCMinh. Trong đó, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đơn vị đứng đầu về ngành đào tạo giáo dục Phật học theo hệ thống tín chỉ hiện đại. Điều đặc biệt vinh dự nhất của Phật giáo, lần đầu tiên vào năm 2011, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minhđã mở hệ thống đào tạo cấp bậc ThạcPhật học. Bên cạnh đó, thời chấn hưng, hệ thống đào tạo tăng tài chỉ phát triển rm rộ ở ba vùng Nam, Trung và Bắc. Thế nhưng, ngày nay mô hình này đã được nhân rộng, toàn nước Việt Nam 9 lớp cao đẳng, 32 trường trung cấp Phật học nhiều lớp cấp, tập trung nhiềuThành phố Hồ Chí Minhvà miền Tây Nam bộ.
Tựu trung, chế giáo dục đào tạo tăng tài ngày nay được phổ cập từ cấp đến Thạc sĩ. Hệ thống đào tạo cấp bậc mầm non chỉ được tổ chức vài điểm lẻ tẻ như trường mầm non “Họa Mi 1” tại chùa Giác Tâm, quậnn Phú Nhuận, trường mầm non tại tu viện Dưỡng Chân Tuệ Uyển, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai,... một số điểm khác, tuy tổ chức nhưng chưa đồng bộ. So với thời chấn hưng, hệ thống đào tạo này không phát triển mấy. Bên cạnh đó, ngày nay chư tôn đức lãnh đạo giáo hội đang cố gắng để đưa tầm giáo dục Phật giáo tiến đến đào tạo cấp bậc TiếnPhật học, mặcđang còn nằm trong dự định, nhưng hy vọng, những đóa hoa tinh anh của vườn thiền hiện đại sẽ thực hiện tốt phần này.
Một điểm nổi bật nữa về hệ thống đào tạo giáo dục Phật giáo 
ngày nay so với thời chấn hưng, các trường Phật học ngoài việc tập trung giảng dạy các môn học căn bản về giáo lý, còn chú trọng đến cổ ngữ, ngoại ngữ cho Tăng Ni sinh viên. dụ: ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minhnhiều năm trở lại đây đã mở rất nhiều ngoại ngữ cho sinh viên chọn như: tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Nhật, Pàli, Sankrit, Hán cổ,... Song song đó, sinh viên phải thành thạo vi tính để tiếp cận nền học thuật hiện đại từ online. Đơn cử, mỗi Tăng Ni sinh muốn tốt nghiệp cử nhân Phật học phải nộp đủ văn bằng A tiếng Anh văn bằng A vi tính, đây điều bắt buộc.
Trên tinh thần đó, thời chấn hưng, ban giám hiệu giữa các trường đã sự trao đổi liên thông giữa sinh viên giảng viên giữa các trường Phật học, như Lưỡng Xuên đã từng gửi Tăng sinh ra An Nam học, giáo thọcủa hội An Nam vào Lưỡng Xuyên giảng dạy. Yếu tố này ngày nay đã phổ biến rộng rãi tại các miền, các vùng, các tỉnh. Chẳng những có sự trao đổi sinh viên, trao đổi giáo thọ giảng dạy giữa các trường, ngày nay hệ thống giáo dục Phật giáo còn tiến xa hơn trong việc cấp giấy giới thiệu cho Tăng Ni sinh đến các nước tham học như Đài Loan, Trung Quốc, Myanmar, n Đ, Nhật Bản, Miến Điện, Thái Lan,... Mỗi năm số lượng Tăng Ni sinh tốt nghiệp tại các trường đại học, Thạc sĩ, Tiếntrong cũng như ngoài nước rất đông trở về nước phục vụ cho quê hương. Nhờ đó yếu tố nhân lực về giáo dục đào tạo tại Phật giáo Việt Nam ngày một phát triển, mở rộng.
Mc dù vy nhưng theo TT. TS. Thích Nht Từ - Pvin trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: hệ thống đào tạo giáo dục Phật học tại Việt Nam nếu muốn phát triển nhân rộng để xứng tầm với các quốc gia nền Phật học phát triển hiện đại, cần một số thay đổi về phương pháp giáo dục như: Hiện nay, chương trình giáo dục Phật học được tổ chức thực hiện theo khóa học 2 năm một lần đối vớicấp Phật học, 4 năm một lần đối với Trung cấp Phật học; 2-3 năm một lần đối với Cao đẳng Phật học; 4 năm một lần Cử nhân Phật học. Để đảm bảo tính liên tục, các trường Phật học nên tiến đến hình đào tạo 2 năm/ 1 lần, sau đó, 
mỗi năm một lần. Hiện nay, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đang đi đầu về hình này, tổ chức tuyển sinh Cử nhân Phật học 2 năm/ lần ThạcPhật học mỗi năm/ lần. Tính tương tục hằng năm trong đào tạo Phật học sẽ đảm bảo được chất lượng đào to và đu ra26 cho Tăng Ni sinh viên.
Điểm cuối cùng cũng một dấu chấm hỏi đã bỏ ngỏ rất nhiều năm nay, thể kể đến từ thời chấn hưng, hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam chưa sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy tại các bản trường theo một quy chuẩn nhất định. Đây chính mối quan ngại, lỗ hổng rất lớn cho chương trình đào tạo tăng tài tại Việt Nam. Rất mong được các giới quan tâm.
Nhìn chung, mô hình giáo dục đào tạo Tăng Ni ngày nay đã phần đổi mới, tuy dựa trên nềnnhưng đã những bước cải tiến đột phá khá táo bạo. Tạo tiền đề vững mạnh cho nền giáo dục ngày sau. Dẫu mọi việc vẫn chưa hoàn thiện đang trên đà phát triển gầy dựng, nhưng tất cả đều hứa hẹn Phật giáo Việt Nam sẽ một nền giáo dục đào tạo tăng tài phong phú, sánh bằng các nước phát triển trên thế giới.
  1. NHẬN ĐỊNH CHUNG
Qua những đã phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy rằng: Hội An Nam Phật học không những đãđược sự yểm trợ của hầu hết các phần tử trong sơn môn cònđược sự cộng tác tích cực của những vị tăngtrẻ tuổi học của sơn môn đào tạo nữa. Sự cộng tác này phần lớn nằm trong phạm vi hoằng pháp: giảng diễn cho tín đồ, giáo huấn học tăng, trước thuật bài vở kinh sách. Tuy nhiên nhìn hội An Nam Phật học với những thành quả thu lượm được chỉ mới nhìn thấy một bông hoa nở trên một nhành cây chưa thấy tự thân cái cây ấy. Tuy nói rằng Phật giáo suy yếu, cần phải phục hưng, nhưng nếu căn bản tiềm lực khôngthì sự phục hưng ấy sẽ trở nên rất khó khăn. Sở tađược một Mật Khế hay mộtĐình Thám nhờ ta

  1. http://www.daophatngaynay.com/vn/giao-duc/11370-Huong-den-cai-cach-giao- duc-Phat-hoc-tai-Viet-Nam.html, download ngày 21/8/2012.
 

đã được một Giác Tiên chẳng hạn thì ta thấy được Tâm Minh, bổn của ông. Tuệ Pháp, giáo thọ của ông, Viên Thành, bạn thân của ông, Giác Nhiên, đệ của ông Phước Hậu, Đắc Ân, Tịnh Hạnh v.v... tức những người đã chấp nhận làm chứng minh đạo cho hội An Nam Phật học do ông sáng lập. Nhìn lại cuộc đời những vị đó thì tathểmột ý niệm về những tiềm lực của đạo Phật đã đưa tới sự chấn hưng của Phật giáo Trung kỳ27.
Nhận định trên hoàn toàn sở, bởi lẽ nếu như Phật giáo Việt Nam không phải đã ăn sâu từng gốc rễ ngọn ngành trong lòng người Việt, không phải đã nằm sẵn trong khối óc con tim người Việt, không phải đã sẵn một đội ngũ mến đạo nhiệt thành, thì làm Phật giáo thể nhanh chóng phục hồi vị thế của mình như vậy.
Nhưng, nói đi thì phải nói lại, sởPhật giáo phải trải qua giai đoạn suy vi đến kiệt quệ như thế một phần lỗi lớn cũng do Tăng Ni suy đồi về đạo đức, không chuyên tâm lo việc tu hành, suốt ngày chỉ lo rong ruổi tìm lợi, kiếm danh. Dần đánh mất niềm tin của tín đồ Phật tử. Không phải chỉ thời đại chấn hưng, bất kỳ một thời đại nào cũng vậy. Phật pháp xương minh do tăng già hoằng hóa, thiền môn hưng thịnh do tứ chúng đng tu. Nếu kng đáp ứng đủ những điều kiện này, Phật giáo chắc chắn sẽ bị băng hoại bởi chính những đứa con trai, con gái của Bụt.
Nhận ra được nguyên nhân chính dẫn đến suy vi đạo Phật, hội Phật học An Nam ngay sau khi thành lập đã đẩy mạnh mô hình giáo dục, đào tạo tăng tài, chỉnh đốn giới hạnh cho Tăng Ni. Phân ranh ràng giữa tăng tục, giữa người hảo tâm xuất thế những người chuyên về ứng phó đạo tràng để nuôi thân. Đây việc làm khá táo bạo, đã gây không ít tranh cãi, nhưng ít ramang lại lợi ích cho chư tăng, cho những bậc sa môn thực sự đã bước ra khỏi nhà thế tục. Ngay như cụĐình Thám, nhà lãnh tụ về Phật giáoTrung kỳ. Cụ cố lập trường học để đào tạo tăng tài, truyền Phật pháp



  1. http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/tac-phm/86-vn-pht-giao-s-lun- iii/447-vnpgsl-iii-chng-28-hi-an-nam-pht-hc-trung-k?start=6. download ngày 25/8/2012.
 

làm sao, phù hợp với trào lưu tiến bộ28.
Từ khi thành lập trường, mở những lớp học đầu tiên, rồi thay đổi phong cách đào tạo giáo dục, thành lập quan ngôn luận Viên Âm, thành lập hệ thống gia đình Phật tử, đã đưa tiếng nói Phật pháp phổ rộng đến quần chúng. Việc làm ấy đã trải qua không ít chông gai thử thách, nhưng nhờ vậy cơ sở Phật giáo đã lan đến hạ tầng thôn xóm, giáo nhà Phật không còn quanh quẩn trong các tu viện đã quảng sâu rộng vào tầng lớp dân chúng: Phạm vi giáo dục Phật giáo không còn đóng khungbậc lão thành đã đi sâu vào thanh thiếu nhi Pht tử,...29”.
Từ những bước chuyển mình tích cực đó, đã mang lại nguồn nhựa sng cho Pht giáo Vit Nam. Trường học An Nam kng chỉ đào tạo các bậc anh tài lưu danh sử sách cho Phật giáo thời cận đại còn cho cả thời hiện đại bằng những tên gọi đi theo dòng năm tháng của lịch sử Phật giáo Việt Nam như: Mật Thể, Mật Khế, Mật Hiển, Thiện Trí, Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Thủ, Trí Quang, Trí Tịnh, Thiện Siêu,... Để được thành quả này, phần lớn nhờ vào sự hòa hợp của chư tăng, sự đồng lòng, đồng sức của những nhân tố đương thời. Điều quan trọng hơn nữa để làm nên trang sử vẻ vang cho An Nam, giữa chư Tăng cư sĩ đã được tiếng nói chung. Tất cả đều quyết tâm phục hưng phong trào Phật giáo. Đây chính thế mạnh, ưu điểm quyết định đưa đến thành công rực rỡ cho hi An Nam. Trong khi đó, hi Nam K, Lưỡng Xuyên, Kiêm Tế hay Bắc Kỳ đều không được như thế, hội còn mâu thuẫn giữa chư Tăng cư sĩ, sớm dẫn đến tan như các hội được thành lập đầu tiên tại miền Nam.
thể nói rằng, việc chấn hưng Phật giáo không phải để cố gắng vực dậy những đã ngã xuống, không phải lắp ghép lại những đã tan rã, chính cải cách lại đường lối hoằng pháp lợi sanh.


  1. Vân Thanh, Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, qua các thời đại phát nguồn của các giáo phái Phật giáo, tập 1, PL.2518, tr. 218.
  2. Sa môn Thích Thiện Hoa, 50 năm (1920 – 1970), Chấn hưng Phật giáo Việt Nam hay Ghi ơn tiền bối”, 1970, tr. 8.
 

Phật giáo Việt Nam như một phần máu thịt, cốt tủy sống còn của người dân Việt, làm sao thể dễ dàng mất đi trong cơn thịnh suy của thời cuộc. hiểu đúng về việc phục hưngđây làm mới, cách tân, cải biên để tạo sự mới mẻ, đa dạng, phong phú, thu hút mọi tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, hội để nhìn lại chính mình, tự điều chỉnh lấy mình để ngày một tốt hơn. câu nói: Phật giáo không thể ngồi yên khi thế giới ngoài kia đang ngày đêm biến đổi vậy.
KẾT LUẬN
Trong bui tiếp xúc với Đại biu Hi nghị Thống nht Pht giáo Việt Nam ngày 8.11.1981, tại phủ Chủ tịch, ngài Phạm Văn Đồng (khi đó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đã nói: Trong quá khứ, Phật giáo Việt Nam đã gắn chặt với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước giữ nước. Lịch sử đã xác nhận Phật giáo Việt Nam một tôn giáo, từ bản chất bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn chặt chẽ với dân tộc, với tổ quốc30. Lịch sử đã xác nhận như thế, những người lãnh đạo quốc gia Việt Nam đã xác định như thế. Hẳn, việc chấn hưng Phật giáo Việt Nam lẽ đương nhiên, điều kiện tất yếu phải thực hiện. Điều đáng nói ở đây, mô hình chấn hưng về quan điểm Phật học và thành lập các cơ sở đào tạo tăng tài được xem như tiêu điểm, bước đi quan trọng cần phải trong việc chấn hưng Phật giáo.
Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học đơn vị tiên phong, giương ngọn cờ đầu cho công cuộc chấn hưng, nhưng về mặt giáo dục Phật học lại gặp khá nhiều lận đận. Hội Phật học Bắc kỳ thì ra đời muộn hơn, hệ thống đào to ng tài cũng ly mô hình từ min Trung. Do đó, chỉ có Trung klà nơi tht sự tnh lp được cái nôi giáo dục Phật giáo theo một mô thức mới, hiện đại phù hợp.
Hội An Nam Phật học làm tất cả để được đội ngũ chư tăng


  1. Nhiều tác giả, Hội thảo khoa học 300 Phật giáo Gia Định – Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh, trích bài viết, Từ Phong trào chấn hưng Phật giáoMột số suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam với tiến trình thống nhất dân tộc, của HT. Thích Thanh Tứ, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.131.
 

thanh tịnh, làm tất cả để được tầng lớp kế thừa cho Phật giáo thời chấn hưng sau này. Đó một hình thức giáo dục đào tạo tăng tài, thành lập quan ngôn luận với nhữngtưởng Phật học thuần khiết, đưa bạn đọc trở về lối suy nghĩ đúng đắn của người con Phật thuần chủng. Hội An Nam còn thành lập một mô hình hoạt động mới cho giới trẻ từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây chưa hề mô hình này. Đó thành lập hệ thống gia đình Phật tử. Hoạt động này đã thu hút nhiều giới tham gia, từ học sinh, sinh viên, tiểu học,... Phật giáo đã thật sự hội nhập với cuộc đời cũng từ những mô típ hiện đại này của An Nam.
Ngày nay, khi Phật giáo đã thật sự bước vào thế kỷ XXI, đã thật sự phát triển hội nhập. Tất cả những điều đó cũng dựa trên nền cũ từ những bậc đi trước. Đây chính công lao to lớn chư vị Tăng Ni cư sĩ tiền bối lòng nhiệt huyết với đạo đã dày công gầy dựng. Ngày nay, Phật giáo đã không còn phân ranh giữa ba miền Nam, Trung, Bắc, tt cả thống nht về một mi tng hòa Pht giáo Việt Nam. Việc còn lại của hàng Tăng Ni trẻ phải biết làm để được hành động đúng, làm xương minh Phật pháp. Phải biết sáng tạo, tìm hướng đi mới, đột phá hơn nữa trong việc hoằng pháp lợi sanh.nhiên, phải giữ được linh hồn bản chất của đạo Phậthòa nhp nhưng không hòa tan,phi ý thc trách nhiệm hay bổn phn của mình, hăng hái tiếp nối duy trì sự nghiệp của các bậc tiền bối31.
“Con xin nguyện làm viên gạch nhỏ Đắp xây nền đạo pháp thế gian
Cố phát huy truyền thống đạo vàng điểm trần gian này thêm đẹp”.


***



  1. Sa môn Thích Thiện Hoa, 50 năm (1920 – 1970), Chấn hưng Phật giáo Việt Nam hay Ghi ơn tiền bối”, 1970, tr. 10.
 



Thư mục tham khảo
Nguyễn Đại Đồng TS. Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm biên soạn),
Phong trào chn hưng Pht go, NXB. Tôn giáo, TP.HCM, 2010.
Nguyễn Đại Đồng, PhD. Nguyễn Thị Minh (Sưu tầm biên soạn),
Phong trào chấn hưng Phật giáo (tư liệu báo chí Việt Nam từ 1927
– 1938), NXB. Tôn giáo, 2007.
Nhiều tác giả, Hội thảo khoa học 300 Phật giáo Gia Định – Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh, trích bài viết, Từ Phong trào chấn hưng Phật giáoMột số suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam với tiến trình thống nhất dân tộc, của HT. Thích Thanh Tứ, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
Sa môn Thích Thiện Hoa, 50 năm (1920 – 1970), Chấn hưng Phật go Việt Nam hay là “Ghi ơn tiền bối, 1970.
TS. TT. Thích Phước Đạt, Tài liu ging dy Tng quan vphong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, 2012.
Tuệ Giác, Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử, NXB. Hoa Nghiêm, 1964. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB. Văn học,
tập 3, Nội.
Vân Thanh, Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, qua các thời đại phát nguồn của các giáo phái Phật giáo, tập 1, PL.2518.
Nguyễn Tài Thư (chủ biên) tác giả khác (1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB. Khoa học hội, Nội.
http://www.daophatngaynay.com/vn/giao-duc/11370-Huong- den-cai-cach-giao-duc-Phat-hoc-tai-Viet-Nam.html, download ngày 21/8/2012.
http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/tac-phm/86- vn-pht-giao-s-lun-iii/447-vnpgsl-iii-chng-28-hi-an-nam-pht- hc-trung-k?start=6, download ngày 25/8/2012.
 

188

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây