12. ĐẠO PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG GIÁO DỤC CHUYỂN HÓA CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI

Thứ sáu - 06/12/2019 05:29
ĐẠO PHẬT CON ĐƯỜNG GIÁO DỤC CHUYỂN HÓA CON NGƯỜI HỘI
 
TS.SC. Pháp Hỷ (Dhammananda)*
 
Kiến thức khoa học các hình thức nghệ thuật không thể giải đáp tất cả các hiện tượng trong cuộc sống, do đó người ta tìm đến con đường tâm linh hay một đời sống tôn giáo để tìm sự giải thích, tìm nơi nương tựa tinh thần tìm những thỏa mãn tình cảm hay tâm linh.
Phần lớn quần chúng đến với đạo Phật như tìm đến một tôn giáo mặcđạo Phật không hoàn toàn giống như định nghĩa về tôn giáo trong các tự điển thông dụng. Vậy tôn giáo gì? Theo từ điển, tôn giáo được định nghĩa: “Một hình thức hay biểu hiện của hành động bằng cách đó con người thể hiện sự công nhận của Thượng Đế hay các năng lực siêu nhiên khả năng can thiệp vào đời sống vận mệnh của họ, đối với các thế lực đó người ta phải phục tùng, phục vụ kính ngưỡng. Qua những hành động tôn giáo đó, con người bày tỏ tình cảm như kính yêu, sợ hãi, trung thành trong niềm kính sợ các năng lực siêu nhiên kia bằng cách tuyên bố niềm tin, thực hành các lễ nghi các hội hè tôn giáo, hay bằng các hạnh





*. Sanghamittārāma, 40 Chesterville Dr. East Bentleigh Vic. 3165, Australia.
 

kiểm thể hiện quan niệm đạo đức nào đó. Tôn giáo cũng một hệ thống các niềm tin hay tín ngưỡng; một sự biểu hiện của lòng mộ đạo hay trung thành, như đạo đức tôn giáo, tôn giáo nhất thần hay đa thần, tôn giáo tự nhiên, tôn giáo khải mc” [1913 Webster]. Trong một điu lut gn đây của nước Úc (Recommendation 14) tôn giáo được định nghĩa như sau: “Rằng định nghĩa về tôn giáo được căn cứ trên các tiêu chuẩn đã chế định trong trường hợp khoa học, cụ thể là:
  • Niềm tin vào một đấng siêu nhiên, vật thể hay nguyên lý;
  • Chấp hành tuân thủ theo kinh điển trong cáchxử để tạo ra kết quả của niềm tin đó.
(That the definition of religion be based on the principles established in the Scientology case, namely:
  • belief in a supernatural Being, Thing or Principle; and
  • acceptance and observance of canons of conduct in order to give effect to that belief. What constitutes a religion? Chapter 20; www.cdi.gov.au)
Theo những định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng, hiện nay phần lớn quần chúng đến với đạo Phật đến với một tôn giáo hay một tín ngưỡng, mặc dù tín đồ Phật giáo không gọi Phật (Thánh, Bồ tát, hiền Tăng) Thượng đế, nhưng họ vẫn tin tưởng các đối tượng kính ngưỡng này năng lực tác động, ảnh hưởng lên đời sống của con người theo một cách nào đó.
Tại sao người ta cần đến một tôn giáo? Hầu hết mọi tôn giáo đều hướng dẫn con người làm thiện, sống tốt, ănnhân đức tránh xa điều tội lỗi. Tuy nhiên quan niệm thiện ác làm thế nào để sống tốt tránh xa điều tội lỗi thì mỗi tôn giáo, mỗi học thuyết có nhng tôn chỉ và phương thức riêng. Trong đo Pht con đường này bắt đầu từ sự giáo dục chuyển hóa được sắp xếp theo một mô hình gọi Bát Thánh Đạo bắt đầu từ Chánh kiến hay thấy biết đúng đắn, hướng đến một tầm nhận thức mới về con người cuộc sống.
 

Tại sao người ta cần đến đời sống tôn giáo? những vấn đề, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống người ta không thể dùngtrí các dẫn chứng khoa học để giải thích, cũng không thể dùng các phương tiện khoa học kỹ thuật để giải quyết. Phải chăng đời sống vật chất hưởng lạc không thỏa mãn hết các nhu cầu trong con người?
Mọi tôn giáo đều bắt đầu từ một niềm tin hay một sự tìm hiểu không phải bao giờ cũng thể dùng các dữ liệu để chứng minh haytrí để giải thích. Cũng vậy, trong đời chúng ta gặp những con người, sự kiện mà chúng đem đến hạnh phúc, khổ đau những được mất, những thành bại khiến chúng ta cười, khóc, bao giờ chúng ta tự hỏi do đâu các hiện tượng đó thể xảy ra? Nếu người ta tự hỏi tại sao, người ta bắt đầu tìm kiếm một cái khác hơn chỉ thỏa mãn các nhu cầu vật chất, chỉ đi tìm các hưởng thụ thỏa mãn các dục vọng trong con người.
Kiến thức khoa học các hình thức nghệ thuật cũng không thể giải đáp tất cả các hiện tượng trong cuộc sống, do đó người ta tìm đến con đường tâm linh hay một đời sống tôn giáo để tìm sự giải thích, tìm nơi nương tựa tinh thần tìm những thỏa mãn tình cảm hay tâm linh. Người ta cần cảm thấy cuộc sống ý nghĩa ý vị hơn việc chỉ thỏa mãn các nhu cầu ăn uống, ngủ ngh, giải trí, làm tình, nói chung những chỉ mặt vật chất trong đời sống hay các mối quan hệ gia đình giao trong hội.
Khác với các tôn giáo khác, đạo Phật không chủ trương đi tìm Thượng Đế hay những năng lực siêu nhiên để giải thích các hiện tượng con người kinh nghiệm trong cuộc sống. Pháp đạo Phật thuyết giảng mục đích để giáo dục con người bằng cách giới thiệu một cách nhìn mới đưa họ ra khỏi những nhân thức một chiều đã bị điều kiện hóa hay đã bị đóng khung. Pháp Phật được khéo dùng phương tiện thuyết giảng, thiết thực hiện tiền, vượt không gian thời gian, mời gọi người ta đến để thấy, không phải chỉ niềm tin. Từ sự thấy biết đó dẫn đến một mục đích, một hướng đi lên trong cuộc sống mọi người phải tự mình trải nghiệm.
 

Con đường giáo dục trong Phật giáo bắt đầu từ Chánh kiến hay thấy biết đúng đắn. Thay đi tìm Thượng đế (God) hay chân ngã (Ātman = Brahma), đạo Phật dạy chúng ta phải quay về với chính mình để thấy được bản chất của đời sống đang hiện hữu trong ta quanh ta. Bản chất của đời sống này bao gồm những mặt khác nhau trong mỗi con người những nhu cầu khác nhau trong mỗi nguời. Trí tuệ trong đạo Phật chính thấy được sự hình thành tan của các mặt hiện hữu này trong ta quanh ta. Cách đây gần một ngàn năm Thiền Vạn Hạnh đã nói: “Thân như ánh chớp rồi không; như cỏ cây xanh trong mùa xuân, héo úa vào cuối thu. Thấu hiểu qui luật thịnh suy, tâm không xao động; thịnh suy như ht sương mai trên ngọn cỏ bên đường.1
Một hôm Đức Phật đang ngồi thiền trong một lâm viên xinh đẹp thì một nhóm thanh niên hoàng gia đến hỏi ngài thấy một phụ nữ trẻ trang điểm ăn mặc sặc sỡ chạy qua chỗ ngài đang ngồi không? Nhóm thanh niên này cũng kể cho Phật nghe sao họ phải tìm kiếm người đàn đó. Hôm đó 30 thanh niên hoàng tộc muốn làm một chuyến du ngoạn cắm trại trong rừng. Phần lớn trong số họ đã vợ hay thê thiếp, riêng một công tử trẻ chưa bạn đời. Anh chàng liền thuê một gái giang hồ cùng đi để mua vui. Trong khi mi người trong nhóm đang say sưa nhy nhót ca hát và uống rượu ngất ngư thìgái giang hồ lợi dụng vơ vét đồ đạc trang sức của họ bỏ trốn. Khi mọi người phát hiện ra sự vắng mặt của đồ đạc của họ cũng biến mất, họ tìm kiếm ta. Trên đường đi họ gặp Phật đang ngồi dưới bóng mát một cây đại thụ. Đức Phật bình thản mời họ ngồi xuống quanh ngài rồi nhẹ nhàng hỏi:
  • Này các vương tử, đối với các vị thì việc tìm kiếm người đàn việc tìm lại chính mình, việc nào quan trọng hơn?
  • Bạch ngài, đối với chúng tôi việc quan trọng hơn chúng tôi nên tìm lại chính mình.


  1. Trong kinh điển nguyên thủy cũng một câu kệ tương tự: Khi trí tuệ quán chiếu, thấy hữu vi thường (khổ, ngã), liền thoát ly khổ não, đó thanh tịnh đạo.
 
 
  • Này các vương tử, nếu như vậy các vị hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết giảng Giáo pháp cho các vị.
  • Bạch ngài, xin vâng.
Rồi những người bạn thuộc nhóm các vương tử ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các vị ấy. Tức ngài đã giảng giải bài pháp về bố thí, bài pháp về giới cấm, bài pháp về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của các vị ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã đưa ra bài Pháp chư Phật khai mở là: Không thỏa mãn (Khổ), nguyên nhân của nó khát ái (Tp), sbình an (Niết-bàn), và con đường đưa đến sbình an (Đạo). Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơthể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các vị ấy: “Mọi mầm mống của “sinh” (samudayadhamma) đều tiềm ẩn diệt ngay trong chính nó (nirodha dhammamti). i Phẩm, Lut Tng).
Nhóm thanh niên lúc đầu không hoàn toàn hiểu Đức Phật muốn nói với họ. Tại sao họ lại phải đi tìm chính mình? Nếu ai hỏi quý vị “ngươi ai?” chắc chắn quý vị sẽ nói ra một cái tên nào đó, một chức vụ hay địa vị nào đó gắn liền với thân thế mình, quý vị chắc rằng những tên gọi đó, chức tước địa vị đó mình hay không? Chúng ta vn quen xem tn này, danh này là ta, câu hi của đức Pht đưa nhng người kia trvvới chính h. Trước đó họ chỉ biết chạy theo dục lạc, thú vui bên ngoài biểu hiện người đàn trẻ đẹp với những trang sức bắt mắt, ưa nhìn. Với một người đàn ông trẻ tuổi, một người đàn trẻ đẹp thể thỏa mãn hết năm giác quan của họ, người đó thể quên mình trong niềm đam mê tình ái. Khi lạc thú qua đi, họ thể cảm thấy chua chát hayvị tẻ nhạt, thậm chí nghĩa. Khi một lý do nào đó mất đi những lạc thú, họ cảm thấy thất vọng, bị lừa dối, bị phản bội... Người tầm thường thường trốn chạy sự khó chịu hay không thỏa mãn trong một dục lạc mới, một cuộc săn tìm thú vui mới, lao vào một đam
 

khác. Họ chạy theo các giác quan tìm quên chính mình ai, họ không dám đối diện với chính mình hay khi sống một mình họ thấy đơn tẻ nhạt.
Bài pháp Đức Phật thuyết giảng cho những người thường bắt đầu từ sự bố thí (Dāna).
Đây phẩm chất đầu tiên khi thực hành, người ta biết xả bỏ tính tham lam ích kỷ chỉ biết nghĩ đến chính mình. Thay tìm cách giành giật, chiếm đoạt tích trữ cho riêng mình hay cho gia đình mình, người Phật tử làm hạnh bố thí, tức biết quan tâm thông cảm với người khác qua hành động chia sẻ những mình đang với người đang cần chúng. Như vậy, hành động tích cực đầu tiên Đức Phật dạy chính chia sẻ, cảm thông xả bỏ tính tham lam.
Mặctrong nhiều bài pháp Đức Phật phân tích khá chi tiết về phước báu của việc bố thí, về những quả báo tốt đẹp người cho sẽ nhận được do hành động tốt đẹp của mình. Tuy nhiên, người làm bố thí không nên chỉ nghĩ đến phước báu. nếu bố thí hay cúng dường chỉ nghĩ đến kết quả thì nếu kết quả chưa đến kịp thời sẽ sinh nản lòng (cho rằng chùa này không thiêng; thầy, này, hay hội chúng này không phước đức lớn). Hơn nữa một việc làm như vậy cũng chỉ xuất phát từ lòng vị kỷ, chưa xả bỏ thực sự chỉ việc đầu tư, do đó nó không thực hành động thể hiện lòng từ bi, quan tâm chia sẻ.
Cũng như các hành động thiện xảo khác trên con đường tu Phật, bố thí - cúng dường hai cấp độ. Ở cấp độ thế gian, một hành động tích trữ thiện nghiệp cho một quả báo tốt đẹp ngay trong hiện tại hay về sau. Cho gì, mình sẽ nhận lại được thứ đó, trong những lời kinh chúc phúc, chư TăngNi thường nói kết quả của bố thí đem lại bốn phước u: Trường th, sc đp, hạnh phúc và sức mạnh. Như vậy, bố thí một hành động đẹp khiến cuộc đời vui vẻ, hạnh phúc bớt đơn, trống trải. Chia sẻ đúng lúc đúng cách cũng khiến cho các mối quan hệ giữa con người với nhau, giữa con người với những sinh linh khác trở nên tốt đẹp hòa hảo hơn. Ngoài ra bố thí - cúng dường, giúp đỡ cảm thông chia sẻ với kẻ
 

khác cũng cho phúc lạc cõi trời với nhiều an vui lạc thú vi diệu hơn cnh trn gian rt nhiu. Trong nn đo đức Pht giáo, bố thí chính chủ động tạo thiện nghiệp, một pháp tu đối trị tính tham lam dẫn đến trộm cắp. Ở cấp độ xuất thế gian, bố thí cúng dường hành động xả bỏ, tâm từ bi đối với các chúng sinh khác, không mong cầu quả báo tốt đẹp cho chính mình. Khi người Phật tử thực hành giới thứ hai, không trộm cắp, bước tiếp theo bố thí mở rộng tấm lòng thơm thảo cho người khác.
Khi tuân theo giới luật, người ta tự khép mình vào kỷ cương, trở thành con người giáo dục, biết tiết độ kiềm chế mình theo khuôn mẫu đạo đức của một tôn giáo hay một cộng đồng hội. Nhưng kỷ luật tiết độ cũng khiến cho người ta thể trở nên khô khan hay khắc nghiệt. Để cho cuộc sống hài hòa dễ chịu hơn, bố thí hay mở rộng tấm lòng trước mọi người việc tốt đẹp bổ sung cho việc giữ giới. Nghĩa không chỉ tránh trộm cắp (tránh ác nghiệp), người Phật tử chân chánh sống với tâm cởi mở, hay giúp đỡ thảo thuận với mọi người (vun bồi thiện nghiệp). Bố thí trì giới đưa đến phúc lạc cõi người cõi trời. Tuy nhiên, tất cả những quả báo tốt đẹp đó cũng chỉ mang tính thế gian, như tất cả các phước báu còn ô nhiễm (hữu lậu) do tâm mong cầu, khi phước báu hết thì người đó vẫn thể phải trở lại với khổ cảnh.
Từ thời pháp được thuyết theo thứ lớp như vậy, Đức Phật khiến cho người nghe nhận thức được tính thường trong mọi hiện hữu. Khi nhận biết được sự thường, người ta không còn chấp tướng. Đâymột trong ba cửa ngõ để đạt đến sự bình an tức Niết-bàn, cụ thể không, tướng, nguyện. Cũng cần phải giải thích thêm thiền quán trên sự thường dẫn đến giác ngộ về tướng, thiền quán trên sự bất toại nguyện hay khổ dẫn đến giác ngộ về nguyện, thiền quán trên sự ngã của vạn hữu dẫn đến sự giác ngộ về tính không. (Abhiddhammatthasangaha, chương IX, 32). Đây những điểm sâu sắc cốt tủy nhất của triết lý Đạo Phật vẫn còn đồng nhất trong tất cả cá tông phái Phật giáo hiện hành. Chúng ta sẽ trở lại với vấn đề này sau.
 

Sự thấy biết đúng đắn trong đạo Phật thường bắt đầu từ sự tìm kiếm lại những chân giá trị đã bị đánh mất hay lãng quên. Người ta thường đề cập đến sự tìm kiếm này như tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời: Tại sao chúng ta lại sinh ra như thế này? Cuộc đời này ý nghĩa không? Con người sẽ đi về đâu?... Đức Phật dạy rằng chúng ta được sinh ra bởi duyên nghiệp đã được tạo tác trong đời trước, mỗi người kinh nghiệm cuộc đời tùy thuộc vào nghiệp lực đã tạo trong mối tương tác với ý chí nhận thức trong hiện tại. Mỗi người tự mình làm nên ý nghĩa cho cuộc đời, tùy theo nhận thức các hành động qua thân, khẩu, ý hướng cuộc đời đi đến chỗ tốt đẹp, hạnh phúc hơn hay tồi tệ, đau khổ hơn.
Những đã được tạo tác trong quá khứ thì không thể thay đổi được, cho dù đó do Thượng Đế hay do cha mẹ cho ta, ta không thay đổi được, nhưng chúng ta quyền chịu nhận (hay kinh ng- hiệm cuộc đời) theo cách của mình. Nếu chúng ta đừng tham lam quá đáng, đừng bất mãn đổ lỗi cho ai hay oán hận trong lòng, đừng ôm ấp thù nghịch tàn hại kẻ khác, chúng ta sẽ kinh nghiệm những đang được một cách dễ dàng thoải mái an nhiên hơn, cho dù những ta đang hay đang phải chịu nhận không phải tốt đẹp lắm. Đây chính Chánh tư duy trong đạo Phật. Chánh tư duy chính thái độ đúng đắn trước cuộc sống. Khi suy nghĩ đúng đắn, người ta không tự giày làm khổ chính mình, không làm khổ người khác sân hận, tham lam, hay oán thù. Tích cực hơn, chánh tư duy chính thái độ khoan dung hào hiệp, thái độ từ ái thân thiện thái độ bi mẫn thương người.
Một lần, khi Đức Phật đông đảo chư Tăng đệ tử đang trúNalanda, một đô thị phồn thịnh thời bấy giờ của nước Ma-kiệt-đà, một người đến yêu cầu Đức Phật thánh chúng thi triển các loại thần thông để thu phục dân chúng trong vùng tin theo đạo Phật. Đức Phật đã không thuận theo lời yêu cầu vẻ rất hợp thời đó. Ngài giải thích rằng giữa các loại thần thông ngài các hàng thánh chúng đã đạt được do công phu thiền định, chỉ thần thông của sự giáo dục chuyển hóa ngài thường dùng nhất, ngài cũng
 

khuyến khích các hàng đệ tử sử dụng loại thần thông này: Người hãy suy nghĩ như thế này, đừng suy nghĩ như thế kia2biết rằng ý nghĩ hay tâm tưởng quyền lực rất lớn trên những con người cảm nhận, trong Kinh Pháp cú, Phật dạy: dẫn đầu, ý tạo tác, ý làm chủ. Nếu người nói, làm hay ôm ấp các tâm niệm ô nhiễm đau khổ sẽ theo người như bánh xe lăn theo con bò kéo xe. dn đu, ý to tác, ý làm chủ. Nếu người nói, làm hay ôm ấp các tâm niệm trong sch, hạnh phúc sẽ theo người như bóng với hình. (Pháp cú 1 -2).
Phần lớn những đau khổ trong đời sống do con người thiếu hiểu biết về chính mình đời sống quanh họ. Chúng ta sống trong một thế giới các hiện tượng xuất hiện theo những qui luật của chúng, những quy luật riêng3, những qui luật chung[4]. Những qui luật riêng cần phải phương pháp khoa học đúng đắn mới khám phá được. Do đó kiến thức sự học hỏi cần thiết. Với những qui luật chung, cần sự chiêm nghiệm, từng trải để thấy biết sống hòa hợp trong dòng chảy của cuộc đời thời cuộc không bị vướng mắc đau khổ. Thế giới hiện tượng xuất hiện trước mỗi người tùy thuộc vào tâm trí của người cảm nhận. Điều này nói lên tính chủ quan trong kinh nghiệmnhân. Ngoài tính chủ quan, con người còn lệ thuộc vào tình cảm, tâm lý, do đó nhận thức về cuộc sống sự vật thường bị bóp méo bởi cảm nhận chủ quan.
Biết được điều này, Đức Phật đưa ra những phương pháp khác nhau để đưa tâm trí nhận thức của con người về chân nguyên, tức cái thấy biết như thực không bị ảnh hưởng của kiến chấp, tâm tình cảm.
Sự phân tích về con người theo đạo Phật thì ở tầng mức đơn giản nhất,bao gồm hai khía cạnh:
Phần vật chất (rūpa) phần tinh thần (nāma). Bình thường chúng ta chỉ cảm nhận được phần vật chất những cảm giác, tình


  1. Kevatta Sutta, Trường Bộ kinh tập I.
  2. Triết Phật giáo trình bày 5 loại quy luật riêng bao gồm (1) Utu-niyama, quy luật về thời tiết; (2) Bīja- niyama, quy luật về chủng loại; (3) citta- niyama, quy luật về tâm lý; (4) kamma- niyama, quy luật về nghiệp lực; (5) Dhamma- niyama, quy luật về pháp.


cảm, ý tưởng, ham muốn sinh khởi liên quan đến phần vật chất này. Phần vật chất này bao gồm thể những nhu cầu của thể như thức ăn, nước uống, không khí để thở. Để bảo tồn thể thỏa mãn những nhu cầu của nó, chúng ta phải làm việc, kiếm tiền, xây nhà. Để thỏa mãn những nhu cầu khác như tình cảm, ham muốn, quan hệ,… người ta cần bạn b, cần người hợp tác hôn nhân.... Tất cả các hoạt động của con người chỉ để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau này.



***


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây