12. CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TĂNG TÀI CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC (1934 - 1945)

Thứ sáu - 06/12/2019 20:35



 
CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TĂNG TÀI CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC (1934 - 1945)
 

TS. Dương Thanh Mừng*


 
 Năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học chính thức được thành lập theo Nghị định số 2286 của Thống đốc Nam Kỳ Pagès. Sự ra đời của Hội Lưỡng Xuyên Phật học đánh dấu một bước ngoặt mới trong tiến trình chấn hưng Phật giáo tại miền Nam Việt Nam lúc by giờ. Trong khuôn khổ của Hi tho khoa học: “Pht hc Việt Nam thời hiện đại: Cơ hi và thách thức, chúng tôi xin được đi vào phân tích trình bày thêm về hoạt động giáo dục tăng tài của Hội Lưỡng Xuyên Phật học. Qua đó, góp phần bổ sung nguồnliệu nhằm làm sáng tỏ hơn các phương diện của phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam.
  1. SỰ RA ĐỜI CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
Đầu thế kỷ XX, cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đã nhanh chóng được các tăng ni, Phật tử, các nhà trí thức, những người mến mộ đạo Phật phát động khắp cả ba miền đất nước. Nếu như trong Nam các nhân vật tiên phong Hòa thượng Khánh Hòa, Thiện Chiếu, nhà báo Nguyễn Mục Tiên, cư sĩ Huỳnh Thái Cửu

*. Khoa Dân tộc Tôn giáo, Học viện Chính trị khu vực III, Đà Nẵng.

thì ở min Trung có Hòa thượng Giác Tiên, Giác Nhiên, Quốc sư Phước Huệ, cư sĩ Tâm Minh Đình Thám, sa môn Trang Quảng Hưng miền Bắc hòa thượng Tố Liên, Tâm Lai, sa môn Trí Hi, Tng đốc Nguyn Năng Quốc... Bên cnh sự nhit tnh Đạo pháp của các tăng ni, Phật tử, quá trình vận động chấn hưng Phật giáo Việt Nam giai đoạn này cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Đứng về phía Phật giáo thì nhiều tăng ni, Phật tử vẫn chưa thực sự sẵn sàng để tham gia vào quá trình đổi mới các phương thức tu tập cách thức sinh hoạt truyền thống; họ lo ngại việc va chạm với chính quyền thuộc địa bởi những sắc lệnh về thuế, về sự quản khai tài sảntrú đối với thầy chùa; thêm vào đó những khó khăn trong các sinh hoạt từ đời sống khiến cho nhiều tăng ni, Phật tử buộc phải chú trọng đến việc “kiếm kế sinh nhai” quên mất việc tu hành... Về phía bên ngoài, đó sự ngăn trở cùng chính sách đô hộ bóc lột của chính quyền thuộc địa; sự cách trở của địa lí, giao thông cùng các phương tiện thông tin, truyền tải; các cuộc tranh luận (phê phán) từ các trào lưu tư tưởng đối với các giá trị văn hóa cũ, mới đang diễn ra rất sôi nổi...
Chính những khó khăn này đã tạo ra rất nhiều thử thách đối với chí nguyện chấn hưng Phật giáo của các tín đồ. Th thách đầu tiên vấn đề hợp tác, đoàn kết, thống nhất giữa các tăng ni, Phật tử để cùng nhau thực hiện các mục tiêu, yêu cầu của công cuộc chấn hưng Phật giáo. Tiếp đến vấn đề đảm bảo tính chính danh pháp lí cho các hoạt động chấn hưng. Đã rất nhiều lần các thành viên trong ban vận động như hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Thiện Niệm, Từ Nhã, Chơn Huệ, Thiện Chiếu một số cư sĩ như Ngô Văn Chương, Phạm Ngọc Vĩnh, Nguyễn Văn Cần, Trần Nguyên Chấn gửi đơn lên chính quyền thuộc địa để xin phép thành lập các sở cho phong trào chấn hưng Phật giáo nhưng đều không được chấp thuận. Sự ra đời cũng nhanh chóng tan của Hội Lục hòa Liên hiệp, Hội Phật giáo Nam Kỳ nòng cốt hai sở Thích học đường Phật học Thư xã, hay sự đình bản ngay từ số đầu tiên của hai tờ báo Pháp Âm Phật hóa Tân thanh niên những minh chứng hết sức cụ thể cho luận điểm này. Kế đó, sự 
thất bại trong việc vận động xin giấy phép hoạt động cho Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học ở thời điểm năm 1929 - 1930. Dù bản điều lệ quy tắc hoạt động của Hội đã được các thành viên trong ban sáng lập thông qua từ năm 1929 nhưng chính quyền thực dân Pháp vẫn không phê chuẩn.
Từ sau năm 1930, với những biến chuyển của tình hình trong nước đặc biệt sự thay đổi về chính sách tôn giáo tại chính quốc Pháp cũng như thuộc địa đã tạo điều kiện cho phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam hình thành1. Tổ chức đầu tiên được thành lập Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học, theo Nghị định số 2062, của thống đốc Nam Kỳ, ngày 26/08/1931. Kế đó Hội Phật giáo Liên hữu tại chùa Bình An, Long Xuyên vào ngày 18/3/1932, rồi Hội Phật học Tương Tế vào ngày 11/6/1934. Sự ra đời của các tổ chức này đã chính thức đánh dấu cho sự hình thành phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam; đồng thời, nó cũng mở ra những niềm hi vọng lớn lao đối với các tăng ni, Phật tử trong việc khắc phục những hạn chế Phật giáo đang gặp phải. trên thực tế nhiều hoạt động đổi mới cải cách Phật giáo do Ban Trị sự các tổ chức Phật giáo triển khai thực hiện, bước đầu đã thu về được những kết quả rất khả quan (tính đến thời điểm này). Mặcvậy, những bất đồng chính kiến về kế hoạch hoạt động các phương pháp để thực hiện chấn hưng bắt đầu nảy sinh trong nội bộ các tổ chức Phật giáo. Hệ quả nhiều tăng ni, Phật tử đã rút ra khỏi các hội đoàn để đứng ra vận động thành lập những tổ chức Phật giáo mới.
Ngày 13/8/1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học (Association Bouddhique Luong Xuyen) chính thức được thành lập tại chùa Long Phước, Trà Vinh2. Về cấu tổ chức ban đầu của Hội được chia làm 3 ban: Ban quảngồm Hội trưởng Văn Xuyến (pháp danh An


    1. Vấn đề này xin xem thêm Dương Thanh Mừng (2014), “Thực dân Pháp với vấn đề chấn hưng Phật giáo Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XX”, Nghiên cứu châu Âu, số 11.
    2. Về sự ra đời của các tổ chức Phật giáomiền Nam đương thời xin xem thêm: Dương Thanh Mừng (2016), “Sự hình thành các mô hình tổ chức giáo hội trong phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam (1931 - 1951)”, in trong Việt Nam học: Những vấn đề thuyết thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. HCM.
 

Lạc), Hội phó là Phạm Văn Liêu, ThquỹThái Phước, Thư Phạm Văn Luông, Pháphọc đường là Khánh An, Đốc học Khánh Hòa, một hay nhiều Giáo thọ (tiêu biểu Nguyễn Văn An), 2 Kiểm soát Nguyễn Văn Khỏe, Sơn Sau3. Ban Chỉ huy gồm Chánh Tng lí là Nguyn Huệ Quang, pTng lí Lê Diu Pháp và Cố vấn hành chính của Hội Tâm Quang. Ban Danh dự gồm Hội trưởng ông Robert Dufour - Chủ tịch hạt Trà Vinh; Hội phó Danh dự, các hạng hội viên như: sáng lập, trường trợ, thi ân, tán trợ. Hòa thượng Từ Phong chùa Giác Hải (Chợ Lớn) được mời làm Chng minh Đo sư. Ngày 5/7/1935, Toàn quyn Đông Dương là René Robin Nghị định số N604-S cho phép Hội Lưỡng Xuyên xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật học mỗi tháng ra 4 kỳ, số đầu tiên ra mắt vào ngày 1/10/1935. Đến năm 1936, Hội được thành lập thêm một ban mới Ban Giáo dục học đường do Hòa thượng Từ Phong làm Đại đạo Khánh Hòa làm Đại pháp sư.
Trải qua hơn 10 năm tồn tại, Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã nhiều cống hiến quan trọng cho công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Một trong những thành quả tiêu biểu Hội đã đóng góp được đó chính tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo tăng tài để đào luyện nên những thế hệ hulai cókhnăngdẫnđovàhướng đạo cho Phật giáo Việt Nam trong những thời kỳ tiếp theo.
2. HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TĂNG TÀI CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục trong công cuộc chấn hưng Phật giáo nên ngay sau khi thành lập, Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã tập trung mọi nỗ lực cho hoạt động đào tạo tăng tài. Bằng chứng ngay trong mục đích nói về sự ra đời, Ban Trị sự Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã khẳng định rằng: Một mặt lo đào tạo nhân tài để chấn hưng Phật pháp, về phương diện hoằng pháp lợi sanh một mặt đồng tu tập cho tinh tấn đoàn thể tăng già

  1. Theo như nội dung của bản Nghị định được phép thành lập Hội do Toàn quyền Pháp thì hội Lưỡng Xuyên Phật học ra đời thể nói gắn liền với vai trò trực tiếp của Nguyễn Văn Ân pháp danh Huệ Quang, Trà Vinh. Xem thêm: Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), Duy Tâm Phật học, số 1, trang phụ bìa.

nghiên cứu nghĩamàu nhiệm trong kinh tạng, phô diễn ra chữ Quốc âm để làm món tâm dược cống hiến cho nhân sinh”4. Hay trong bản Điều lệ Quy tắc thành lập, Hội cũng đã dành rất nhiều điều khoản để nói đến các vấn đề về giáo dục đào tạo tăng tài. Tiêu biểu như: Điều 1, chỉ thu nhận những học trò từ 15 đến 25 tuổi; những người xuất gia hay tại gia muốn vào trường học phải biết chữ Quốc ngữ, chữ Hán phải thông hiểu một chút kinh, luật, luận. Phải làm đơn trình cho Ban QuảnGiáo dục để khai lai lịch của bản thân, tên cha mẹ, nghề nghiệp của cha mẹ nơi ở hiện tại. Các học tăng sẽ chịu khảo thí theo chương trình của Hội. Học tăng nàocách tầm thường, không đủ tiêu chuẩn thì sẽ bị hội đồng loại ra. Các học tăng được thu nhận không giữ đúng thanh quy cũng sẽ bị tẩn xuất ra khỏi học đường. Hội sẽ cung cấp cho các tăng ni sinh tài liệu học tập, chịu học phí mỗi khóa 5 năm, đến khi thi đậu ra trường phảilại giúp Hội 5 năm, sau đó Hội sẽ phân bổ đi hoằng pháp hoặc làm giảng các nơi khác... Điều 3, sẽ lập một trường Phật học để đào tạo tăng tài cốt để tuyên truyền chánh giáo của đạo Phật. Điều 4, Hội sẽ chọn các vị giảng uy tín để tham gia giảng giải phần kinh luật.   5.
Nhìn vào bản thiết kế xây dựng chùa Hội quán Long Phước đã được chính quyền thuộc địa đương thời phê duyệt, chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng, Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã dành rất nhiều diện tích không gian để chăm lo đầu tư cho các sở giáo dục như: 1/Đại hùng Bảo điện, 2/Tàng kinh Bảo viện, 3/Thiền lâm Tịnh xá, 4/Tòng lâm Tịnh xá, 5/Sư sanh Tịnh png, 6/Cư sĩ Lâm vin, 7/ Giảng đường, 8/Biên tập sở, 9/Nghiên cứu viện, 10/Đông trù, 11/ Ưu bà Di vin, 12/Trụ trì png, 13/Pht học đường, 14/Tng lí Văn phòng, 15/Công khố. Theo Hội Lưỡng Xuyên Phật học: Phật học đường nơi đào tạo tăng đồ tu học theo đúng tinh thần Phật pháp, tinh nghiêm giới hạnh, đủ tài hoằng pháp lợi sanh, để
  1. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Đôi lời biểu lộ”, Duy Tâm Phật học, số 1, tr.14-16.
  2. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Điều lệ Quy tắc”, Duy Tâm Phật học, số 2, tr.96
    hậu thuẫn cho Phật giáo diễn dịch những kinh, luật, luận viết bằng chữ Hán sang chữ Quốc ngữ. Phật kinh Thư viện đủ tục, tạng, kinh toàn bộ đều những nguồn tài liệu rất quý báu cho việc tu tập cũng như nghiên cứu. Lại còn cả những kinh sách, báo chí Đông - Tây viết về triết lí, tư tưởng của Phật giáo rất thuận tiện cho việc nghiên cứu giáo nghĩa vi diệu, thâm sâu của Đức Phật tu học cho đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn. Giảng đường là nơi để tổ chức các buổi thuyết pháphọc tập. Mỗi tháng sẽ có 4 ngày giảng thuyết. Hội sẽ chọn những vị giảng phẩm chất học thức uyên thâm về giáoPhật giáo để diễn giải tường tận cho những người tâm học đạo hiểu nghĩa tu hành”6. Đặc biệt, Hội cũng hướng đến việc thành lập các quan nghiên cứu chuyên sâu để bổ trợ cho công tác giáo dục như “Nghiên cứu vin. Đây là một chủ trương rất tiến bộ khoa học của Hội Lưỡng Xuyên Phật học lúc bấy giờ.
    Ngày 12/9/1935 (ngày 15/8 âm lịch), Hội Lưỡng Xuyên Phật học chính thức khai giảng Phật học đường tại chùa Long Phước, đón nhận tăng ni sinh theo học. Mục đích Phật học đường Lưỡng Xuyên hướng đến là: Tùy theo trình độ tiến hóa của nhân loại cải cách cho phù hợp với thờiPhật pháp xướng minh, cốt để giáo hóa nhân tâm, phò trì mạt vận cho được “đạo tùy cảm, giáo dĩ thi hưng, đào to cho một ngày kia có người tnh tài, đt đức, nhơn thiệt nhĩ mục, Phật pháp đống lương, để làm bảo trong Phật giáo”7. Điều kiện để theo học của tăng ni sinh phải thọ giới, kiết hạ ba tháng để học tập oai nghi, tế hạnh, giới luật cho biết tánh tường; chẳng đặng ăn phi thời chẳngcác chứng bệnh như lao, ghẻ, lát8. Theo Hội Lưỡng Xuyên Phật học, việc thành lập Phật học đường vấn đề rất quan trọng cần phải khẩn trương thực hiện bởi nếu không trường học sẽ khó phát huy được hết những ng- hĩacao siêu trong kinh tạng của chư tổ lưu truyền. Đồng thời, lập


  1. Trần Văn Giác (1935), “Bài diễn văn lúc khai đại hội”, Duy Tâm Phật học, số 2, tr.67.
  2. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Kết quả cuộc thi chọn sĩ tử lễ khai trường Thích học đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật học”, Duy Tâm Phật học, số 2, tr.85-91.
  3. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1937), “Kính cáo”, Duy Tâm Phật học, số 19, tr.413.

trường cũng chính để khắc phục vấn nạn thất học bảo tồn các giá trị tinh túy của Phật giáo đã được nuôi trồng, gây dựng qua bao thời kỳ. Bởi:Xưa kia nền văn tự Phật hóa đều hấp thụ về Hán học cả. Kể từ ngày chính phủ bảo hộ xứ này thì Hán học lần lần sút kém vì không phải món chuyên môn về đường khoa cử. Thành ra ít ai quan tâm đến, nên nay chỉ còn ảnh hưởng một đôi chỗ thôi. Kinh điển của Phật toàn Hán tự, đã biết rằng Phật giáo sản xuất từ bên xứ Trung Bắc Ấn Độ, song chư tổ Trung Hoa lại đắc truyền chánh pháp. thế nên Phật giáo xứ ta toàn ảnh hưởng với nước Trung Hoa nay Hán học suy đồi thì Phật giáo cũng do đó không khuếch trương ra được. Cứ theo hai nguyên nhân trên thì Phật giáo xứ ta cần phải lập trường Phật học; nếu cứ trọng về hình thức bề ngoài thì đâunhân tài phiên dịch kinh điển ra chữ Quốc văn cho thiện tín đâunhân tài bảo tồn ngôi tam bảo9. Liễu Không Đạo Nhơn cũng cho rằng, lập trường Phật học việc làm rất khẩn thiết để giữ vững môn phong, để tuyên truyền chánh pháp mang lại tri thức, hạnh phúc cho quần chúng trong cõi Á Đông:
Phật học uyên thâm đủ các tông Lập trường dạy đạo giữ môn phong Mở kho bác nhã tìm chân
Vét bụi minh tánh không Đào tạo tăng tài mau tiến bộ
Tuyên truyền chánh pháp để lưu thông Nhiều người bổn xứ ra hoằng hóa Hạnh phúc nhân sinh cõi Á Đông
Nhằm nâng cao chất lượng đầu vào, Ban Trị sự Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã tiến hành tổ chức các cuộc khảo thí đối với các tăng ni sinh. Ban giám kho cuộc thi cũng đã được tnh lp gm: Trưởng ban là Đốc học sư Lê Knh Hòa, Pban là Chánh Tng lí Huệ Quang, Cố vấn viên Hội trưởng An Lạc, Ủy viên hòa thượng



  1. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Đôi lời biểu lộ”,... Tlđd, tr.14.
 

Bảo Lâm hòa thượng Viên Giác, Giám trưởng Pháp Khánh Anh. Chương trình thi được chia làm 2 buổi: Buổi sáng, các thí sinh dự thi sẽ đọc một bài Hán văn viết một bài ám tả một đoạn kinh văn bằng chữ Hán; buổi chiều, thí sinh sẽ viết một bài ám tả bằng chữ Quốc ngữ, làm một bài luận với chủ đề: Bổn phận của một người học sinh khi thi đỗ rồi thì phải làm như thế nào cho tròn nghĩa vụ đối với Hội Lưỡng Xuyên Phật học đối với Phật pháp10.
Trong số 20 học ng đu tiên tham gia dự kỳ thi, có 8 người đủ điều kiện kết quả cả 8 người đều thi đỗ. Tuy nhiên, do số lượng quá ít nên Ban Trị sự Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã nới lỏng các điều kiện theo học cho các tăng ni sinh. Năm học 1935 - 1936, Phật học đường Lưỡng Xuyên đã tổ chức đào tạo được 2 lớp tăng - ni, độ tuổi từ 9 đến 29, với tổng cộng khoảng 30 người. Lớp tăng sinh đu tiên với các tên tui như: Hành Tr, Huyn Quang, Thin Hòa, Thiện Hoa, Hiển Không... Lớp ni đầu tiên gồm: Trâm Anh (Huệ Chơn, chùa Tiên Linh), Lê Ngọc Trinh (Kim Viên), Dương Thị Kiến (Diệu Ninh, chùa Giác Hải), Thị Thanh (Diệu Tâm, chùa Giác Hải), Thái Thị Anh (Diệu Kim), Thái Thị Nguyệt (Diệu Minh), Võ Thị Lựu (Diu Trước), Lưu Thị Nhạn (Diu Tánh), Trương Thị Lí (Huệ Hoa)... Lớp Ni do Thích Minh Tịnh đảm nhiệm (thời gian sau lớp Ni dời về chùa Vĩnh BửuBến Tre, Hòa thượng Khánh Hòa làm qun lí, Nguyn Trung Tín và Nguyn Văn Hoài tham gia công tác tổ chức).
Bước sang năm 1936, Hội Lưỡng Xuyên Phật học chính thức cho ra mắt Ban QuảnPhật học đường (Ban Giáo dục) gồm: Hòa thượng Từ Phong làm Đại đạo sư, hòa thượng Khánh Hòa Khánh Anh làm Đại pháp sư, Hòa thượng Chánh Thiền Nguyễn Bửu Sơn làm Giảng sư, Cố vấn Thích Pháp Ân Tâm Quang, Kiểm soát Diệu Pháp Thích Liễu Đàn11. Đến năm 1937,



  1. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Kết quả cuộc thi chọn sĩ tử lễ khai trường ...”, Tlđd, tr.85-91.
  2. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1936), “Lễ Chu niên Đại hội”, Duy Tâm Phật học, số 6, tr.316.
 

do sự điều chỉnh một vài chức danh trong Ban Giáo dục nên cấu nhân sự được tổ chức lại gồm Hòa thượng Từ Phong tái đắc cử Đại Đạo sư, cùng hai Phó Đạo sư là hòa thượng An Lạc (chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho) và hòa thượng Knh Hòa. Ging sư là hòa thượng Nguyễn Bửu Sơn (chùa Phước Long, Sa Đéc) Khánh Anh (chùa Long An, Cần Thơ); Cố vấn hòa thượng Tâm Quang (chùa Viên Giác, Bến Tre) Thích Pháp Ấn (chùa Phước Tường, Gia Định); Kiểm soát hòa thượng Phạm Văn Ngưu (chùa Kim Huê, Sa Đéc) hòa thượng Huỳnh Viên Minh (chùa Hòa Thạnh, Châu Đốc)12. Thỉnh thoảng, Hội mời thêm các vị như Mật Thể, Như Ý, Trí Thuyên, Nht Liên từ min Trung vào ging dy.
Theo Ban Trị sự Hội Lưỡng Xuyên Phật học, giáo dục vai trò rất quan trọng đối với tương lai của Phật giáo. Do đó, để được những thế hệ tăng tài thực sự thì ngoài việc lập trường, tuyển chọn giáo viên cần phải làm cho các tăng ni sinh nhận thức được trách nhiệm tu học của mình. Theo đó, trách nhiệm của học tăng hộ trì Phật pháp cho được cửu trường, khoách trương phật giáo cho được tinh tấn, truyền Phật học cho bồng bồng bộc bộc, bành trướng lan rộng ra, để trên thì trả ơn tứ trng, dưới cứu khổ tam đồ, cả pháp giới chúng sanh đồng lên đến con đường giải thoát13. Hòa thượng Trí Th cũng cho rằng: “người học Phật người làm một việc to tát đối với muôn loài, hy sinh hết thân mạng, tài sản để tìm phương pháp cứu độ cho quần sinh; thế một người ân nhân cho tất cả. Chúng ta nên tinh tấn, nên phát đại Bồ Đề tâm, lấy sự độ sanh làm sự nghiệp, đem việc hoằng pháp làm việc hằng ngày, cho đến khi nào tất cả chúng sinh đều thành Pht thì chúng ta mới tròn nghĩa v14. Theo Cao Đo Trn, phàm người học Phật, bất luận tại gia hay xuất gia đều không được lấy cái cảnh ngộ an nhàn, tọa hưởng làm đầu. Phải tùy địa vị năng lực của mỗi người, hàng ngày làm lấy một sự nghiệp, trước để nuôi sống chính bản thân mình để giúp ích cho đời, sau đền


  1. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1937), “Đại hội đồng thường niên, ngày 28-29/3/1937”,
Duy Tâm Phật học, số 19, tr.399-410.
  1. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Kết quả cuộc thi chọn sĩ tử...”, Tlđd, tr.85-91.
  2. Trí Th (1936), “Tại gia và xuất gia”, Duy Tâm Phật học, số 4, tr.245-254.
 

đáp ân đức của Phật tổ các đấng nhân giả. Không nên lười biếng, buông xuôi cái sự nghiệp ấy. Sự nghiệp của mỗi cá nhân sẽ bao gồm hai loại chính sự nghiệp của chí hướng sự nghiệp của chức vụ. Sự nghiệp của chí hướng “nhân sinh quý thích chí” (ở đời cốt để thỏa chí mình). Cái chí sở mộ của người học Phật chính lấy điều từ bi bác ái để rèn luyện tâm thân cho tăng tiến lên đường đạo đức để đạt đến cái cảnh giới cực lạc. Người niệm Phật dùng vãng sanh Tây phương làm cực lạc, người tham thiền cũng lấy kiến tánh thành Phật làm cực lạc, nên cácnhân phải lấy sự tín ngưỡng tam quy ngũ giới, thập thiện, lục độ,... để làm phương hướng cho sự sinh hoạt của chính bản thân gia đình. Sự nghiệp của chức vụ đối với gia đình, đất nước, hội, hoặc nhân sinh, mỗi người. Phải tùy theo vị thế, địa vị năng lực chọn lấy một nghề nghiệp phù hợp để cùng chúng nhân đổi chác xài dùng, để chăm lo cho sự sinh hoạt gia đình, con cái. Chúng ta phải một thân nghiệp làm ăn để thu được sự lợi ích ân huệ cùng nhau. Không như thế thì thân của chúng ta đối với đời tất phần tổn giảm... Do đó xét ra, phái xuất gia vẫn gia vụ sự nghiệp của xuất gia, tức lấy hoằng pháp làm gia vụ, lấy lợi sanh làm sự nghiệp; phái tại gia vẫn sự nghiệp gia vụ của tại gia, tức nông, công, thương đều lãnh một cái trách nhiệm để cấp dưỡng cho thân, chi độ cho nhà, lợi tế cho nước giúp ích cho quần chúng15.
Về sự học của các học tăng: Do hiện tại nhiều địa phương trên đất Nam Bộ chưa lập được Phật học đường nhiều chùa cũng chưa đủ các tăng khả năng tham gia giảng dạy nên học tăngcác chùa gần Phật học đường sẽ được Hội xem xét để tạo mọi điều kiện theo học. Còn nếu học tăng nàoxa không điều kiện đi học thì các chùa nên mời thầy từ bên ngoài vào dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp chữ Hán để làm căn bản cho việc tiếp cận kinh kệ rèn luyện trước tác. Nếu không đủ khả năng mời thầy thì các chùa nên tạo điều kiện để các học tăng hàng ngày vào các trường làng để


  1. Cao Đạo Trần (1936), “Người học Phật cần phải biết việc cần yếu nên làm”, Duy Tâm Phật học, số 14, tr.136-140.

học chữ Pháp - Việt, tối về học thêm kinh kệ. Chỉ như vậy thì sau này mới mong tăng tài đủ đức, đủ hạnh để ra phụng sự đạo pháp, hội. các tăng tài rường cột tương lai của Phật giáo nước nhà16. Bên cạnh đó, Hội Lưỡng Xuyên Phật học còn hướng đến việc cử các học tăng theo học ở những môi trường khả năng đào tạo chuyên sâu nâng cao. Nếu nhưbên ngoài, Hội ý định cử học ng đi du học ở các nước Tích Lan, n Đ, Trung Hoa, thì ở bên trong, Hội đã hướng đến các Phật học Viện tại Huế, Nội. Điều này được minh chứng qua bài phát biểu của Trần Văn Giác trong lễ bãi khóa năm thứ nhất của Phật học đường Lưỡng Xuyên rằng: Các trường Phật học của chúng ta nên yêu cầu hai ngài Huệ Pháp Khánh Anh chia dạy hai lớp tiểu học theo chương trìnhHuế. Mãn năm, học tăng phải chịu hạch thí được cấp bằngđẳng hầu lãnh lấy học phí của Hội theo học lớp trung học, đại họcHuế. Bởi chúng ta muốn Phật giáo được tăng quang, tăng già chỉnh đốn nên mới lập ra Phật học đường. Thiết tưởng nếu các tăng già, thiện tín hiệp sức, người xuất tiền, người lấy trí chung lo chấn hưng Phật pháp thì chỉ trong 5 năm lo đạo Phật không xướng minh, tăng già không chỉnh đốn. Các học tăng của Hội gửi đi các nơi đủ đức, đủ tài gánh vác giềng mối của Đức Như Lai giúp ích được cho hội ta rất nhiều việc. ai cũng biết rng, nếu học thuyết được cao sâu thì sau nhân tài mới xuất chúng, nếu giáo dục được chân chính thì sauhội mới thuần lương. Vậy chúng ta không nên lần lựa ngày qua tháng lại, phải nhanh đem hết quan niệm của mỗi người hiệp chí đồng tâm để nghĩ bàn cách để gửi học tăng ra Trung, Bắc, ấy điều rất cần yếu đối với Hội chúng ta17. Do đó, năm 1937, được sự gợi ý của hòa thượng Khánh Hòa, Phật học đường Lưỡng Xuyên đã chọn ra 2 tăng sinh thành tích tu học tốt nhất Thích Thiện Hòa Thích Hiển Không ra Huế theo học tại Phật học Viện Tây Thiên. Đến năm 1938, Phật học đường Lưỡng Xuyên tiếp tục gửi các học tăng ưu tú của trường ra Huế theo

  1. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1939), “Muốn có tăng tài cần đào tạo ngay các đạo tiểu”,
Duy Tâm Phật học, số 38, tr.58-60.
  1. Trần Văn Giác (1938), “Bài diễn văn đọc sau bữa tiệc lễ bãi trường”, Duy Tâm Phật học, số 28, tr.190-193.
 

học như: Thích Thiện Hoa; Thích Huyền Quang; Thích Bửu Ngọc; Thích Chí Thiện; Thích Chánh Quang; Thích Hiển Thụy; Thích Hành Trụ; Thích Qung Liên, Nguyn Tn Tài...
Cùng với việc gửi tăng sinh đi đào tạo, Hội Lưỡng Xuyên còn chủ trương tham khảo các mô hình đào tạo từ nền giáo dục quốc dân cũng như của các tổ chức Phật giáo đương thời để xây dựng chương trình giáo dục cho Hội. Cuối năm 1936, Hội Lưỡng Xuyên Pht học đã cử Nguyn Văn Thọ và Nguyn Văn Trng ra Huế tm quan cách thức tổ chức Phật học đường của Hội An Nam Phật học cũng như phương thức chấn chỉnh quy củ ng già. Trong chuyến đi này, hai ông đã được Hi trưởng Nguyn Khoa Toàn và chư vị hòa thượng trong ban chứng minh Quốc Phước Huệ, hòa thượng Giác Tiên, Giác Nhiên, đốc giáo Trí Độ, cư sĩ Tâm Minh Đình Thám, Nguyễn Khoa Tân, Quang Thiết, Nguyễn Xuân Thanh đón tiếp một cách nhiệt tình trao đổi một cách khá chi tiết về mô hình cũng như cách thức vận hành của Hội An Nam Phật học. Kết quả của chuyến đi này Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã xây dựng được một chương trình đào tạo dựa trên nền tảng của chương trình giáo dục do Hội An Nam Phật học xây dựng từ năm 1934. Theo đó, đối với cấp tiểu học, các học tăng sẽ trải qua 5 năm với các học phần tương ứng như: Năm thứ nhất học Quốc ngữ hai buổi công phu; năm thứ hai học Sự tích Phật Thích Ca, bốn phép toán Phật học giáo khoa thư; năm thứ ba học Luật Sa di, lượng thọ kinh, Đa Tng kinh thủy sám pp; m thứ tư học Sa di lut gii, Thập lục quán kinh; năm thứ năm học Di Đà sớ sao, Bảo đàn kinh. Cấp đại học cũng gồm 5 năm: Năm thứ nhất học Kim Cang trực sớ, Tâm kinh chú giải, Duy thức phương tiện đàm, Bát thức quy củ tụng trang sớ; năm thứ hai học Lăng Nghiêm kinh, Viên Giác kinh, Nhân minh luận; năm thứ ba học Lăng già kinh, Khởi kín luận, Đại thừa chỉ quán luận; năm thứ tư học Thành duy thức luận, Pháp Hoa kinh, Phạm Võng kinh; năm thứ năm học Đại bát niết bàn kinh, Tứ phần lut. Cùng thời gian này, nhờ sgiúp đỡ của cư sĩ Ngô Trung Tín Huỳnh Thái Cửu, Phật học đường Lưỡng Xuyên cũng đã
 

mua được một bộ Đi Tng Kinh (750 cuốn) về trti trường để làm tài liệu học tập cho các học tăng.
Song song với công tác đào tạo tăng tài trên đất Nam Bộ, nhiều thành viên của Hội Lưỡng Xuyên Phật học cũng đã đứng ra kêu gọi sự nhất thể hóa chương trình đào tạo tăng tài chung trong cả nước. Đơn cử như với Hải Ấn, ông cho rằng, những việc các tổ chức Phật giáo hiện thời cần phải làm sắp đặt lại trật tự tăng đồ trong nước theo đúng quy tắc giới luật; mở một cuộc vận động để xây dựng nền tân học Phật giáo dạy đủ các thành phần khác nhau; mở viện nghiên cứu Phật học, sưu tập đủ kinh sách nội điển ngoại điển; vận động phong trào du học ở các nước; lập nhà tịnh tu để các học ng thực nh giáo lí nhà Pht. Trong đó, công vic trước mắt cần phải làm thống nhất việc học tập, nghiên cứu, biên tập, sáng tác nhất việc thực hành giới luật trong tăng chúng18.
Cũng xuất phát từ chủ trương thống nhất giáo dục, năm 1936, hòa thượng Thiện Quả đã đưa ra một chương trình đào tạo nhằm áp dụng chung cho các Phật học đường trong cả nước với ba cấp học, trung học cao học. Theo hòa thượng thì ở mỗi Phật học đường phải Nam học đường, Nữ học đường. Các học sinh theo học sẽ không phân biệt tăng đồ hay tín đồ, nam hay nữ. Cấphọc trung học phải đóng học phí, còn cấp cao học không phải đóng. Đối với các nam học tăng, nếu quy tụ đủ 20 người sẽ tiến hành mở lớp. Trong đó, 10 học ng nam sẽ chuyên vPht học và học cho đến khi đủ điều kiện cấp bằng tốt nghiệp. 10 học sinh còn lại sẽ học các cấp học trung học, sau khi tốt nghiệp, số học sinh này sẽ chuyển sang nghiên cứu y học khi đủ điều kiện Hội sẽ cấp bằng tốt nghiệp về y khoa. Khi các học sinh khóa đầu tiên ra trường thì Hội sẽ lấy số tiền tiết kiệm 1.000$ đem ra lập nhà in: Một cho Hội đỡ tiền thuê mướn nhân công, hai Hội sẽ nhận thêm các phần việc bên ngoài để thêm kinh phí hoạt động. Lại lập Y viện cho học sinh đã tốt nghiệp bên y ra giúp việc. Làm như vậy thì học


  1. Hải Ấn (1937), “Những việc cần phải làm của thanh niên học Phật”, Duy Tâm Phật học, số 18, tr.314-317.
 

sinh được thông đạo lí, được nghề nghiệp, được việc làm, y học cũng một phương tiện để cứu đời, cứu người. Đối với nữ học sinh cũng để một phần chuyên về Phật học học đến khi tốt ng- hiệp Phật học, còn một phần tín đồ nữ học lấy bằng học trung học. Số nữ học sinh sau khi tốt nghiệp trung học thể chuyên về y học hoặc chuyên về nữ công gia chánh học cho đến khi đủ điều kiện để cấp bằng nữ công tốt nghiệp. Làm như vậy thì các nữ học sinh cũng sẽ nắm vững được đạo lí, được trọn công danh ngôn hạnh và trở tnh nhng người phncó đủ chức nghip. Trong Y viện, tăng thì chữa bệnh bên nam, còn ni thì chữa bệnh bên nữ. Còn về phần các tăng ni sinh sau khi đậu bằng Phật học tốt nghiệp rồi thì Hội phái đi các chùa giảng đạo (tức trở thành các giảng cho Hội), chùa nào đủ điều kiện thì nên dựng trường học, còn chùa nào không đủ điều kiện, không thể dựng được trường thì Hội phái người đến thuyết pháp một năm ít nữa ba kì, làm như vậy đến khi Phật học lan rộng ra, được nhân tài rồi thì các hội Phật giáo trong ba kỳ hiệp nhau xin phép chính phủ bảo hộ chính phủ Nam Triu được công cử một người cm quyn trong giáo hi và chỉnh đốn tòng lâm cho cổ phong trật tự19. Theo hòa thượng Thiện Quả, như vậy mới gọi một việc phổ tế lưỡng lợi Hội lạiđủ tài chính làm cơ sở chứ giữa thời kỳ kinh tế này người ta cứ trôngsức ngoi hthì m sao mà cho có cơ sở vng vàng được. Hòa thượng giải thích thêm: Người ta đươngtrong cái cảnh ngộhàn túng thiếutiền đâu đóng tiền học phí tiền ngoại cấp, không phânhạn, đóng trót cả đời; còn học sinh đến lúc ra trường thì chỉ biết đạo thôi chứ khônghưởng được một phần lợi ích của Hội, trong cái kiếp sống của con người lúc hiện thời thì tôi định chắc rằng họ không thể làm được20.thể nói rằng, đây một ý tưởng khá thú vị của Hòa thượng Thiện Quả bởi nó cho thấy được sự gắn liền giữa mục tiêu đào tạo với yêu cầu đầu ra của các học tăng. Tuy nhiên, điều đáng tiếc hòa thượng chưa được sự cụ thể hóa trong chương trình

  1. Thiện Quả (1936), “Luận về vấn đề chấn hưng Phật học ở nước ta”, Duy Tâm Phật học, số 7, tr.409-411.
  2. Thiện Quả (1936), “Luận về vấn đề chấn hưng Phật học ở nước ta”,... Tlđd, tr.409-411.

đào tạo của mình như: Mỗi cấp học sẽ bao gồm bao nhiêu năm, số lượng đơn vị học trình cho mỗi cấp như thế nào...
Đến năm 1937, dựa theo ý tưởng vận động các tổ chức Phật giáo trong cả nước thống nht để tnh lp Pht giáo Tng hi của hòa thượng Huệ Quang, Ban Trị sự Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã cho xây dựng một chương trình hot động gồm 6 đim căn bn. Trong đó, điều thứ hai đề cập đến việc cử ra một Ban Đạo Giáo dục. Tch nhim của Ban này là để tuyn chọn các vpp sư, giáo viên; tham gia giảng dạy, thuyết pháp cấp bằng cho các học tăng khi mãn khóa; xây dựng chương trình đào tạo cho các Phật học đường từ Tiu học, Trung học cho tới Đại học; xut bn Pht học giáo khoa để dùng trong các chùa các trường học21. Tiếp đến vào năm 1938, Hội Lưỡng Xuyên Phật học cũng đã đưa ra một chương trình đào tạo chung cho toàn bộ các Phật học đường trong toàn quốc. Chương trình được tổ chức trong vòng 7 năm với ba lớp là: Sa di, kheo Cao đẳng kheo. Lớp Sa di sẽ trải qua 2 năm, năm thứ nhất dạy các học phần ni, Sa di, Oai nghi các luật khác; năm hai dạy Phật giáo học khóa bổn chú giải (Dương Nhân Sơn trước thuật), Phật học Đại cương, Đại thừa khởi tín luận. Lớp kheo sẽ trải qua 3 năm, với các học phần tương ứng cho năm 1 Bát tông tinh nghĩa, năm 2 Bát tông tu trì, năm 3 Bát tông duy quán quy nhất. Lớp Cao đẳng kheo sẽ trải qua 2 năm gồm: Năm 1 Ấn ĐTriết học, Tây Dương Triết học, Trung Hoa Chu Tử; m 2 là Trung Tây các giáo cứu tế pp; y học, công ngh,... các đa chuyên môn diễn giảng pháp22. Tuy nhiên, do chí nguyện thành lập Phật giáo Tng hi kng tnh công nên chương trình giáo dục này đã không thể triển khai thực hiện.
Sau đó, Hòa thượng Huệ Quang đã đưa ra một chủ trương đào tạo tăng tài mới. Theo đó, mỗi tỉnh phải lập một trường tư quy chánh tương tự như Sở học chánh Nội, dạy từ lớp đồng ấu



  1. Huệ Quang (1937), “Vấn đề Phật học Tổng hội”, Duy Tâm Phật học, số 25, tr.37-40.
  2. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1938), “Ý kiến đồng nhơn”, Duy Tâm Phật học, số 29, tr.220-223.
 

cho tới học hết cấp trong mỗi tỉnh (6 năm). Tại các tỉnh thành lớn như Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ,... thì lựa chọn các ngôi chùathành thị làm trường trung học từ năm thứ nhất đến khi lấy được bằng Thành chung23 (4 năm). Còn trường đại học sẽ được tổ chức tại các trung tâm như Nội, Huế, Sài Gòn (3 năm). Học tăng theo học các trường này con em của các nhà đạo tâm, hay những gia đình lòng hộ trì chánh pháp nhiệt tâm muốn bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Các em sẽ phải đóng học phí theo quy định chung của nhà nước. Đối với những em hoàn cảnh khó khăn nhưng chất thông minh tinh thần ham học thì Hội sẽ dùng quỹ khuyến học để chu cấp. Từ tiểu học cho đến đại học, dù ở cấp nào thì mỗi tuần các học sinh cũng phải 3 khóa học Phật hai buổi nghe thuyết giảng về luânđạo Phật (thứ năm chủ nhật)24. Theo Hòa thượng Huệ Quang, nếu thực hiện được chương trình giáo dục như trên thì mới thực hiện được chủ nghĩa chấn hưng Phật giáo, mới phổ cập được Phật giáo trong dân gian, mới bài trừ được vấn nạn thất học xây dựng được những người xuất gia chân chính, thông minh, mẫn trực, những người tại gia thì tín ngưỡng uyên thâm.
thể thấy rằng, chương trình đào tạo Hòa thượng Huệ Quang đề xuấttrên nhiều điểm tương đồng so với chương trình giáo dục Pháp - Việt, được chính quyền thực dân áp dụng chungViệt Nam từ năm học 1937 - 1938. Tương đồngcấp học (3 cấp),việc xây dựng quy mô trường dựa theo quy mô các cấp học (từ huyện, tỉnh đến khu vực), ở thời gian đào tạo 13 năm. Điểm khác biệt Ngài đã chủ trương bỏ cấp Cao đẳng Tiểu học để thay vào đó là cp Trung học và cp Trung học được thay bng Đại



  1. Hệ thống giáo dục phổ thông Pháp - Việt3 bậc với chương trình 13 năm: Bậc Tiểu học 6 năm gồm lớp Đồng Ấu, Dự bị,đẳng, lớp Nhì năm thứ nhất, lớp Nhì năm thứ hai, lớp Nhất. Bậc Cao đẳng Tiểu học 4 năm. Học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học còn gọi bằng Thành chung. Phải bằng Thành chung mới được dự thi lên bậc Trung học tức bậc tài. Bậc Trung học 3 năm, còn được gọi bậc tài Pháp-Việt.
  2. Huệ Quang (1938), “Phật pháp bất li thế gian giác”, Duy Tâm Phật học, số 31, tr.295-
298.
 

học. Tiếp đến là ngoài những kiến thức nền chung thì học sinh còn phải tham gia học Phật pháp thực hiện các nghi thức, nghi lễ bản của Phật giáo. Đây chính điều Ngài mong muốn xây dựng để giữ vững được những sắc thái riêng của nền giáo dục Phật giáo so với các trường Pháp - Việt đương thời. Ngày 1/6/1938, Ban Trị sự hội Lưỡng Xuyên Phật học đã cho triển khai thực hiện chương trình này bằng việc đứng ra vận động các tăng ni, Phật tử, các nhà hảo tâm tham gia đóng góp cổ phần để xây dựng Thiền Na học hiệu. Mỗi cổ phần giá 10 đồng. Bắt đầu từ Trà Vinh sẽ thành lập Lưỡng Xuyên Thiền Na học hiệu dạy từ đồng ấu đến học sau đó lan dần sang các tỉnh. Điều lệ quy tắc của Na học hiệu cũng đã được xây dựng dựa theo nội quy chung của nền giáo dục Pháp - Việt đương thời. Tuy nhiên, hoạt động này của Hội Lưỡng Xuyên Phật học vẫn không thu được kết quả như mong đợi. Do vậy hai khóa học tiếp theo được tổ chức từ sau năm 1940, Hội Lưỡng Xuyên Phật học vẫn áp dụng chương trình đào tạo cũ (1936).
Từ sau hai khóa học này, các Phật học đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật học gần như bị đóng cửa. Nhiều nội dung của công cuộc chấn hưng Phật giáo do Hội triển khai cũng buộc phải chấm dứt hoạt động. Đây cũng chính thực trạng chung của các hội đoàn Phật giáo trong cả nước lúc bấy giờ. Nguyên nhân chủ yếu do gặp phải những khó khăn về tài chính, vấn đề nhân sự; nhất những biến động chung của tình hình thời cuộc lúc bấy giờ. Thời điểm này, cả nước đang dồn toàn bộ nhân lực vật lực để chuẩn bị cho cao trào khởi nghĩa giành chính quyền. Ưu tiên hàng đầu của Việt Nam lúc này vấn đề độc lập cho dân tộc tự do cho nhân dân. Do đó, nhiều tăng ni, Phật tử đã tạm thời xếp bút nghiên để đi theo tiếng gọi của sông núi, nhiều tổ chức Phật giáo cứu quốc được hình thành nhằm đáp ứng lời hiệu triệu thiêng liêng của Tổ quốc. Hoạt động chấn hưng Phật giáo Việt Nam lúc này cũng đã tạm thời gác lại để tập trung cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
  1. KẾT LUẬN
Như vậy thể thấy rằng, dù thành lập phần muộn hơn so với
 

các tổ chức Phật giáo đương thời, song kể từ khi ra đời, Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã không ngừng nỗ lực để triển khai một cách hiệu quả các hoạt động chấn hưng, cải cách Phật giáo. Riêng đối với hoạt động đào tạo tăng tài của Hội Lưỡng Xuyên Phật học, bước đầu thể rút ra một số nhận xét bản như sau:
Th nhất, hoạt động giáo dục của Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã góp phần đào tạo ra nhiều thế hệ tăng tài vững chãi về mặt kiến thức Phật học lẫn thế học để tham gia gánh vác trách nhiệm cho quá trình chấn hưng Phật giáo miền Nam giai đoạn từ sau năm 1945. Đặc biệt từ sau khi Hội Phật học Nam Việt ra đời (1950), Giáo hi Tăng già Nam Vit được tnh lp (1951) và Tng hi Pht giáo Việt Nam di chuyển trụ sở từ chùa Từ Đàm, Huế vào chùa Phước Hòa (sau chùa Lợi, Sài Gòn, 1956), thì các tăng ni sinh trưởng thành từ các Phật học đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật học lại càng nhiều đóng góp hơn cho các hoạt động Phật sự tại miền Nam lúc bấy giờ. Không chỉ việc tiếp tục phát huy những thành tựu của công cuộc chấn hưng vào trong công cuộc kiến thiết các Phật học đường, Phật học viện, Viện nghiên cứu, vào trong công tác xây dựng hệ thống tổ chức Gia đình Phật tử, các quan y tế, từ thiện,... các tăng ni, Phật tử còn nhiều đóng góp tích cực để giữ vững sự vẹn toàn của Đạo pháp trước các chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Sài Gòn đương thời. Nhìn lại toàn bộ diễn trình như vậy để thấy được rằng, việc đặt công tác giáo dục đào tạo tăng tài lên vị trí hàng đầu một chủ trương cùng đúng đắn của Hội Lưỡng Xuyên Phật học. Bởi chính nhờ chủ trương này đã tạo lập được một nền tảng hết sức vững chắc cho sự phát triển của Phật giáo Việt Namnhững thời điểm tiếp theo. Bên cạnh đó, nếu quan sát thật kỹ tư duy đường lối giáo dục của Hội Lưỡng Xuyên Phật học thì chúng ta cũng sẽ nhận thấy được sự thức thời của tổ chức này. Trong bi cnh còn gp nhiu kkn cho vic xây dựng trường lớp một cách đầy đủ, tiện nghi hay tuyển chọn được những vị giảng khả năng, đức độ thực sự để tham gia giảng dạy, Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã không ngần ngại gửi các tăng ni sinh đi đào tạonhững nơi điều kiện thuận lợi chất 
lượng tốt hơn. Kế đó việc tìm tòi, nghiên cứu tiếp thu một cách nghiêm túc những thành quả tiêu biểu từ nền giáo dục Pháp - Việt, từ các Phật học đường của Hội An Nam Phật học để kiện toàn chương trình đào tạo; việc tổ chức các cuộc thi sát hạch đầu vào, đầu ra nhằm nâng cao chất lượng cho các học tăng hay việc đề cao vai trò của chữ Quốc ngữ cùng công tác Việt hóa kinh sách trong công tác giáo dục... Đặc biệt chủ trương hình thành viện nghiên cứu Phật học chuyên sâu để bổ trợ cho công tác giáo dục. Chúng tôi cho rằng, đây thực sự một lối tư duy rất tiến bộ cho đến hiện nay thì chủ trương này vẫn còn nguyên vẹn giá trị.
Th hai, Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã nhiều cống hiến quan trọng cho sự hình thành nền giáo dục tân học Phật giáo - một nền tảng căn bản để tạo nên diện mạo của nền giáo dục Phật giáo Việt Nam như hiện nay. Điều này được minh chứng cụ thể qua việc xây dựng hệ thống trường lớp một cách bài bản; qua sự hình thành các cấp học, từ tiểu học, trung học cho tới đại học; qua nội dung các học phần trong chương trình đào tạo; qua việc tổ chức các cuộc khảo thí, sát hạch đầu vào đầu ra; qua các buổi khai giảng, bế giảng chu cấp học bổng cho các học tăng; hay việc tuyển chọn các học tăng thành tích tu học tốt để cử đi đào tạo nâng cao... Đặc biệt sự hình thành Ban QuảnPhật học đường nhằm theo dõi đảm bảo cho các chương trình đào tạo được triển khai một cách đồng bộ trong toàn hệ thống giáo dục của Hội. Nếu thoạt nhìn thì sẽ thấy đây những hoạt động rất đỗi quen thuộc với môi trường của chúng ta hiện nay. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh lúc bấy giờ thì để làm được những công việc như vậy quả một bước đột phá về mặt tư duy hành động.
Th ba, mặc đã rất nhiều nỗ lực trong công tác đào tạo tăng tài, song những thành quả Hội thu nhận được nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được sự kỳ vọng. rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Đầu tiên phải kể đến Hội chưa xây dựng được một chương trình đào tạo thực sự hoàn thiện, cũng như chưa quy tụ được một đội ngũ giảng các nhà giáo khả năng tham gia 
giảng dạy kiến thức Phật học. Về phần giảng sư, theo như miêu tả của hòa thượng Khánh Hòa thì ở Nam Bộ lúc này chỉ còn đôi ông bạn học rộng hiểu xa, nhưng lại rảinơi Lục châu (Lục tỉnh Nam Kỳ
- TG giải thích) chưa biết có ai đồng chí nhiệt thành đề xướng thực hành cái phương pháp ấy25. Còn về giáo viên, những khó khăn trong các sinh hoạt của đời sống hội đã buộc họ phải chú trọng nhiều hơn đến các lợi ích của vật chất.rất nhiệt thành với công tác giáo dục đào tạo, rất muốn quy tụ một đội ngũ giáo viên lòng nhiệt thành Đạo pháp nhưng Hội Lưỡng Xuyên Phật học cũng phải ngậm ngùi trước thực trạng rằng: Gần đây các nhà giáo chỉ cốt lấy lương hướng, bổng lộc làm kế sinh nhai; còn các học giả thì thiên trọng về khoa cử, công danh, ai cũng lấy cái chủ nhĩa nhân, vinh thân, phì da, sung thê ấm tử làm đầu... Nghĩa từ lúc còn học trò cho đến ra làm thầy giáo, đốc học hay làm quan, làm dân, ai cũng thiên trọng cái chủ nghĩa kiếm tiền, cố lấy danh vị, quyền thế làm đầu”26. Kế đó sự thiếu đồng nhất trong các chương trình phương pháp chấn hưng Phật giáo giữa các tổ chức Phật học ở miền Nam đương thời. Dù trong mục đích thành lập, tổ chức nào cũng nhấn mạnh đến vấn đề bảo tồn chánh pháp đào tạo tăng tài. Song trong quá trình triển khai thực hiện, nhiều tổ chức chưa sự quan tâm đầu tư xứng đáng cho công tác đào tạo tăng tài. Chẳng hạn như với Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, tổ chức này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc dùng báo chí Việt hóa kinh sách để phổ biến giáonhà Phật; Hội Phật học Kiêm tế thì chú trọng đến việc thực hành kinh bang tế thế, đến công tác từ thin, đến vic hủy bỏ truyn thống đu trọc áo vng, theo gương phái n ng Tomomatsu ở Nht Bản27... Chính sự thiếu thống nhất này đã làm tổn thương nghiêm trọng tinh thần lục hòa trong nội bộ tăng giới Nam Bộ lúc bấy giờ làm giảm lòng nhiệt thành tham gia chấn hưng của các tăng ni, Phật tử. Trong một bài viết đăng tải trên tờ Duy Tâm Pht học, CĐo


    1. Khánh Hòa (1929), “Tự Trần”, Pháp Âm, số 1, tr.18.
    2. Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1939), “Thể lượng tăng già”, Duy Tâm Phật học, số 39, tr.116-120.
    3. Xem thêm Nguyễn Lang (1994), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Nội.
 

Trần đã bộc bạch rằng, trước kia chưa thành lập được các tổ chức Phật học thì ai cũng phàn nàn chư sơn rời, tăng đồ thất học. Nay đã sự hợp tác để xây dựng hội quán, tàng kinh, cho đến học đường, tòa soạn, vẫn thiếu người tham gia. Lẽ ra chúng ta nên lui tới hội quán để cùng nhau chăm nom việc Hội, để tuyên truyền giáo hóa, để dạy bảo lớp sau hầu tăng tài hoằng dương Phật pháp. Vậy mới phải cái nghĩa vụ chung nhau lập Hội, mới đúng với bổn phận hoằng pháp lợi sanh. Nếu đã đến công rồi này chúng ta hãy còn thị phi nhân quả, lánh nặng tìm nhẹ thì biết đến bao giờ hết cái nạn tăng đồ thất học, bao giờ cho Phật giáo thịnh hành28. Không chỉ sự thiếu thống nhất trong các chương trình chấn hưng tình trạng biệt lập môn đình cũng làm cho công tác đào tạo tăng tài gặp rất nhiều khó khăn. Cao Đạo Trần viết tiếp: “Đã mấy trăm năm rồi, lớp nào cũng chỉ khu khu cái độc thiện, riêng chùa, riêng phận, đã thấy bổ ích cho Phật giáo nước nhà chưa. Đạo của người mới truyền đến sau (ý chỉ Công giáo - TG giải thích) việc cũng giá trị, ảnh hưởng với nước nhà, giúp ích cho quần chúng. Còn đạo Phật của chúng ta ai cũng chủ trương cứu khổ, cứu nạn đến nay sao vẫn còn như ngoài hội, chưa được mấy ảnh hưởng đến sự gì? Vậy phải biết sự riêng chùa, riêng phận đó cũng một nguyên nhân trầm trệ”29. một nguyên nhân nữa cần phải đề cập đến là sự thay đổi về chữ viết. Ngôn ngữ sự phản ánh của tư duy, ngôn ngữ thay đổi thì nó sẽ kéo theo những sự biến động rất lớn trong các phương thức biểu đạt vấn đề. Đó chưa kể đến việc Phật giáo Việt Nam giai đoạn này phần lớn tiếp cận kinh kệ chủ yếu bằng chữ Hán. Do đó, sự thay đổi về ngôn ngữ đã tạo nên những trở ngại rất lớn đối với chương trình đào tạo của Hội Lưỡng Xuyên Phật học nói riêng nền giáo dục Phật giáo Việt Nam giai đoạn này nói chung.




    1. Cao Đạo Trần (1936), “Người học Phật cần phải biết việc cần yếu nên làm”,... Tlđd, tr.136-140.
    2. Cao Đạo Trần (1936), “Người học Phật cần phải biết việc cần yếu nên làm”,... Tlđd, tr.136-140.
 



Tài liệu tham khảo
Hải n (1937), “Nhng vic cn phải làm của thanh niên học Pht,
Duy Tâm Phật học, số 18, tr.314-317.
Trn Văn Giác (1938), “Bài din văn đọc sau bữa tic lễ bãi trường,
Duy Tâm Phật học, số 28, tr.190-193.
Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), Duy Tâm Phật học, số 1, trang phụ bìa.
Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Đôi lời biểu lộ”, Duy Tâm Phật học, số 1, tr.14-16.
Trn Văn Giác (1935), “Bài din văn lúc khai đại hi, Duy Tâm Phật học, số 2, tr.67.
Khánh Hòa (1929), “Tự Trần”, Pháp Âm, số 1, tr.18.
Hi Lưỡng Xuyên Pht học (1935), “Điu lệ và Quy tc, Duy Tâm Phật học, số 2, tr.96-108.
Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1935), “Kết quả cuộc thi chọn sĩ tử lễ khai trương Thích học đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật học, Duy Tâm Pht hc, số 2, tr.85-91.
Hi Lưỡng Xuyên Pht học (1936), “LChu niên Đại hi, Duy Tâm Phật học, số 6, tr.316.
Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1937), “Đại hội đồng thường niên, ngày 28-29/3/1937, Duy Tâm Pht hc, số 19, tr.399-410.
Hi Lưỡng Xuyên Pht học (1937), “Kính cáo, Duy Tâm Pht hc, số 19, tr.413.
Hôi Lưỡng Xuyên Pht học (1938), Ý kiến đồng nhơn, Duy Tâm Phật học, số 29, tr.220-223.
Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1939), “Muốn tăng tài cần đào tạo ngay các đo tiu, Duy Tâm Pht hc, số 38, tr.58-60.
 

Hi Lưỡng Xuyên Pht học (1939), Thể lượng ng già, Duy Tâm Phật học, số 39, tr.116-120.
Nguyễn Lang (1994), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Nội.
Dương Thanh Mừng (2014), “Thực dân Pháp với vấn đề chấn hưng Pht giáo Vit Nam trong nửa đu thế kXX, Nghiên cứu cu Âu, số 11.
Dương Thanh Mừng (2016), “Sự hình thành các mô hình tổ chức giáo hội trong phong trào chấn hưng Phật giáo miền Nam Việt Nam (1931 - 1951), trong Việt Nam hc: Nhng vn đề lí thuyết thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. HCM.
Thiện Quả (1936), “Luận về vấn đề chấn hưng Phật học ở nước ta”,
Duy Tâm Phật học, số 7, tr.409-411.
Huệ Quang (1937), Vn đề Pht học Tng hi, Duy Tâm Pht học, số 25, tr.37-40.
Huệ Quang (1938), “Pht pp bt li thế gian giác, Duy Tâm Pht học, số 31, tr.295-298.
Trí Thủ (1936), Tại gia và xut gia, Duy Tâm Pht hc, số 4, tr.245- 254.
Cao Đạo Trần (1936), “Người học Phật cần phải biết việc cần yếu nên làm, Duy Tâm Pht hc, số 14, tr.136-140.


144
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây