11. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Thứ sáu - 06/12/2019 05:32
TÍNH ĐẶC THÙ CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
TS.ĐĐ. Thích Tín Hòa*
 
Chúng ta nên đứng trên phương diện giáo dục để đi nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, từ đó đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu những phương pháp giáo dục mang tính đặc thù của hệ thống giáo dục Phật giáo.
  1. DN NHẬP
Phật giáo chúng ta được người thế gian xem như một tôn giáo, nhưng Phật giáo lại không hoàn toàn giống với những tôn giáo bình thường đang mặt trong hội chúng ta. Phật giáo không chỉ cần mọi người đặt niềm tin vào mình, quan trọng hơn hết sự hướng dẫn cho mọi người tu học, để chuyển hóa thân tâm, một hệ thống giáo dục hướng thiện cho mọi người.
vậy, khi chúng ta tin theo Phật, nương theo sự chỉ dạy của Pht để tu học, đó cũng được gi là học Pht. Pht giáo đc bit chú trọng về sự tu học, về ứng dụng thực tiễn vào đời sống thực tại. Nói một cách khoa học hiện đại hơn, Phật giáo cũng một loại hình giáo dục, đầy đủ cả một hệ thống hoàn thiện, với những hình thức tổ chức chặt chẽ nghiêm mật.



*. Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh.
 

vậy, cần đứng trên phương diện giáo dục để đi nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, từ đó đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu những phương pháp giáo dục mang tính đặc thù của hệ thống giáo dục Phật giáo.
  1. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Phật giáo một hệ thống giáo dục, vậy thì sự giáo dục của Đức Phật gì? Chúng ta cần phải tu học những nội dung gì? Mục tiêu đạt đến của giáo dục Phật giáo gì? Những phương pháp giáo dục mang tính đặc thù của giáo dục Phật giáo?
Nền tảng căn bản quan trọng nhất của Phật giáo đó ba món học Giới-định-tuệ. Ba món học này ý nghĩa giống như ba món giáo dục của hội Đức dục, Thể dụcTrí dục. Cho nên, trong quá trình học Phật cũng được gọi học nhân cách làm người, mục tiêu thành Phật. Quá trình tu học này được tiến hành cho đến khi đạt đến kết quả cuối cùng, trở thành một con người nhân cách hoàn thiện, được gọi chứng đắc thánh quả, cũng được chứng nhận tốt nghiplà Vô học. Điu đc bit là, Đức Pht được tôn xưng Thiên nhân (thầy của trời, người), Đạo (người thầy hướng dẫn); còn những con người tin theo Phật tu học theo sự hướng dẫn của Phật, được gọi Phật tử (đệ tử Phật).
Trong ng đệ tử Pht cũng được chia ra nhiu cp bậc có trình độ nhận thức khác nhau. Cấp tiểu học, trung học thì chúng đệ tử Thanh Văn, Duyên giác, cp đại học thì có chúng đệ tử Bồ Tát. Nếu đứng trên phương diện hình thức để phân biệt thì chúng xuất gia chúng tại gia; chúng xuất gia thì Tỳ Khưu Tỳ Khưu Ni, chúng tại gia thì Ưu Tắc Ưu Di.
thể thấy mối quan hệ giữa đức Phật hàng đệ tử của ngài mối quan hệ giữa Thầy Trò, không phải như những mối quan hệ chủ tớ, hoặc đấng bề trên bề tôi của các tôn giáo khác. Như vậy, thể nói rằng Phật giáo một loại hình giáo dục, hệ thống giáo dục đào tạo chặt chẽ với những phương pháp giáo dục nhân cách con người tính đặc thù mang tính giáo dục hội cao.
 
 
    1. Mục tiêu giáo dục của Phật giáo
Nếu nói một cách bao quát, tất cả các pháp thế gian đều Phật pháp. thể nói rằng, tất cả mọi kỹ năng, đức tính, tri thức, đạo đức v.v… những vấn đề hướng đến sự tốt đẹp, hoàn thiện của thế gian đều nằm trọn trong phạm vi giáo dục của Đức Phật. Mục đích thiết yếu quan trọng Đức Phật hướng dẫn cho học trò của mình hướng đến, đó sự giác ngộ hoàn toàn, tức đạt đến cảnh giới hoàn thiện về nhân cách, hướng đến sự hoàn hảo không khiếm khuyết hoàn toàn trọn vẹn.
nghĩa của chữ Phật bậc giác ngộ, tức tôn xưng con người khi đã đạt đến sự thông hiểu hoàn toàn, rốt ráo về thật tướng của các pháp, liễu ngộ về chân đế của vạn pháp nhân sinh trụ. Do đó, sự giáo dục của Đức Phật cũng không nằm ngoài mục tiêu của sự giác ngộ rốt ráo. Ngài đã dùng nhiều phương tiện quyền xảo, thích ứng với mọi căn của hết thảy chúng sanh, để thực thi phương pháp giáo dục của mình, nhằm hướng dẫn chỉ dạy cho mọi người tu học, để đạt đến mục đích cuối cùng của sự giác ngộ thành Phật.
Do vậy, mục đích giáo dục Phật giáo hướng đến sự thông hiểu hoàn toàn (giác ngộ). Dùng thuật ngữ của giáo dục hiện đại nói, thể bảo rằng Phật giáo sự giáo dục nhân cách hoàn thiện; thành Phật chính sự hoàn thành rốt ráo nhất của nhân cách con người.
    1. Nội dung giáo dục của Phật giáo
Học Phật chính học tập theo sự hướng dẫn của Phật, Phật cũng chính là biểu tượng phạm cao nhất của chúng ta. Tin hiểu hoàn toàn về nhân cách đạo đức của Phật, thì mới thể tôn Phật làm thầy chỉ dạy tiếp nhận những sự giáo dục, chỉ dạy của ngài.
Nói đến nhân cách đạo đức của Phật, từ xưa đến nay trong nhiều kinh đin thường ca tụng Pht là “Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi, hay là Trí đức, Ân đức, Đon đứcv.vvới nhng cách nói và xưng tụng khác nhau. Đại Thái thì hợp chung lại cách nói ràng đy đủ hơn là “Đại bi, Đại trí, Đại hùng lực. Cách nói này có thể phân ra diễn giãi như sau:
 
 
      1. Th nhất, “Đại bi” tức đại từ bi - tấm lòng yêu thương rộng lớn, bình đẳng không phân biệt, thương yêu hết thảy mọi loài, khiến cho chúng sanh lìa khổ được an vui, xa lìa vọng chứng được chơn như, chuyển hóa phiền não nhơ nhớp thành thanh tịnh Niết-bàn.
Khi chúng sanh đang chìm đắm trong minh điên đảo, chưa tiếp nhận được sự hóa độ của Phật, thì ngài không từ nan hóa độ bất cứ chúng sanh nào, chỉ cần họ nhân duyên được hóa độ, sớm muộn cũng được Phật giáo hóa tu tập chuyển hóa thân tâm. Cho nên, tình thương sự hóa độ của Phật luôn bình đẳng, luôn xem mọi chúng sanh như con của mình.
      1. Th hai, “Đại trí” tức đại trí tuệ - trí tuệ lớn của Phật, hay còn gọi Đại giác, sự nhìn nhận sáng suốt, rốt ráo về thật tướng các Pháp, về thể tánh chơn như; sự liễu ngộ về chơn nghĩa của cuộc đời, sự thông đạt về hết thảy sự lý của trụ; không lìa thế gian thành chánh giác, rốt ráo cùng tận, cho nên trí tuệ này hoàn toàn khác xa với tri thức tầm thường của người đời.
      2. Thứ ba, “Đại hùng lực” tức sức mạnh cùng lớn - lý tưởng chung cao nhất của các tôn giáo tại Ấn Độ, duy chỉ Phật mới thể biểu hiện sức mạnh này một cách toàn vẹn. Bởi do, đại bi, đại trí của Phật thâm sâu rộng lớn, thì mới thể hiển bày được sức mạnh cùng đó, như nói Phật “Thập lực” hay “Tứ sở úy” v.v…
Đứng từ phương diện giáo pháp sự tu chứng của Phật nói, sự giác ngộ dứt trừ mọi lậu hoặc phiền não, được gọi pháp thánh đạo pháp chướng đạo; Phật bậc giác ngộ viên mãn, không một chút do dự đem giáo lý truyền cho cuộc đời. Do đó, “Tứ sở úy” - tức bốn loại niềm tin tuyệt đối vào chính mình, không một chút lo lắng sợ sệt. vậy, đức Phật được tôn xưng “Nn trung sư tử, và lời Pht thuyết pp là tiếng sư tử hống.
Đồng thời, như thân, khẩu, ý - tam nghiệp của Phật bất luận ở thời gian nào, không gian nào, trong hội chúng nào đều luôn mẫu mực, không sai lầm. Cho nên, không cần phải che giấu hay lo lắng về khả năng phạm phải những sai sót, quá chú ý mình để sửa
 

đi mình, còn được gi là Tam bt h. Đây chính là sự tự tin tuyt đối vào sự chân, thiện, mỹ;như thế nào cũng không thể làm cho lung lay, thay đổi.
Nếu đứng từ góc độ từ bi sự lợi lạc quần sanh của Phật nói, Phật đủ mười sức mạnh (Thập lực), thể đẩy lui diệt trừ tất cả mọi ma làm chướng ngại, để hoàn thành đại nghiệp lợi lạc cho chúng sanh. Đức Phật lượng Bi nguyện, ngày đêm tinh tấn không ngừng, đây đều sự biểu hiện của tinh thần Đại hùng lực.
Tóm lại, công đức của Phật lượng không thể nói hết được. Như đối với các pháp thế gian nói, Đại trí thể trí tuệ chân thực nhất, Đại từ bi nhân cách đạo đức đúng đắn nhất, còn Đại hùng lực lại năng lực sức mạnh đại nhất. Cũng thể nói rằng, đây những phương diện trí tuệ, tình cảm ý chí rốt ráo viên mãn nhất. Tuy nhiên trong công đức của Phật, ba loại đó cũng tức một loại thôi, không ngăn ngại nào. Chẳng qua từ ba góc độ khác nhau nói cho rõ, để dễ dàng hiểumột cách đúng đắn nhất, toàn diện nhất về nhân cách đạo đức của Phật.
    1. Phương pháp giáo dục của Phật giáo
Như trên đã trình bày, học Phật chính nương theo nhân cách đạo đức toàn diện của Phật để tu học. Nên học tập theo ba nội dung đạo đức của Phật, chính ba phương hướng tu tập của đức Phật Tín nguyện, Từ Bi Trí huệ. Nhưng ba phương diện này lại y cứ vào ba loại đặc tính thù thắng vốn của bản tánh chúng sanh ức niệm, phạm hạnh kiên nhẫn, khiến cho chúng được trở nên thanh tịnh an lạc, cũng như những thăng tiến phát triển trong cuộc đời.Chúng ta thử tìm hiểu lược xem ba đặc tính thù thắng đó như thế nào:
      1. Bản tính con người vốn sự thù thắng của Ức niệm (đây cái quan trọng nhất, trong tiếng Phạn thì con người nương dựa vào đây để cái tên gọi), tức con người trải qua sự tích lũy kinh nghiệm, thể khiến cho tri thức phát triển ngày càng cao. Nhưng tri thức của con người từ khi sinh ra đã mang nặng nhiều
 

chấp kiến. Con người luôn chấp vào cái tri thức của mình, dù đó những tri thức học được từ thầy hay bạn b, hoặc tự mình gặt hái được cũng đều những sự sai lầm.
thế cho nên, đứng trên phương diện thế gian, tri thức con người tất nhiên rất cần ích cho nhân loại, nhưng khi bị vướng vào sự chấp kiến, thiên kiến và biên kiến, từ đó, lại trở thành nhữngtưởng xấu xa sai lầm. Nhữngtưởng này không ngừng dẫn dắt chúng ta (cá nhân con người hay toàn hội) ngày càng lún sâu vào cái xấu ác và sự thối nát, mục rửa về nhân cách đạo đức. Do đó, cần phải tu học để đạt đến cái trí tuệ chân chánh của Đại thừa, từ đó làm cho tri thức được gột rửa trong sạch, thể thu nhận được những tri kiến đúng đắn với chântuyệt đối.
      1. Bản tính con người luôn tồn tại sự thù thắng của đức hạnh trong sạch, tức thể khắc chế được những ham muốnnhân, kiềm chế được những đòi hỏi về dục vọng tầm thường; hoặc hình thành nhân cách đạo đức thể hy sinh những lợi ích của cá nhân, sống mọi người, mọi loài. Nhưng trí tuệ con người thì quá nông cạn, thói tật xấu sựmuội thì nhiều, nên thế gian mới những con người với nhân cách thấp hn, thậm chí một cuộc sống đạo đức giả dối. vậy, chỉ học tập lòng từ bi, ngã, vị tha của Phật, đồng thời thực hiện tinh thần từ bi đối với mọi loài, làm vơi bớt đi nỗi khổ đau tăng thêm niềm vui hạnh phúc, thì đó mới được gọi nhân cách đạo đức hoàn thiện.
      2. Bản tính con người vốn sự thù thắng của lòng kiên nhẫn và nghị lực. Con người không những chịu đựng được gian khổ, khó khăn vất vả, còn tinh thần bác ái, thể hy sinh sự thanh bình, yên ổn chung của cả nhân loại. Nhưng do đường lối tư tưởng, tri thứcnhân nhiều sai lầm, cộng với những định kiến bảo thủ chấp chặt, dẫn đến đã những hành động sai trái, khiến cho lòng kiên nhẫn nghị lực đó biến thành nguyên nhân dẫn đến những khổ nạn loài người đang phải đối mặt như: Bùng nổ chiến tranh, chết chóc, môi trường bị tàn phá nghiêm trọng v.v...
Như khi chúng ta học tập sự tín nguyện của Đại thừa phát tâm
 

Bồ-đề. Phật pháp, chúng sanh khởi lên tín nguyện lớn lao cùng tận. Do đó, nương theo niềm tin kiên cố, khởi lên sự mong cầu giác ngộ; nương theo sự mong cầu giác ngộ, siêng năng tinh tiến tu học không lùi bước, đấy cũng chính nguồn gốc sức mạnh của hạnh nguyện tự giác giác tha. thế, học Phật không phải chuyện khó, chỉ cần nương theo ba đặc tính thù thắng của bản tánh con người, thì thể đi vào ba cánh cửa trọng yếu của Phật pháp, hoàn thành được nhân cách toàn diện như Đức Phật.
Phật tức sự vắng lặng, thanh tịnh của bản tánh con người khi tiến triển đến mức độ rốt ráo hoàn toàn viên mãn. Đây cũng chính phương hướng giáo dục hoàn thiện nhân cách từ con người đến quả vPht. Trong Nho giáo tương trợ cũng có ba đc tính, là Tam đt đức của Trung Dung như: Trí, Nn và Dũng, ba loại này gần vớitưởng của ba đặc tính Phật giáo nói trên. Ba pháp môn trọng yếu cần tu học của Phật giáo cũng tương tự vớitưởng Tam cương của Nho giáo, nhưng mức độ để đạt đến giác ngộ hoàn toàn, vng lng, tịch tịnh rốt o, thì duy nht chỉ có trong Pht giáo. Toàn bộ quá trình tu học để đạt đến tự giác giác tha được Phật giáo trình bày một cách đầy đủ ràng nhất.
Phương thức giáo dục hoàn thiện nhân cách của Phật giáo sự tự mình giác ngộ giúp người khác cùng giác ngộ, cũng chính sự giáo dục bản thân giáo dục người khác. Phương pháp tự giáo dục mình giáo dục người khác đều không phải chỉ đơn thuần truyền đạt tri thức, quan trọng sự giáo dục bản thân, đưa tri thức đi vào thực tiễn trong đời sống hằng ngày của con người. Sự giáo dục học tập đơn thuần của hội, chỉ sự truyền trao thu nhận một số tri thức nào đó, hoặc học tập những kỹ năng để phát triển duy trì cuộc sống bình thường, để đáp ứng những nhu cầu hưởng thụ ham muốn vật chất thôi, chứ không liên quan đến việc chuyển hóa thân tâm của mình ngày càng hướng thiện, trong sạch. Đó không phải ý nghĩa mục đích chân chính của sự giáo dục.
Quan điểm này, cả Phật giáo và Nho giáo đều có sự chung nhất,
 

cách nhìn nhận không khác nhau. vậy, y nghĩa quan trọng đích thực nhất của Phật giáo chính sự giác ngộ cuộc đời, khiến cho bản thân từ trong sựmuội của đời người tỉnh ngộ ra. Ch duy nhất sự giác ngộ bản thân, mới thể trở thành nguồn suối trí tuệ ngọt ngào, lòng bi nguyện tuôn chảy tận, tinh thần dũng mãnh tinh tiến không ngừng hướng thiện.
Trng m  của  giáo  dục  Phgiálà  sự  giác ngbn tn, chuyển hóa thân tâm của mỗi con người, chú trọng quá trình thực tiễn. Nếu như giáo dục rời xa thực tiễn, thì đó không còn phù hợp với tinh thần của Phật giáo. vậy, những trước tác học thuật hay nghiên cứu giáoPhật học, đều một mảng lớn của Phật giáo, nhưng quá đặt nặng về nghiên cứu thuyết học thuật, thì lại không được Phật giáo chú trọng cổ súy. Đứng trên phương diệnthuyết thực hành, thì Phật giáo thường đứng từ lập trường thực tiễn, để xác định mức độ của trí tuệ.
Như quá trình tu tập Bát chánh đạo, trước tiên phải tu tập Chánh kiến Chánhduy.
Quá trính giáo dục xuyên suốt của Phật giáo lấy trí tuệ để dẫn lối đi vào thực tiễn, lấy thực tiễn để khiến trí tuệ phát sinh; nương vào trí tuệ để dẫn lối cho những hành động của mình, cũng giống như mắt chúng ta nhìn được đường đi, thì mới thể cất bước di chuyển về phía trước. Đồng thời, nương vào thực hành để phát sinh trí tuệ, cũng giống như khi chúng ta đi về phía trước, thì mớithể phát hiện nhìn được mọi sự vật hiện tượng trước mặt mình. trí tuệ mới hành động việc làm đúng đắn, ngược lại hành động, việc làm đúng đắn thì mới khiế n trí tuệ phát sinh.
Khi càng trí tuệ thì hành động, việc làm của chúng ta càng đúng đắn chuẩn mực, khi hành động, việc làm càng đúng đắn chuẩn mực thì càng phát sinh nhiều trí tuệ. vậy, trong qua trình tu học này, mục đích cuối cùng đạt đến trí tuệ rốt ráo nhất, y theo sự dẫn dắt của trí tuệ tu học. Như Đức Phật được tôn xưng là “Minh hạnh túc, tức là đã đt đến srốt o và viên n của Trí tuệ Công hạnh.
 

Như vậy, thể thấy nền tảng giáo dục của Phật giáo lấy thực tiễn làm trọng, thực tiễn trước tiên cũng cần phải trí tuệ trước. Cho nên, những người học Phật phải lập trường vững vàng, để đi tìm cầu cái trí tuệ xuất thế gian, trí tuệ của Phật.
Tuy nói rằng, Phật giáo chú trọng thực tiễn, không chỉ sự truyền đạt tri thức suông. Nhưng trên phương diện giáo hóa, truyền đạt tu học Phật học, thì không thể không dùng đến ngôn ngữ văn tự, ngôn ngữ văn tự chính công cụ chủ yếu để tiến hành quá trình dy và học. Trình độ học vn kng thể rời ngôn ngvăn tự được. Từ xưa, Bồ-tát Di Lặc đã tóm lược quá trình tu học bao gồm: “B-tát cu pp, kng thể kng cn đến Ngũ minh. Ngũ minh chính năm loại học thuật một người đệ tử Phật cần phải tu học. Năm loại học thuật này bao gồm:
  • Thanh minh: Chính ngôn ngữ văn tự học, bao gồm ngôn ngữ, chữ viết, âm vận, âm nhạc, ngữ pháp v.v…
  • Nhân minh: Nhân nguyên nhân, do. Đây chính dựa vào cái đã biết để tìm cầu cái chưa biết, nâng cao trình độ khả năng phân tích biện luận. Về phương diện ngôn ngữ thuật hùng biện; về phương diệntưởng logic học luận học.
  • Y phương minh: Đây chính những khả năng về y dược, thuốc men, sinh học, sinh lý học, hóa học v.v…
  • Công xảo minh: những bô môn toán học, khoa học, vật lý học những tay nghề thuật công việc ứng dụng trong cuộc sống.
  • Nội minh: Bốn loại trên được gọi ngoại minh của thế gian; còn giáo dục Phật giáo là trên cả bốn loại học thuật trên, đóPhật học, cho nên được gọi nội minh.
Hai học thuật: Thanh minh Nhân minh trình độ tri thức chuẩn bị cho tiến trình tu tập để tự giác và giác tha. Thanh minh ngôn ngữ văn tự, còn Nhân minh phương pháp hùng biện,luận. Nếu không hai loại học thuật này, sẽ khiến cho tư tưởng con người bị xáo trộn, không phân đúng sai, chân đế hay tục đế. Không những thiếu đi khả năng giáo dục người khác, còn
 

tự cho mình phải, nhưng chưa chắc đã hoàn toàn chính xác. Do đó, muốn Phật giáo phát triển thì phải hướng những con người học Phật rn luyện, học tập hai học thuật này một cách vững chắc, không được xem nhẹ.
Về loại học thuật Y phương minh, thể khiến cho thân tâm được tiêu trừ các bệnh khổ, những đau đớn về thể xác tinh thần, được an lạc, thảnh thơi. Công xảo minh tận dụng các tiến bộ về thuật, để phát triển hội đem đến hạnh phúc vật chất cho con người. vậy, cho nên Y phương minh Công xảo minh chính khả năng thực tiễn của một vị Bồ-tát làm lợi lạc cho chúng sanh. Tiêu biu là ngài Thin tài Đng Tử, Trong quá trình tham cứu học hỏi với các bậc Đại thiện tri thức, ngài đều đến học hỏi với các nhà toán học, kiến trúc sư, bác sĩ, sư, nhà hóa học v.v… Như Bồ-tát Long Thọ một nhà hóa học nổi tiếng, chuyên chế tác các loại hương thơm và luyện kim, được sự hướng dẫn của Ngàibiết bao ngôi chùa thạch động hùng tràng với quy mô lớn được xây dựng nên, ngài được mệnh danh “Đệ nhất kiến trúc sư” của Ấn Độ.
Như thế thể thấy, nội dung giáo dục phật giáo, không chỉ là Nn qu, nguyên lý Tánh kng v.vmà còn có Ngũ minh. Chẳng qua từ trước đến nay, những người đệ tử Phật như chúng ta, đã ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Tiểu thừa, nên thường cho rằng bốn loại minh trước những pháp của thế gian, còn Nội minh mới chính pháp xuất thế. Nhưng không biết rằng, trongtưởng giáoĐại thừa thì thế gian xuất thế gian không phân biệt, thế gian xuất thế gian tuy hai một, không sự phân chia riêng lẻ như Thanh minh, hay Nhân minh v.v…, đều việc tu học xuất thế chung của thế gian thôi. Chân đế tục đế đều dung thông, không chướng ngại, đều chung một nội dung giáo dục của Phật giáo.
Trng m của Pht giáo là chuyn hóa nhng con người từ phàm phu,muội trở thành người giác ngộ, tức sự giáo dục khiến con người đạt đến nhân cách hoàn thiện nhất. Phương pháp chủ yếu giáo dục thực tiễn, nội dung giáo dục Ngũ minh như đã trình bày lược ở trên.
 

Nếu đứng trên thời gian hiện tại nói, thì hình thức thuyết pháp, khai thị, cũng như những tác phẩm Phật học của Phật giáo; hoặc những hình thức nghệ thuật âm nhạc; hay những hình thức nghiên cứu, thu thập, phiên dịch kinh điển v.v… chung quy đều những hoạt động văn hóa của Phật giáo. Nhưng đã những hoạt động giáo dục Phật giáo, thì không thể hạn hẹp trong những phạm vi như vừa nêu trên. Trong kinh đin thường nói vvn đề đức Phật hay tán thán, khen ngợi sự bố thí Pháp. Pháp những học thuyết, giáomang tính chơn lý, đức hạnh, lương thiện, lễ nghi v.v… Nói một cách khác hơn, thì Pháp hết thảy các pháp của thế gian xuất thế gian. Đệ tử Phật cần phải tu học các pháp này, hoằng dương Phật pháp, đó chính việc bố thí Pháp.
Bố thí Pháp thì thể phân làm hai loại:
  • Một bố thí Pháp xuất thế, như việc truyền bá, hoằng dương Nội minh, đem Phật pháp đi vào thực tiễn.
  • Hai bố thí Pháp thế gian, như việc giáo dục, truyền nội dung của Thanh minh, Nhân minh, Y phương minh hay công xảo minh v.v…
Như vậy thể thấy, hình thức bố thí pháp thế gian, chính quá trình giáo dục của thế gian. Từ góc độ Chân Tục không phân biệt của tư tưởng Đại thừa nói, thì việc giáo dục của thế gian cũng một phần của các pháp Đại thừa, đó cũng nền tảng sở để đưa con người đi vào con đường tu học tư tưởng Đại thừa. vậy, cho nên khi tiến hành các hoạt động giáo dục Phật giáo, thì không nên xem chúng như là những hình thức để thích ứng với thời đại, với hội, Phật giáo mang tính giáo dục, những hoạt động dạy học, đều trở thành một trong những hình thức tu học quan trọng của giáo dục Phật giáo.
  1. KẾT LUẬN
Những nội dung phương pháp giáo dục Phật giáo đã trình bày trên, trong Phật giáo đều gọi chung bố thí Pháp. bố thí Pháp công đức lượng, cho nên chúng ta phải không ngừng nổ lực


để truyền bá, hoằng hóa các pháp thế gian xuất thế gian. Bất luận đối với nhân hay tổ chức nào cũng đều công đức. Nhưng nếu như pháp bố thí một cách chân chánh, thì phải giúp con người diệt trừ khổ đau, phiền não, để tăng thêm niềm an lạc hạnh phúc.
Bố thí pháp cầu không vụ lợi, không điều kiện, cũng như không tâm niệm nhận được quả báo tốt lành làm việc giáo hóa. thế, việc lựa chọn theo con đường giáo dục Phật giáo, không những không nên những danh lợi, chức vụ, địa vị của bản thân; cũng không nên quá muốn phát triển mở rộng tổ chức giáo hội làm giáo dục. chúng ta hãy nên Chánh pháp, lợi ích của nhân loại, phát tâm tinh tấn đi theo con đường đem chánh pháp đến với mọi người, để họ được bớt khổ thêm vui, tiến dần về quả vị giải thoát, hoàn thiện về nhân cách đạo đức. Đây mới chính nhiệm vụ giáo dục đích thực của Phật giáo, tinh thần của những người làm công tác giáo dục Phật giáo cần phải có.



***



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây