10. Vai trò của Phật học trong giáo dục hướng thiện và trợ giúp xã hội - TS. Hoàng Thị Anh Đào

Thứ sáu - 06/12/2019 10:16
VAI  TRÒ CỦA PHẬT HỌC TRONGIÁDỤHƯỚNTHIỆVÀ TRỢ GIÚXàHỘI

TS. Hoàng Thị Anh Đào
 
 
Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên ở vùng Bắc Ấn Độ (Nepal ngày nay). Trải qua mấy ngàn năm, Phật giáo ngày càng được truyền rộng rãi sang các nước trên thế giới không ngừng phát triển. Phật giáo khuyên con người sống hướng thiện, lấy đức độ, lòng nhân từ để đối nhân xử thế, để cảm hóa cái ác, đó tưởng bác ái, nhân từ của đạo Phật. Thấm nhuần triết lý đó,Huế, rất nhiều ngôi chùa đã giáo dục hướng thiện trợ giúp hội bằng tấm lòng từ bi của mình. Nhiều nơi đã mở các khóa tu mùa hè, giúp con trẻ từ những đứa trẻ đua đòi trở nên hiếu thuận, chừng mực; nơi tổ ấm của bao đứa trẻ khuyết tật, mồ côi… Lấy mô hình giáo dục hướng thiện trợ giúp hội ở một số ngôi chùa Huế nhằm làm sự nhân văn những đóng góp lớn lao của Phật giáo cho hội trong giai đoạn hiện nay.
  1. PHÂN TÍCH TRIẾT TỪ BI CỦA PHẬT GIÁO
Pht giáo được Pht tSiddhartha (Tt Đạt Đa), họ Gautama, là thái tử vua nước Tịnh Phạn, sinh ở Kinh thành Kapilavastumiền



*. Tiến sĩ, Giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế.
 

Nam Nepal năm 563 trước công nguyên. Sau khi thành Phật, được học trò tôn xưng Sakyamuni (Thích ca Mâu ni). Cuộc đời của Đức Phật được nhiều câu chuyện truyền thuyết ghi lại với nhiều chi tiết khác nhau. Rằng Ngài sinh ra trong một gia đình thuộc đẳng cấp Sakya (đẳng cấp thứ hai trong bốn đẳng cấp của hội Ấn Độ), thuộc một công quốc biên giới giáp với dãy núi cao ẩn Himalaya. Nhờ thuộc đẳng cấp này, nên Ngài được học đủ môn nghệ và hiu biết nhiu triết thuyết đương thời. Truyn thuyết cho rằng, khi mới sinh ra, Ngài đã biết đi biết nhảy bước theo bốn hướng, dưới mỗi bước chân Ngài mọc lên một bông sen. Quá trình tu thành Phật của Ngài trải qua thời gian dài, sau đó truyền trong vòng 45 năm (từ lúc Ngài 35 tuổi đến 80 tuổi).
Phật giáo ra đời tuy không tuyên bố tiêu diệt chế độ đẳng cấp Bà- la-môn, nhưng trong thực tế phủ nhận chế độ đó. Phật ch ra rằng: Không đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Tình thương sợi dây kết nối liền người với người”. đạo Phật tuyên truyền về sự bình đẳng giữa các chúng sinh nên đã thu hút nhiều tầng lớp đặc biệt tầng lớp dân nghèo đi theo rất đông.
Về thế giới quan, quan điểm luân hồi của Phật không phải một vòng luẩn quẩn thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó, trở thành giác ngộ cõi niết bàn. Đặc biệt chú trọng đến tính nhân quá tương dục, nhân quả một chuỗi liên tục không gián đoạn, không hỗn loạn, nghĩa nhân nào quả ấy, mọi hậu quả đều nguyên nhân, kết quả của một nguyên nhân nào đó sẽ nguyên nhân của một kết quả khác. Phật giáo quan điểm: tạo giả: tất cả mọi sự vật đều tồn tại lâu dài, không nguyên nhân đầu tiên không kết quả cuối cùng, nghĩa không đấng tối cao nào tạo ra trụ. ngã: Cái tôi do một số yếu tố vật chất, yếu tố tinh thần cấu tạo nên một cách tạm thời, các yếu tố này gồm ngũ uẩn: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (phi lý), thứcthức) hoặc lục đại (hỏa, thủy, thổ, phong, không, thức). thường không vĩnh hằng, luôn biến đổi, mất đi (sinh, trụ, dị, diệt), tồn tại trong khoảng thời gian tận cũng chỉ chốc lát.
 

Về nhân sinh quan, điểm xuất phát của thế giới quan nhân sinh quan hạ thấp thế giới cảm tính trần tục, đem đối lập với thế giới khác trong đó con người phải tìm sự cứu vớt. Khổ đế: chính cuộc sống con người toàn bể khổ “nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bin, khổ là bn cht của tồn ti. Có ít nht m ni khổ: sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt li, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn. Tập đế: mọi nỗi khổ đều nguyên nhân của nó. Diệt đế: mọi cái khổ đều thể diệt được, nếu nguyên nhân của đau khổ dục vọng thì diệt trừ dục vọng, diệt trừ cái tham, sân, si diệt trừ đau khổ, nói cách khác tiêu diệt phần khổ đau của cuộc đời. Lúc đó, con người được giải thoát, hoàn toàn tự do, không còn nô lệ nữa. Đạo đế: để diệt trừ dục vọng, đạt tới cõi niết bàn, con người cần một đường lối, một phương pháp. Phương pháp ấy chính đạo đế, con đường diệt khổ. Con đường đó chính hoàn thiện đạo đức nhân.
Về hội, Phật giáo khuyên con người nên sống hướng thiện, dĩ đức báo oán, lấy đức độ, lòng nhân từ để đối nhân xử thế, cảm hóa cái ác, giác ngộ những người lầm lạc. Đây chính biểu hiện của tư tưởng bác ái, nhân từ của Phật giáo. Phật giáo nêu cao tam học: giới, định, tuệ. Giới chính ngăn giữ giới luật, không làm những điều được coi cấm kỵ. Định thiền định, những phương thức tu luyện. Tuệ trí tuệ sáng suốt, chống minh, sự thông tuệ - kết quả của sự thực hiện giới thiền định. Phật giáo quan niệm rằng, mỗi người đều Phật tính bất kỳ ai cũng thể đến với Phật.
Đánh giá về giáoPhật giáo, Hồ Chí Minh từng viết: Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no m. Nietzch cũng nhận xét: Pht go không kích thích người ta làm chiến tranh chống các tôn giáo khác. Điều cảm động nhất, chính chỗ giáo nhà Phật chống lại tưởng phục thù hằn học oán ghét1.
Chính quan điểm hướng thiện, lấy lòng nhân từ làm gốc nên



    1. Đặng Văn Chương (2016), Bài giảng Lịch sử tôn giáo thế giới, Trường Đại học phạm Huế, tr. 33.
 

Phật giáo luôn quan tâm đến làm việc thiện. Người đến với Phật kng chỉ tu trên sách vhay chỉ tụng kinh nim Pht, mà ngày nay Phật giáo chú trọng đến triết lý nhập thế, giúp đời.
Điều này xuất phát từ những mối quan hệ vừa là nhựa sống, vừa mắt xích kết nối giữa tôn giáo thế tục. Nhu cầu vận dụngtưởng tôn giáo vào giải quyết các vấn đề hội thế tục được coi nhập thế. Mặt khác, tôn giáo nói chung hay Phật giáo không tự sinh ra kết quả của chính nhu cầu tinh thần hội thế tục, hình thái ý thức của hội, không tôn giáo nào thể tồn tại phát triển tách rời khỏi hội thế tục.
Với những nguyên tắc đạo đức vị trí văn hóa của mình, Phật giáo thể hoàn toàn góp phần vào việc định hướng tư duy điều chỉnh hành vi của cộng đồng hội nếu vận dụng những phương thức phù hợp theo tinh thần nhập thế. Trên thực tế, Phật giáo Việt Nam đã đang bền bỉ, dấn thân vào nhiệm vụ xây dựng giá trị đạo đức con người thông qua các hoạt động nổi bật như các khóa tu mùadành cho thanh thiếu niên, những lớp học đạo đức, những chương trình từ thiện hội, nuôi dạy trẻ em khuyết tật, mồ côi… trên khắp mọi miền tổ quốc2.
2. VIỆC GIÁO DỤC HƯỚNG THIỆN THÔNG QUA HÌNH KHÓA TU MÙA DÀNH CHO TRẺ EMCHÙA KIM ĐỨC, THÀNH PHỐ HUẾ


Hình ảnh chùa Kim ĐứcHuế, Ảnh: Tác giả




2. Tham khảo của Đỗ Ngây (2012), Triết nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Trần, Luận án TiếnTôn giáo học, Viện Khoa học hội Việt Nam, Nội, tr. 1.
 

rất nhiều chùa Huế nói chung, tại chùa Kim Đức nói riêng, đã tổ chức chương trình Khóa tu mùadành cho trẻ em. Các khóa này mở hằng năm thường bắt đầu từ tháng sáu, sau khi học sinh kết thúc năm học để bước vào kỳ nghhè. Thay chọn đi du lịch, chọn đọc truyện tranh, hay chọn vùi đầu vào điện thoại, các bạn chọn học ở khóa tu mùa hè. Những khóa tu này hoàn toàn miễn phí thường kéo dài một tháng. Khóa tu dành cho trẻ em mong muốn học, không phân biệt con em Phật tử hay người chưa Phật tử. Các em nhận được sự dạy dỗ tận tình từ các thầy.
Để chuẩn bị cho việc học tập, các em mang theo cho mình đầy đủ tư trang để hoàn thành khóa tu. Ở chùa, các em sẽ cuộc sống tự lập như tự giặt áo quần, tự ăn cơm, tự dậy sớm để đọc kinh cầu nguyện, tự làm những công việc như quét sân, tưới cây, nhặt rau để sau khi hoàn thành khóa học trở về nhà, thể giúp đỡ cha mẹ… Đặc biệt, sự tận tình chỉ dạy của các thầychùa Kim Đức, các em được học những bài học về lòng hiếu thảo, lòng thương người, cách giúp đỡ bạn bè, biết chia sẻ với người xung quanh, về bảo vệ môi trường, yêu thương loài vật…


Một lớp học của khóa tu mùa hè, Ảnh: Tác giả
Các em đây rất hào hứng vui vẻ nhiều bạncùng trang lứa hoặc khác tuổi, các em được chia sẻ cùng nhau về những cảm nhận của mình về bài học, được sinh hoạt đội nhóm để rèn luyện k năng tự lập, k năng thuyết trình.
Những câu chuyện thầy kể về