10. Vai trò của Phật học trong giáo dục hướng thiện và trợ giúp xã hội - TS. Hoàng Thị Anh Đào

Thứ sáu - 06/12/2019 10:16
VAI  TRÒ CỦA PHẬT HỌC TRONGIÁDỤHƯỚNTHIỆVÀ TRỢ GIÚXàHỘI

TS. Hoàng Thị Anh Đào
 
 
Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên ở vùng Bắc Ấn Độ (Nepal ngày nay). Trải qua mấy ngàn năm, Phật giáo ngày càng được truyền rộng rãi sang các nước trên thế giới không ngừng phát triển. Phật giáo khuyên con người sống hướng thiện, lấy đức độ, lòng nhân từ để đối nhân xử thế, để cảm hóa cái ác, đó tưởng bác ái, nhân từ của đạo Phật. Thấm nhuần triết lý đó,Huế, rất nhiều ngôi chùa đã giáo dục hướng thiện trợ giúp hội bằng tấm lòng từ bi của mình. Nhiều nơi đã mở các khóa tu mùa hè, giúp con trẻ từ những đứa trẻ đua đòi trở nên hiếu thuận, chừng mực; nơi tổ ấm của bao đứa trẻ khuyết tật, mồ côi… Lấy mô hình giáo dục hướng thiện trợ giúp hội ở một số ngôi chùa Huế nhằm làm sự nhân văn những đóng góp lớn lao của Phật giáo cho hội trong giai đoạn hiện nay.
  1. PHÂN TÍCH TRIẾT TỪ BI CỦA PHẬT GIÁO
Pht giáo được Pht tSiddhartha (Tt Đạt Đa), họ Gautama, là thái tử vua nước Tịnh Phạn, sinh ở Kinh thành Kapilavastumiền



*. Tiến sĩ, Giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế.
 

Nam Nepal năm 563 trước công nguyên. Sau khi thành Phật, được học trò tôn xưng Sakyamuni (Thích ca Mâu ni). Cuộc đời của Đức Phật được nhiều câu chuyện truyền thuyết ghi lại với nhiều chi tiết khác nhau. Rằng Ngài sinh ra trong một gia đình thuộc đẳng cấp Sakya (đẳng cấp thứ hai trong bốn đẳng cấp của hội Ấn Độ), thuộc một công quốc biên giới giáp với dãy núi cao ẩn Himalaya. Nhờ thuộc đẳng cấp này, nên Ngài được học đủ môn nghệ và hiu biết nhiu triết thuyết đương thời. Truyn thuyết cho rằng, khi mới sinh ra, Ngài đã biết đi biết nhảy bước theo bốn hướng, dưới mỗi bước chân Ngài mọc lên một bông sen. Quá trình tu thành Phật của Ngài trải qua thời gian dài, sau đó truyền trong vòng 45 năm (từ lúc Ngài 35 tuổi đến 80 tuổi).
Phật giáo ra đời tuy không tuyên bố tiêu diệt chế độ đẳng cấp Bà- la-môn, nhưng trong thực tế phủ nhận chế độ đó. Phật ch ra rằng: Không đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Tình thương sợi dây kết nối liền người với người”. đạo Phật tuyên truyền về sự bình đẳng giữa các chúng sinh nên đã thu hút nhiều tầng lớp đặc biệt tầng lớp dân nghèo đi theo rất đông.
Về thế giới quan, quan điểm luân hồi của Phật không phải một vòng luẩn quẩn thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó, trở thành giác ngộ cõi niết bàn. Đặc biệt chú trọng đến tính nhân quá tương dục, nhân quả một chuỗi liên tục không gián đoạn, không hỗn loạn, nghĩa nhân nào quả ấy, mọi hậu quả đều nguyên nhân, kết quả của một nguyên nhân nào đó sẽ nguyên nhân của một kết quả khác. Phật giáo quan điểm: tạo giả: tất cả mọi sự vật đều tồn tại lâu dài, không nguyên nhân đầu tiên không kết quả cuối cùng, nghĩa không đấng tối cao nào tạo ra trụ. ngã: Cái tôi do một số yếu tố vật chất, yếu tố tinh thần cấu tạo nên một cách tạm thời, các yếu tố này gồm ngũ uẩn: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (phi lý), thứcthức) hoặc lục đại (hỏa, thủy, thổ, phong, không, thức). thường không vĩnh hằng, luôn biến đổi, mất đi (sinh, trụ, dị, diệt), tồn tại trong khoảng thời gian tận cũng chỉ chốc lát.
 

Về nhân sinh quan, điểm xuất phát của thế giới quan nhân sinh quan hạ thấp thế giới cảm tính trần tục, đem đối lập với thế giới khác trong đó con người phải tìm sự cứu vớt. Khổ đế: chính cuộc sống con người toàn bể khổ “nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bin, khổ là bn cht của tồn ti. Có ít nht m ni khổ: sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt li, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn. Tập đế: mọi nỗi khổ đều nguyên nhân của nó. Diệt đế: mọi cái khổ đều thể diệt được, nếu nguyên nhân của đau khổ dục vọng thì diệt trừ dục vọng, diệt trừ cái tham, sân, si diệt trừ đau khổ, nói cách khác tiêu diệt phần khổ đau của cuộc đời. Lúc đó, con người được giải thoát, hoàn toàn tự do, không còn nô lệ nữa. Đạo đế: để diệt trừ dục vọng, đạt tới cõi niết bàn, con người cần một đường lối, một phương pháp. Phương pháp ấy chính đạo đế, con đường diệt khổ. Con đường đó chính hoàn thiện đạo đức nhân.
Về hội, Phật giáo khuyên con người nên sống hướng thiện, dĩ đức báo oán, lấy đức độ, lòng nhân từ để đối nhân xử thế, cảm hóa cái ác, giác ngộ những người lầm lạc. Đây chính biểu hiện của tư tưởng bác ái, nhân từ của Phật giáo. Phật giáo nêu cao tam học: giới, định, tuệ. Giới chính ngăn giữ giới luật, không làm những điều được coi cấm kỵ. Định thiền định, những phương thức tu luyện. Tuệ trí tuệ sáng suốt, chống minh, sự thông tuệ - kết quả của sự thực hiện giới thiền định. Phật giáo quan niệm rằng, mỗi người đều Phật tính bất kỳ ai cũng thể đến với Phật.
Đánh giá về giáoPhật giáo, Hồ Chí Minh từng viết: Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no m. Nietzch cũng nhận xét: Pht go không kích thích người ta làm chiến tranh chống các tôn giáo khác. Điều cảm động nhất, chính chỗ giáo nhà Phật chống lại tưởng phục thù hằn học oán ghét1.
Chính quan điểm hướng thiện, lấy lòng nhân từ làm gốc nên



    1. Đặng Văn Chương (2016), Bài giảng Lịch sử tôn giáo thế giới, Trường Đại học phạm Huế, tr. 33.
 

Phật giáo luôn quan tâm đến làm việc thiện. Người đến với Phật kng chỉ tu trên sách vhay chỉ tụng kinh nim Pht, mà ngày nay Phật giáo chú trọng đến triết lý nhập thế, giúp đời.
Điều này xuất phát từ những mối quan hệ vừa là nhựa sống, vừa mắt xích kết nối giữa tôn giáo thế tục. Nhu cầu vận dụngtưởng tôn giáo vào giải quyết các vấn đề hội thế tục được coi nhập thế. Mặt khác, tôn giáo nói chung hay Phật giáo không tự sinh ra kết quả của chính nhu cầu tinh thần hội thế tục, hình thái ý thức của hội, không tôn giáo nào thể tồn tại phát triển tách rời khỏi hội thế tục.
Với những nguyên tắc đạo đức vị trí văn hóa của mình, Phật giáo thể hoàn toàn góp phần vào việc định hướng tư duy điều chỉnh hành vi của cộng đồng hội nếu vận dụng những phương thức phù hợp theo tinh thần nhập thế. Trên thực tế, Phật giáo Việt Nam đã đang bền bỉ, dấn thân vào nhiệm vụ xây dựng giá trị đạo đức con người thông qua các hoạt động nổi bật như các khóa tu mùadành cho thanh thiếu niên, những lớp học đạo đức, những chương trình từ thiện hội, nuôi dạy trẻ em khuyết tật, mồ côi… trên khắp mọi miền tổ quốc2.
2. VIỆC GIÁO DỤC HƯỚNG THIỆN THÔNG QUA HÌNH KHÓA TU MÙA DÀNH CHO TRẺ EMCHÙA KIM ĐỨC, THÀNH PHỐ HUẾ


Hình ảnh chùa Kim ĐứcHuế, Ảnh: Tác giả




2. Tham khảo của Đỗ Ngây (2012), Triết nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Trần, Luận án TiếnTôn giáo học, Viện Khoa học hội Việt Nam, Nội, tr. 1.
 

rất nhiều chùa Huế nói chung, tại chùa Kim Đức nói riêng, đã tổ chức chương trình Khóa tu mùadành cho trẻ em. Các khóa này mở hằng năm thường bắt đầu từ tháng sáu, sau khi học sinh kết thúc năm học để bước vào kỳ nghhè. Thay chọn đi du lịch, chọn đọc truyện tranh, hay chọn vùi đầu vào điện thoại, các bạn chọn học ở khóa tu mùa hè. Những khóa tu này hoàn toàn miễn phí thường kéo dài một tháng. Khóa tu dành cho trẻ em mong muốn học, không phân biệt con em Phật tử hay người chưa Phật tử. Các em nhận được sự dạy dỗ tận tình từ các thầy.
Để chuẩn bị cho việc học tập, các em mang theo cho mình đầy đủ tư trang để hoàn thành khóa tu. Ở chùa, các em sẽ cuộc sống tự lập như tự giặt áo quần, tự ăn cơm, tự dậy sớm để đọc kinh cầu nguyện, tự làm những công việc như quét sân, tưới cây, nhặt rau để sau khi hoàn thành khóa học trở về nhà, thể giúp đỡ cha mẹ… Đặc biệt, sự tận tình chỉ dạy của các thầychùa Kim Đức, các em được học những bài học về lòng hiếu thảo, lòng thương người, cách giúp đỡ bạn bè, biết chia sẻ với người xung quanh, về bảo vệ môi trường, yêu thương loài vật…


Một lớp học của khóa tu mùa hè, Ảnh: Tác giả
Các em đây rất hào hứng vui vẻ nhiều bạncùng trang lứa hoặc khác tuổi, các em được chia sẻ cùng nhau về những cảm nhận của mình về bài học, được sinh hoạt đội nhóm để rèn luyện k năng tự lập, k năng thuyết trình.
Những câu chuyện thầy kể về những bé chỉ biết đua đòi, hay những người khinh miệt người nghèo, không hiếu thảo với
 

cha mẹ… đều kết quả không tốt trong tương lai đó chính luật nhân quả. Các tăng khuyên các em hãy sống tốt khi mình còn thể.
Rất nhiều bậc cha mẹ vui mừng hạnh phúc khi con mình nhận được sự giáo dục về lòng từ bi, hiểu được quy luật nhân quả để sống tốt hơn. Nhiều phụ huynh kể: con tôi trước đây đua đòi, đưa ra yêu sách nếu học giỏi thì ba mẹ phải thưởng điện thoại iPhone, sau khi tham gia khóa tu thì không đòi nữa, chỉ mong ba mẹ luôn mạnh khỏe để ở bên cạnh mình.
bạn sau khi tham gia khóa tu, từ một người vị kỷ, không quan tâm đến ai đã trở thành người biết yêu thương cuộc sống, người xung quanh, yêu thương loài vật, bảo vệ môi trường sống khiêm nhường, hiếu thuận, từ bi.
bạn nhỏ trước đây từng người không biết quý trọng mồ hôi công sức cha mẹ, ham chơi hoang phí, sau khi tham gia khóa tu đã trở thành những người cần, kiệm, biết quý trọng những mình hơn hoang tưởng cao sang.
Bên cạnh những khóa tu dành cho trẻ em, còn những khóa tu dành cho người lớn. Những người tham gia đều cảm nhận được sự bình yên, an lạc sau khi thấm nhuần những giá trị nhân văn của đức phật. Những người tề tựu về với khóa tu như tình cảm với nhau, chân thành với nhau chia sẻ cùng nhau.
thể nói, sau những khóa tu, mỗi người kể cả người lớn hay trẻ nhỏ đều thu nhận những bài học riêng cho mình về lòng nhân từ, bác ái, hướng thiện hiểu thêm lời dạy của đức Phật. Tất cả đều hào hứng, vui vẻ chờ đợi những mùatiếp theo để được tham gia lại khóa tu mùa hè.
 



Một khóa tu dành cho người lớn tại chùa
  1. HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP HỘI THÔNG QUA NUÔI DẠY CÁC TRẺ EM MỒ CÔI, KHUYẾT TẬT CHÙA ĐỨC SƠN, THÀNH PHỐ HUẾ
Trên tinh thần triết lý nhập thế của Phật giáo, những nữchùa Đức Sơn (thành phố Huế) đã dành cả cuộc đời của mình để nuôi dạy những trẻ em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần giúp đỡ giải quyết những vấn đề khó khăn của hội biểu tượng cao đẹp của những con người trong giới nhà Phật.
Chùa Đức Sơn tọa lạc Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, gần lăng vua Thiu Tr, cách tnh phố Huế khong 7km, được lp vào năm 1964. Từ năm 1988, nơi đây tổ ấm của những con người số phận đặc biệt, với sự rộng lượng bao dung, những vị đã cưu mang hàng trăm phận người tưởng như bị cuộc đời chối bỏ đã lớn lên trưởng thành. thể nói, biết bao trẻ em đã lớn lên từ ngôi nhà này, nhiều em thể hòa nhập cộng đồng, vững vàng trong cuộc sống, nhưng em vẫn còn thơ dạibản thân mang khuyết tật.


Hình ảnh chùa Đức Sơn, Thành phố Huế
 

Hiện tại, chùa đã nhận nuôi gần 300 trẻ em mồ côi, khuyết tật nhờ nguồn kinh phí đóng góp của những người hảo tâm trong ngoài nước. Dưới sự dẫn dắt của Ni trưởng Thích Nữ Minh Tú, các ni đây đã cống hiến tâm huyết cả tuổi thanh xuân để nuôi dạy các em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Đồng hành với Ni Minh hơn 20 trong chùa, đây những người mẹ người cha trực tiếp chăm sóc, dạy bảo các em một cách ân cn, chu đáo. Trong nhiu sư nlàm công vic cao quý ở chùa - Thích Nữ Liên An - vai trò đảm nhiệm cùng một lúc 2 lớp mẫu giáo 29 em 40 em đang học cấp một nhưng vẫn luôn nở nụ cười thân thiện ánh mắt trìu mến. Ngay từ nhỏ, Liên An đã thích được đi tu nhưng gia đình không cho phép. Mãi sau này, khi ba mẹ mất đi, Liên An đã xin vào chùa đi tu theo đúng ý nguyện. Duyên trời đưa đến làm người mẹ của những đứa trẻ mồ côi, từ đó gắnvới những đứa trẻ như chính con đẻ của mình. Khi hỏi về việc chăm sóc các cháu nhỏ, Liên An không giấu nổi niềm tự hào: Ai trong chúng tôi cũng đều nghĩ rằng đây nhân duyên, việc thiện cần làm giữa đời sống vốn bộn bề này. người xuất gia không quay lưng với nỗi đau thế thái nhân tình mà phải san sẻ tình thương cho những ai thiếu thốn tình cảm, vật chất”.
Hàng ngày, những đây dậy từ 4 giờ sáng để lo Phật sự. Sau đó vào bếp cùng mọi người làm bữa sáng rồi tắm rửa, thay tã, cho cácăn, chơi, ngủ…. việc chăm sóc nuôi lớn một đứa con đã khó đối với bậc làm cha mẹ, thế nhưng các chùa Đức Sơn chăm sóc hàng trăm đứa trẻ một điều phi thường, đó không chỉ là tch nhim mà là cả syêu thương vô bờ bến. Trong khi các con còn đang chìm sâu trong giấc ngủ thì những người mẹ áo nâu sồng nơi cửa Phật lại phải lo lắng, dọn dẹp hết những bọn trẻ bày ra để sáng mai chúnglại một chỗ chơi sạch sẽ.
Không chỉ lo chuyện ăn, ngủ, học hành, các đây còn hướng các cháu đến những suy nghĩ việc làm thiện, dạy dỗ các cháu những điều hay lẽ phải, nhất tình đoàn kết, thương yêu lẫn nhau. Điều làm các vui nhất các cháu đều ngoan ngoãn, biết
 

vâng lời. cháu nói chuyện chưa rành, gọi các “mẹ” rất dễ thương. Cũng lúc các cháu nghịch ngợm, phá phách, nhưng bằng sự nhẹ nhàng các cháu răm rắp nghe theo. lẽ chỉ tấm lòng tình thương một cách không điều kiện mớithể giúp các sư côđây làm được điều không phải bậc làm cha làm mẹ nào cũng thể làm được.
Chia sẻ về những tâm sự của mình, Ni trưởng Thích Nữ Minh nói: “Mong muốn duy nhất của tôi các cháu trưởng thành, khỏe mạnh. Nhưng sâu xa hơn, vẫn muốn những bậc sinh thành hãy nghĩ tới cuộc đời các cháu để các cháu đỡ đi phần nào sự thiệt thòi trong cuộc sống, để chúng nó lớn lên ích cho hội không cm thy mc cm về tn phận của mình.
Việc nuôi dạy các em bình thường đã khó khăn, thế mà, trong số các em, còn 10 em sinh, 10 em khuyết tật, thì việc nuôi dạy lại càng khó khăn gấp nhiều lần. ức tuổi thơ cuộc đời những đứa trẻ tưởng như đã bị bỏ quên ấy được nuôi lớn dưới tiếng chuông chùa, bên những lời kinh kệ ở chốn thiền môn.
Kể với chúng tôi về nghiệp duyên này, Ni trưởng Thích Nữ Minh không khỏi bùi ngùi. Chùa Đức Sơn được xây dựng năm 1964, trước đây vốn chỉ một Niệm Phật đường. Thời ấy chỉ 4 ni Minh Đức, Minh Tú, Minh Nhật Minh Hằng đã cùng đến đây tu tập. Minh cho biết, ngày chùa Đức Sơn trở thành chỗ nương nhờ của những mảnh đời nhỡ, các gặp phải muôn vàn khó khăn. Các phải ăn sắn trộn cơm chằm nón để tiền mua sữa cho các em nhỏ. Tuy nhiên, qua thời gian, với sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm từ thiện sự nỗ lực không ngừng của các trong chùa, hiện nay chùa Đức Sơn đã trở thành địa chỉ đáng tin cậy về nuôi dạy trẻ mồ côi trong vùng. Chùa căn cứ vào độ tuổi bệnh tật để sắp xếp chỗ ở cho phù hợp. Các cháu nam, nữ trên 10 tuổi, trkhuyết tt, trsơ sinh... được bố trí ở riêng.
Theo sự chỉ dẫn của nhà sư chúng tôi tới khu dành cho những đứa trẻ dưới 5 tuổi. Nơi ấy khiến chúng tôi cảm giác như vào khoa nhi của một bệnh viện. Ngoại trừ những đứa trẻ khoẻ mạnh
 

nô đùa, chạy nhảy, thì những đứa trẻ nhỏ tuổi mang bệnh tật, ốm đau phải nằm trên giường thiêm thiếp đầy tội nghiệp. Ch vào mấy đứa trẻ đang tíu tít nô đùa, nói: “Đứa trẻ áo vàng hay cười ấy Thiện Hoa, bởi nhà chùa nhặt được cháu trong vườn hoa rồi đem cháu về nuôi khi chỉ còn mong manh hơi thở nên đặt tên Hoa. Còn cháu gái mặc quần áo trắng nằm trên giường kia Kiều Thiện Ngọc, tên thường gọi Bầu. Cháu bị bệnh nặng lắm nhưng nhà chùa vn cgng điu tr.
Các cháu nhỏ ở đây đa phần không biết họ tên, cha mẹ các em ai nên khi nhận vào chùa nếu trai thì mang họ Thiện,gái thì mang họ Kiều Thiện. Minh kể với chúng tôi: “Hơn 28 năm qua đã hơn 140 cháu rời khỏi chùa, nhiều cháu đã gia đình công việc ổn định, một số cháu vượt qua nghịch cảnh hiện nay đã thành đạt trở thành bác sĩ, k sư…đã lớn, đã rời xa mái ấm tình thương để tự lập thân kiếm sống nhưng các em vẫn luôn trách nhiệm đùm bọc những thế hệ sau như người trong một nhà.
Minh kể tiếp với niềm tự hào hiện lên trong ánh mắt về các trường hợp đc bit sinh sng ở đây: Trong một ln đi làm từ thiện, tôi tình cờ bắt gặp một cháu đỏ hỏn, bị bỏ rơi. Hồi ấy, cháu bé chỉ nặng hơn 900 gram. Tôi đưa cháu về chùa nuôi dưỡng và đt tên cháu Thiện Sanh. Từ ngày Thiện Sanh về chùa, các nữ chắt chiu từng đồng để mua sữa, mua thuốc chăm sóc cho cháu. Hiện tại, Thiện Sanh rất khỏe mạnh học giỏi như các bạnng trang lứa.
Một trường hợp đặc biệt nữa các đây hay kể cho các em nhỏ để làm gương noi theo đó câu chuyện của anh Đào Duy Long, sinh ra trong một gia đình khó khănhuyện A Lưới, bố mất sớm, một mình mẹ bệnh tật nuôi 3 anh em ăn học. Quá cực khổ nên mẹ gửi Long vào chùa Đức Sơn khi em lên 10 tuổi. Được các sư cô cm sóc, dy bảo nên Long học rt giỏi. Em đỗ vào Trường Đại học Kinh tế Huế với số điểm khá cao. Ra trường được nhận vào làm tại một ngân hàng trụ sởthành phố Huế, hiện nay Long
 

vẫn dành nhiều thời gian công sức vận động ủng hộ cho chùa để điều kiện chăm lo cho các cháukhác.
Mỗi em đây một mảnh đời bất hạnh khác nhau, cùng chung trong mái ấm này để lớn lên dưới vòng tay của những ni sư. Tác giả được nghe kể, vào một buổi sáng bầu trời giá lạnh bởi sương đêm, ni tình cờ bắt gặp một emcòn đỏ hỏn, quấn trong tấm khăn mỏng, nằm bên góc cổng chùa. Tiếng khóc của bé yếu dần lẽ khát sữa, em đã bị bỏ rơi. thể do một mối tình vụng trộm, thể mẹ em đã không thừa nhận em, hay thể do em bị khuyết tật…, hẳn ẩn số cuộc đời em về xuất phát ban đầu khó ai đoán biết được, cũng không ai muốn biết thêm để làm gì. Bằng tất cả sự bao dung, nhân hậu, Ni Minh cùng các ni chùa bồng bế em lên tay, tất cả đều biết rằng họ phải bắt đầu một hành trình mới cho một số phận. Lẽ ra, các ni sư, chỉ tập trung việc tu dưỡng, tụng kinh, niệm Phật, nhưng với triết lý nhập thế, họ đã làm một việc, hẳn hội ít ai đủ tự tin, rộng lòng làm được. Nuôi một đứa trẻ, với một mẹ bình thường đã khó, thì với hoàn cảnh các ni chưa từng một lần được làm mẹ theo đúng nghĩa tự nhiên lại càng khó khăn gấp bội phần. Sự khó khăn ấy, chưa đáng bao, khi hằng ngày các ni phải trông ngóng, em lớn lên, được an lành, trọn vẹn hay một đứa trẻ khuyết tật, bị mù, bị động kinh, không biết nói, không thể tự đi, bi ba í ới không một ai thể đổi thay sự thật này.
  1. KẾT LUẬN
Từ một mô hình nhỏ của những ngôi chùaHuế để thấy ngày nay, Phật giáo đã vận dụng triết lý nhập thế một cách mạnh mẽ để giáo dục hướng thiện trợ giúp hội.
Biết bao nhà sư, ni sư, từ chốn Phật môn đã tham gia giảng dạycác trường học, đồng hành cùng những chuyến từ thiện tới những vùng xa xôi, hay cứu chữa biết bao bệnh tật cho bệnh nhân nghèo. Hình ảnh Phật tử không đơn thuần chỉ tụng kinh nơi cửa Phật, chính họ những con người nhập thế tích cực. Họ xây dựng một hình ảnh rất chân thực trong cuộc sống đời thường.
 

Phải chăng, lẽ đó, Phật giáo ngày càng phát triển mặtnhiều quốc gia châu lục trên thế giới. RiêngViệt Nam, nhờ đức Phật, giúp con người hướng thiện, làm việc tốt, bảo vệ trật tự hội. Dù những con người trần tục nhất thì đều hướng thiện khi đứng trước đức Phật. Hình ảnh đức Phật đã thấm vào máu thịt người Việt như một phần không thể thiếu trong văn hóa ứng xử giữa người với người. Điều này càng quan trọng hơn, khi hội ngày nay, quá nhiều vấn đề phức tạp, khi đạocon người ngày càng đổi thay, xói mòn, thì chính sự nhập thế của triết lý Phật học, là nền tảngđạo đức hội để mỗi người thể thiện tâm chính mình.
Như vậy, ngoài việc phát triển như một tôn giáo của thế giới, Phật giáo không chỉ đóng góp về mặt văn hóa, triết học đã vận dụng triết lý nhập thế để đóng vai trò ngày càng lớn trong giải quyết những vấn đề về y học, kinh tế, chính trị,hội… Từ đó, xây dựng một hình ảnh đẹp, sinh động về những người ở chốn Phật môn nói riêng, Phật tử nói chung Phật giáo trở thành một phần không thể thiếu trong giáo dục con người hướng thiện trợ giúp hội trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay.



***
 



Tài liệu tham khảo
Bowker, J (2002), Các tôn giáo trên thế giới, Dịch giả Nguyễn Đức Tư, Nxb. Văn hóa thông tin.
Đng Văn Chương (2016), Bài giảng Lch sn go thế giới, Trường Đại học phạm Huế.
Đỗ Ngây (2012), Triết nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Trần, Luận án TiếnTôn giáo học, Viện Khoa học hội Việt Nam, Nội.
https://ganday.net/item/chua-duc-son-h-huong-thuy-thua-thien- hue/, truy cập 11/12/2018.


178

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây