10.TỪ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP, NHÌN NHẬN VỀ GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ sáu - 06/12/2019 21:09
TCUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP, NHÌN NHẬN VỀ GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
 
Thích Nhuận Lạc
 
Suốt hàng ngàn năm đồng hành cùng dân tộc, trước tình thế nước nhà nguy biến, Phật giáo chưa bao giờ đứng bên ngoài thời cuộc ấy. Từ thuở Đinh – Trần gây dựng nền độc lập, Phật giáo sớm đã cùng với dân tộc vượt mọi can qua binh loạn. Thời Lê khi có gic Tng sang xâm lược, Quốc sư Khng Vit vì ngày giặc đến nhà đã cận lập đàn cầu Tỳ Sa Môn Thiên vương trợ giúp. Thời Trần khi binh loạn xảy ra, hàng ngũ Tăngcũng không đứng ngoài cuộc. Tinh thần Phật giáo hòa cùng hào khí dân tộc chuyển thành một lớp sóng lớn quét sạch quân xâm lược. Nước Việt bé nhỏ nhưng chưa bao giờ hưởng được hòa bình quá một thế kỷ. Suốt hai ngàn năm song hành cùng dân tộc hai ngàn năm Phật giáo cùng nước Việt đi qua những cuộc chiến cũng như giữ nhiệm vụ xoa dịu nỗi đau chiến tranh đó.
Sau hơn hai trăm năm phân ly Nam Bắc, nước Việt lại thống nhất dưới thời Gia Long. Tuy vậy chưa ngót một trăm năm nước 
Việt lại phải đối mặt với những người xâm lăng xa lạ đến từ bên kia đại dương. Trong thời biến lon đó, Pht giáo Vit Nam vn đi cùng với dân tộc, cùng nhau bước qua thời kỳ binh loạn.
Trong giai đon phong to Cn vương bùng nổ mạnh mẽ ở min Trung, mi tầng lớp nn dân đc bit là giới văn tn, sĩ phu hưởng ứng một cách nhiệt tình nhất. Năm 1885 ở vùng đất thập bát phù viên nổ ra khởi nghĩa Mười tám thôn vườn trầu do Quản Hớn lãnh đạo. Sau cuộc khởi nghĩa đó những vị hòa thượngđất Hóc Môn bbt. Trong số nhng vy có Hòa thượng Như Thông - Đạt Thanh tham gia ủng hộ cuộc khởi nghĩa bị bắt đày đi Côn Đảo. Còn nhớ buổi ban đầu Hòa thượng Đạt Thanh sau thời gian học đạo tại các chốn tổ trở về, Ngài thường mượn phương tiện các đạo tràng ứng phú hành Quốc sự, thường xuyên hội họp bàn việc nước. Về sau khi đã bị đày ra Côn Đảo, Hòa thượng Đạt Thanh cùng với một số ngườiđóngvượt ngục trở về đất liền. Sau khi trở về được từ vùng Rạch Giá bước chân hoằng hoá của Ngài trải khắp các tỉnh miền Tây, từ ngày Hòa thượng Đạt Thanh bị lưu đày đến ngày Ngài trở về lại nơi tòng lâm xưa cũng ngót hai mươi năm vân du khắp các xứ sở. Sau khi trở về Hòa thượng Đạt Thanh thường xuyên gửi chi viện thuốc men, tiền bạc, lương thực cho lực lượng kháng chiến ở vùng chiến khu Tây Ninh.
Trong môn đồ của Hòa thượng Như Thông - Đạt Thanh có Ngài Hồng Tín - Huệ Thành cũng nối tiếp hạnh nguyện đó của tôn sư. Ngài Huệ Thành từ những ngày đầu sau khi cuộc cách mạng của dân tộc đã thành công, đã được cử làm hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Biên Hòa kiêm Uỷ viên Mặt trận Việt Minh (trụ sở Phật giáo Cứu quốc đặt tại chùa Long Thiền). Năm 1947, Ngài Huệ Thành được hội Phật giáo Cứu quốc Nam bộ mời tham dự hội nghị thành lập tại chùa Ô Môi (Đồng Tháp) do Ngài Minh Nguyệt làm hội trưởng. Năm 1951 khi cuộc kháng chiến của dân tộc bước vào giai đoạn cao độ, tổ chức cách mạng đưa cán bộ về hoạt động trong lòng địch, Hòa thượng Huệ Thành cùng với hòa thượng Minh Nguyệt một số cán bộ khác về tổ chức cho Tăng, Ni Phật tử 
tham gia cách mạng, đấu tranh trong lòng địch. Được sự chấp thuận của cấp trên nhất trí của Thành uỷ Sài Gòn - Gia Định về việc thành lập một tổ chức bán công khai, lấy danh xưng “Lục Hòa Tăng” tiền thân Phật giáo cứu quốc. Tháng 02 năm 1952, đại hội Phật giáo tại chùa Long An thành lập Ban Chức sự Giáo hội Lục Hòa Tăng Vit Nam do Hòa thượng Thin Tòng làm Đại Tăng trưởng, Hòa thượng Huệ Thành được suy cử làm Đệ nhất Phó Tăng giám, Trưởng ban Hong pháp Trung ương, Tăng trưởng Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh Biên Hòa. Năm 1954, hiệp định Genève được kết, đất nước chia đôi, Hòa thượng Huệ Thành làm thành viên các tổ chức Trí vận Tôn giáo phụ trách Phật giáo tại Sài Gòn Gia Định khu Đông Nam bộ. Ngài cùng với Hòa thượng Minh Nguyệt phát động phong trào hòa bình, đòi thực dân Pháp thi hành hiệp định, tổ chức tổng tuyển cử đúng thời hạn. Năm 1955, hòa thượng Huệ Thành phát lời hiệu triệu, lệnh đình công, bãi thị,… đòi Chính phủ Pháp thi hành Hiệp định Genève. Tháng 03 năm 1960, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt hòa thượng trú trì chùa Phật Ấn bị giặc bao vây bắt với một số cán bộ khác, còn lại ba vị may mắn thoát khỏi Hòa thượng Bu Ý – Tng Thư ký, Hòa thượng Thin Hào cùng vi Ngài. Để củng cố hàng ngũ Giáo hội Lục Hòa Tăng bị giặc khủng bố, Ngài Hòa thượng Bửu Ý nhờ Thầy Yết Ma Thiện Niệm giúp phương tiện đi lại các tỉnh Rịa, Tây Ninh cũng như các tỉnh miền Đông Nam bộ Sài Gòn - Gia Định để củng cố, vận động thành lập tỉnh Hội Phật giáo Lục Hòa Tăng. Đến tháng 7, dời trụ sở từ chùa Phật Ấn về Tổ đình Giác Lâm, mở Đại hội bầu ban chức sự Trung ương, Hòa thượng được suy cử chức Tăng Giám Trung ương. Bắt đầu từ đó Giáo hội mở rộng ra miền Trung, phát triển mọi mặt, xây dựng nhiều sở củng cố cách mạng. Năm 1963, Ngài chịu đựng vàn gian khổ dưới sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngài bị bao vây nhưng vẫn đứng vững được Hòa thượng Tịnh Khiết gởi thư động viên thăm hỏi cũng như ca ngợi tinh thần dũng cảm hy sinh tuyên dương xưng tán công đức “đơn thân vị pháp” của Ngài.
Trong Hi Pht giáo cứu quốc ngày đó kng thể kng kể đến Hòa thượng Hồng Huệ - Thành Đạo pháp tử của Hòa thượng Như Trí - Khánh Hòa. Những năm 1949 - 1950, với sự hoạt động mạnh của chiến sự Phật giáo khắp nơi, phong trào Phật giáo Cứu quốc bị giải tán, chỉ còn lại một vài vị tiêu biểu trong Mặt trận Liên Việt bước sang thành lập một Giáo hội Phật giáo mới với tinh thần kháng chiến. Rằm tháng hai năm Nhâm Thìn (1952) tại chùa Long An (nayđường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hồ Chí Minh) Giáo hội Lục Hòa Tăng, hậu thân của phong trào Phật giáo Cứu quốc được thành lập, Hòa thượng Hồng Huệ - Thành Đạo được cử làm Tăng giám. Năm 1953, Hội Lục Hòa Phật tử được thành lập, hai niên khóa đầu, trụ sở đặt tại chùa Long Vân (Gia Định). Năm 1954, biến cố Bình Xuyên đã thiêu rụi chùa Phật Ấn. Ngài phải cho trùng tu lại trụ sở của Hội Lục Hòa Phật tử lại dời về chùa Phật Ấn. Ngài được đại chúng tín nhiệm bầu làm Hội trưởng liên tiếp hai niên khóa.
Nhìn chung trong đời sống các tòng lâm bấy giờ, xét bề ngoài ai nấy đều nhìn nhận vẻ sống yên lặng, nhưng ý thức về cuộc kháng chiến thì rất tỏ rõ. Tại các chùa, nơi phòng khách, người ta thường đọc một bản yết thị nhỏ dán trên tường: “Đây thiền môn, không nên lun bàn về chính tr. Nhng yết thị đó, ai cũng biết là chỉ để dành cho những người do thám của thực dân Pháp. Còn với thành phần những Tăng Ni trẻ tuổi ở các chùa vẫn liên lạc với các đồng liêu của họ trong vùng kháng chiến nhiều vị vẫnmật về khu kháng chiến một cách đều đặn. Chính trong thời gian này nhiều Tăng Ni bị bắt giam hoặc bị sát hại. Ít chùa nàonhững vùng núi non thôn quê không liên lạc để giúp đỡ công cuộc kháng chiến. Những tổ chức Phật giáo cứu quốc được tiếp tục duy trì. Trụ sở của các tổ chức này nơi đặt tại vùng kháng chiến, nơi đặt tại vùng hồi cư. Tỉnh nào cũng duy trì một Ủy ban Phật giáo cứu quốc. Không những chỉ các tăngtrẻ đứng ra đảm nhiệm công cuộc này những vị tôn túc lớn nhiều khi cũng đã chịu đứng ra làm chủ tịch các ủy ban để các tăngtrẻ tuổi dựa vào làm việc. Hòa thượng Huệ Quang, một trong những tòng lâm thạch trụ của 
Hội Lưỡng Xuyên Phật học, đã đứng ra làm chủ tịch Ủy ban Phật giáo cứu quốc tỉnh Trà Vinh, đồng thời cũng ủy viên hội của Ủy ban Hành chính Tỉnh bộ Trà Vinh. Hồi ấy ông đã gần 60 tuổi. Hòa thượng Pháp Dõng đứng ra làm chủ tịch Ủy ban Phật giáo cứu quốc tỉnh Gia Định. Hòa thượng Pháp Tràng chủ tịch Ủy ban Phật giáo cứu quốc tỉnh Mỹ Tho. Hòa thượng Pháp Long chủ tịch Ủy ban Phật giáo cứu quốc tỉnh Vĩnh Long. Chùa Ô Môi Mỹ Quý trong chiến khu Đồng Tháp Mười trụ sở của Hội Phật giáo cứu quốc Nam bộ. Tham dự vào ban chấp hành có các Hòa thượng Minh Nguyệt, Huệ Phương, Viên Minh Không Không. Tờ Tinh Tn, nguyt san của tổ chức có khi được phổ biến vtận trung m của xứ Nam Kỳ bấy giờ Sài Gòn.
 
Đứng về phương diện hình thức nhìn nhận, các tổ chức Phật giáo nói trên đều tuyên bố không mang màu sắc chính trị, nghĩa làkhông đả động tới vấn đề thời cuộc. Điều này tính cách dễ hiểu, bởi những tổ chức này được thiết lập hoạt động trong nhng vùng quốc gia, nhng vùng được cai trvà bảo vệ bởi một “chính quyền quốc gia” với sự kiểm soát của quân đội thực dân Pháp. Tuyên bố công khai rằng họ chống thực dân chính quyền bù nhìn do thực dân đặt ra, đó việc những tổ chức Phật giáo ấy không thể làm được, bởinếu làm như thế thì bị đóng cửa đàn áp ngay từ buổi đầu. Điều họ thể làm được, do đó, tuyên bố tính cách phi chính trị của họ như vậy thể từ chối những áp lực của thực dân các chính quyền tay sai biến mình thành những yếu tố chống kháng chiến. Tuy nhiên, thực hiện được điều này cũng một quá trình khó khan, vất vả.
Đứng về phương diện nội dung hành hoạt nói, các tổ chức Phật giáo nói trên, ít nhất trong giai đoạn 1948-1950, đều khuynh hướng thân kháng chiến. Khuynh hướng này được trông thấy rệt thông qua giới trẻ tuổi của các tập đoàn Phật giáo, tăngcũng như cư sĩ.
“Nhưng không phải tất cả mọi người trong các tổ chức Phật giáo đều có hoạt động tưởng thân kháng chiến. Rất đông những người tới chùa hồi đó những người đã từng chịu đựng tai ách chiến tranh. Họ đến chùa để tìm sự an tĩnh cho tâm hồn, để được an ủi, để được chở che.những người đến chùa để vừa tìm nguồn an ủi, vừa để cầu nguyện cho người thân đã mất hoặc đang chiến đấu gian khổ ở xa xôi. Nhưng những người đã quá đau khổchiến tranh chỉ muốn đến chùa để được an ủi, và không muốn nghe chuyện chiến tranh và chính trị ở chốn thiền môn tình cảm của họ vẫn thiên về bên kháng chiến. Cũng có người nhất quyết bảo vệ tính cách “phi chính trị” của tổ chức Phật giáo, họ chống chuyện làm chính trị trong tổ chức Phật giáo trong thâm tâm, họ khôngác cảm với kháng chiến.”
Như vậy, ở một khía cạnh nào đó, Phật giáo vẫn luôn hành cùng dân tộc khi đáp ứng nhu cầu của đại đa số quần chúng nhân dân. theo khuynh hướng thiên tả hay thiên hữu trong phương diện hành hoạt thì Phật giáo vẫn giữ vai trò xoa dịu nỗi đau chiến tranh. Phật giáo Việt Nam chấp nhận nhập thế, “từ bi nãi sát sanh dĩ độ chúng sanh” nhưng luôn một chừng mực giới hạn của nó. Trong thời bình, Pht giáo quay trvvới nhim vụ hong pp lợi sanh, cùng dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách.
Nhìn nhận về phương diện đồng hành cùng dân tộc trong thời chiến, chúng ta thể thấy được sự góp mặt của nhiều thế hệ Phật giáo đồ trong đó. Đặc biệt thế hệ chư vịmiền Nam mối liên hệ mật thiết với nhiều tổ chức kháng chiến. ngoài nhiệm vụ kháng chiến chúng ta cũng không quên chư vị ở nơi tòng lâm thực hiện nhiệm vụ xoa dịu vết thương chiến tranh, chở che tâm hồn những con người bất hạnh thuở chiến loạn. tính chất đó Phật giáo suốt hơn hai ngàn năm vẫn luôn làm tròn nhiệm vụ đạo đời, vẫn luôn song hành ủng hộ tích cực nhất về mặt tinh thần cho các thế hệ, cho mọi hòan cảnh bằng những giá trị thiêng liêng từ trong chính giáo đức tin của bậc giác ngộ.

***


Tài liệu tham khảo
Đào Duy Anh (2013), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb. Khoa học hội.
Đào Duy Anh (2014), Việt Nam Văn hóa sử cương, Nxb. Thế giới. Ban Tổ chức (2002), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 300 năm Phật giáo
Gia Định Sài GònThành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
Thích Đng Bổn (2009), Biên niên sGiới đàn Tăng Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Tôn giáo.
Thích Đng Bổn (1995), Tiểu sDanh Tăng Việt Nam, Tp 1, Nxb.
Tôn giáo.
Thích Đng Bổn (2002), Tiểu sDanh Tăng Việt Nam, Tp 2, Nxb.
Tôn giáo.
Thích Thiện Hoa (1997), Phật học phổ thông, Nxb. Tôn giáo.
Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm phong trào chấn hưng Phật giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Thành Khôi (2016), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX, Nxb. Thế giới.
Trn Trng Kim (2011), Việt Nam slược, Nxb. Văn học. Nguyễn Lang (2011), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học.
Nguyễn Quang Ngọc (2002), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục.
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam trường Đại học Khoa học hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Phật giáo vùng Mê-Kông: Lịch sử hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Mật Thể (2004), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb. Tôn giáo.
Trn Thun (2014), Tư tưởng Việt Nam thời Trn, Nxb. Tng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Trần Thuận (2014), Nam bộ - Vài nét lịch sử văn hóa, Nxb. Văn hóa
Văn nghệ.
Thích Thanh Từ (2010), Đạo Phật trong mạch sống dân tộc, Nxb.
Tng hợp Thành phố HCMinh.
Vin Triết học (1993), Lch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội Nội.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây