10. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO MYANMAR: LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG

Thứ sáu - 06/12/2019 03:37
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO MYANMAR: LỊCH SỬ HIỆN TRẠNG
TS. SC. Thích nữ Diệu Hiếu
 
Myanmar (Miến Điện), xứ sở Chùa Tháp, một trong những quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á; biên giới phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Đông giáp Lào và Thái Lan, phía Tây giáp với Bangladesh Ấn Độ. Diện tích toàn lãnh thổ 677.000 km2, dân số khoảng trên 60 triệu với 135 chủng tộc khác nhau, chủng tộc Myanmar chiếm 2/3 dân số cả nước.
Myanmar được chia thành 7 vùng hành chính: Ayeyarwady, Bago, Magway, Mandalay, Sagaing, Tanintharyi, và Yangon; và 7 bang: Chin, Kachin, Kayin, Kayah, Mon, Rakhine Shan. Tên của bang thường được đặt theo tên của dân tộc thiểu số đông nhất trong bang, trong khi vùng hành chính những nơi c người Myanmar chiếm phần lớn dân số.
Trước đây, Yangon được xem là thủ đô của Myanmar nhưng hiện tại thành phố lớn nhất nước. Th đô mới hiện nay toạ lạc tại Nay Pyi Taw, quận Pyinmana, Mandalay, cách Yangon khoảng 320 km về phía Bắc. Myanmar một trong những nước thuần túy theo




*. Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 

truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda). Cả nước c trên 89% dân số theo đạo Phật, phần còn lại Thiên Chúa giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, một số ít theo thuyết vật linh.
Phật giáo được cho đến với Myanmar rất sớm, ngay sau khi Đức Phật thành Đạo dưới cội Bồ đề, Ngài đã ban tặng tám sợi tc1 cho hai anh em thương gia tên Tapussa và Bhallika từ xUkkalā (tên gọi trước đây của Myanmar).2
Khi Đại đế Asoka đã trở thành vị vua phật tử, hộ trì tam bảo, theo lời khuyên của Trưởng lão Moggaliputtatissa (Mc-liên-tử-đế- tu), đức vua đã cho 9 phái đoàn truyền Phật giáo đi hoằng pháp khắp nơi ngoài lãnh thổ. Một trong chín phái đoàn truyền Phật giáo của Đại đế Asoka, Tỳ kheo Soa Uttara tháp tùng quý Đại đức Anuruddha, Tissagutta Somāya đã đến hoằng pháp tại vùng đất Thaton, nước Rāmaññadesa thuộc Kim-địa (Suvaṇṇabhūmi) vào khoảng thế kỷ III trước tây lịch.3
Sau đó Phật giáo được phát triển mạnhMyanmar từ thế kỷ
  1. Hầu hết các tu viện Phật giáocác địa phương đã kết hợp nâng cao trình độ văn ha và giáo dục Phật giáo. Nhờ đ, Myanmar một trong những quốc gia c tỷ lệ học vấn (biết đọc, biết viết) cao bên cạnh kiến thức bản về Phật Pháp. Các tự viện đồng thời các trường Phật giáo đã được cho phép dạy đến chương trình tiểu học. So với các nước trong khu vực, Myanmar đã tổ chức hai sự kiện Phật giáo nổi bật quan trọng (1) Kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ V đã được tổ chức vào năm 1871 ở thành phố Mandalay. Sau đ, nội dung của Tam tạng được vua Mindon cho người khắc ghi trên những 729 phiến đá cẩm thạch. (2) Kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ VI được tổ chức vào m 1954 tại thủ đô Yangon.
Giáo dục Phật giáo Miến Điện trong thời hiện đại được phân biệt như sau:


    1. Tám ngôi lợi tc này được tôn thờ tại bảo tháp Shwedagon, Yangon.
    2. Bischoff, Roger, Buddhism in Myanmar, Buddhist Publication Society, 1995, tr.67.
    3. G.E. Gerini, “Siam’s Intercourse with China,” 1901, tr.167.
 

Dựa trên tính cht: chai loại chính thcvà kng chính thc. ‘Giáo dục chính thức’việc nghiên cứu và giảng dạy của Phật giáo dựa trên giáo trình cụ thể, theo các mục đích thực hiện, c tổ chức các kỳ thi, nếu đạt sẽ c cấp bằng, giấy chứng nhận danh hiệu. ‘Giáo dục không chính thức’ nghĩa việc học hành, nghiên cứu Phật pháp một cách phổ quát, không theo một giáo trình nghiêm ngặt, không liên quan đến các kỳ thi.
Dựa trên lĩnh vực: c hai loại ‘Pháp học’ (pariyatti) ‘Pháp hành’ (paipatti). Việc chia này cũng ứng theo ‘nhiệm vụ học Kinh điển’ (ganthadhura) ‘nhiệm vụ nội quán’ hay còn gọi ‘nhiệm vụ thiền Tuệ Quán’ (vipassanādhura).
  1. LỊCH SỬ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Trong nhng ngày đu của Pht giáo ở vùng Ramanyadesa, Pyu, Bagan của Myanmar, việc nghiên cứu Tam tạng Phật giáo không chính quy, tính cách phổ thông (gia giáo). Thời kỳ từ thế kỷ XI đến XIII, khởi đầu triều đại của vua Anawratha (1044-1077) (còn được ghi vua Anuruddha), Cố đô Bagan của Myanmar mở ra một trang sử vàng son cho giai đoạn phát triển Phật giáo Nguyên thủy. Những Kinh văn Pāli giá trị đã được viết lưu truyền vào thời điểm này, cho thấy rằng trình độ giáo dục Phật giáo được nâng lên tầm cao. Mặckhông c chương trình cụ thể, cố định cho việc nghiên cứu của đạo Phật, nhưng những bằng chứng lịch sử đã cho thấy rằng quyển ngữ pháp Pāli Kaccāyana quyển Vi Diệu Pháp yếu giải - Abhidhammatthasaṅgaha, sách về Nghiệp, về Giới Kinh TụngParitta, được xem những quyển sách rất giá trị cho những người bắt đầu học Phật. Giáo dục tại tự viện (lớp giáoGia giáo) tại địa phương không qua thi cử, không cấp chứng chỉ, không theo chương trình giáo án bắt buộc, chỉ đưa ra nhiệm vụ học nghiên cứu chuyên sâu từng bộ môn Phật học cho đến thông thạo, rồi tiếp tục chọn môn khác để học, nhờ vậy kiến thức uyên bác chuyên sâu, được tín nhiệm cao,không c chứng chỉ.
Các sử gia tin rằng các kỳ thi chính thức cho giáo dục Phật giáo đã được bắt đầu trong triều đại của vua Thalun (1629-1648). Việc
 

kim tra chính thức tiếp tục trong triu đại kế vvua Thalun. Trong thời vua Bodawpaya (1782-1819), chư Tăng phải trải qua các kỳ thi Giáo pháp do vua tổ chức, nếu không tham dự thì sẽ không đủ điều kiện bị hoàn tục, còn nếu thi rớt thì bị hoàn tục đng dấu. Việc kiểm tra chính thức về Giáo pháp được hệ thống ha, tăng cường thêm một ngày kiểm tra về Luật. Việc kiểm tra chính thức này được gi là ‘Pathamapyan, được chia tnh hai cp bậc (tỷ-kheo sa-di), ba trình độ (sơ, trung, cao). Từ ‘Pathamapyan’ một thuật từ, viết tắt của chữ Miến cho ‘ứng cử viên tuyệt vời cho vic kim tra của Hoàng cung. Kỳ thi tiến nh dựa trên vic học thuộc lòng đọc tụng. Dưới thời vua Bodawpaya, kỳ thi chính thức dựa trên các bộ sách sau: (1) Ngữ pháp Pāli Kaccayana, (2) Vi Diệu Pháp Yếu Lược - Abhidhammatthasagaha, (3) Bộ Pháp Tụ - Dhammasagaṇī, (4) Bộ Chất Ngữ - Dhātukathā, (5) Bộ Song Đi - Yamaka, và (6) Bộ VTrí - Pahāna. (Bộ 3 đến bộ 6 là thuộc Tng Abhidhamma).
Đến thời vua Mindon (1853-1878), Kỳ kết tập Tam tạng lần thứ năm (1871) đã được vua đứng ra tổ chức, tạo thêm hiệu ứng mạnh mẽ trong việc phổ biến các kỳ thi chính thức, việc thi Pathamapyan Vinaya cũng được chuyển từ bản sang chuyên ngành. Ch c những thay đổi nhỏ trong giáo trình của Pathamapyan. Các giáo trình thời kỳ này luôn nhằm mục đích tạo nền tảng vững chắc về Pāli Abhidhamma, vậy việc nghiên cứu ngôn ngữ Sanksrit đã được giảm bớt trong giáo trình. Các ứng cử viên nhận được điểm cao nhất ở trình độ thứ ba của Pathamapyan được trao danh hiệu ‘pathamakyaw’ (tối ưu). Nếu trước kia chỉ c giới Luật bản được học thi thì đến thời này, vua Mindon đưa vào cả Tng Lut. Tương tự, việc học cả tạng Abhidhamma chuẩn được tiến hành, kế đến được kiểm tra qua thi cử. Điều này c lẽ nỗ lực đầu tiên để khuyến khích chư Tăng ghi nhNăm bNikāya hoặc Tam tạng. Trong thời giannày, hu hết Tăng đoàn Miến Đin chp nhn các kthi chính thc.
Kỳ  thi  Pathamapyan  của  ba  trình  độ  bao  gồm  các  giáo trình sau: (1) Ngữ pháp Pāli Kaccāyana, (2) Vi Diệu Pháp Yếu
 

Lược - Abhidhammatthasagaha, (3) Các bộ Vi Diệu Pháp Abhidhamma: Dhammasagaī, Dhātukathā, Yamaka, Pahāna, (4) Sớ Giải ngữ pháp luận thuyết: Vuttodaya, Subodhālakāra, Abhidhānappadipikā.
  1. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIẢNG HAY PHÁP (DHAMMĀCARIYA)
Chương trình đào tạo Giảng được tổ chức cho tất cả Tăng, Ni tham dự. Bằng Giảng được xem quan trọng nhất cho Tăng, Ni nghiên cứu Phật giáo. Hiện c ba tổ chức cấp văn bằng này: (1) Chính phủ, (2) Hội đồng giám khảo Tăng-già Sakyasīha, tại thành phố Mandalay (3) Hội đồng giám khảo Tăng-già Cetiyagaṇa, tại tnh phố Yangon. Về lịch sử, trình độ Ging sư ln đu tiên được thông qua bởi Hi đồng giám kho Tăng-già.
Hai Hội đồng này xuất hiện sau sự sụp đổ của chế độ quân chủMyanmar. do được mô tả trong sử liệu rằng: Sau sự sụp đổ của chế độ quân chủMyanmar (1885), các kỳ thi Pathamapyan (Phật học phổ thông) gồm ba cấp: bị đình chỉ bởi thực dân Anh. Để gìn giữ truyền lời Phật dạy, chư Tăng đã đề xướng, ủng hộ việc thành lập các Hội thúc đẩy công cuộc Hoằng pháp, với mục tiêu trước mắt duy trì các kỳ thi chính thức. Đầu tiên, Hội Cetiyagaṇa Pariyatti Dhammānuggaha được thành lập tại Yangon vào năm 1894. Kế đến, Hội Pariyatti Sāsanahita được thành lập tại Mandalay vào năm 1898. Dựa trên sở các giáo trình cách thức thi cử như trong thời vua Mindon, các Hội đề ra cách thức kiểm tra mới để chọn lọc ra các Giảng ưu tú. Tuy nhiên, vào năm 1895, Chính phủ cũng đã cho tổ chức lại kỳ thi Pathamapyan.
Kỳ thi Giảng của hai Hội đồng Cetiyagaṇa Sakyasīha dành cho 2 cấp độ: học viên giáo viên. Học viên đòi hỏi c khoảng 7 năm học Pháp, giáo viên 15 năm. Về sau, c thêm nhiều Hội khác được thành lập theo mô hình này, tổ chức các kỳ thi như vậy tại các thành phố lớn của Myanmar.
Bên cạnh đ, cả hai Hội đồng Sakyasīha Cetiyagaṇa cũng tổ chức các kỳ thi về Năm bộ Kinh - Nikāya. Các ứng viên phải thi
 

xong một bộ Kinh trước khi dự thi bộ Kinh khác. Tương tự, hàng năm, Chính phủ cũng tổ chức thi Năm bộ Nikāya.
  1. KỲ THI TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PĀLI
Hàng năm vào tháng 12, kỳ thi Tipiakadhara Tipiakakovida được tổ chức trong 33 ngày tại Thạch động Mahāpāsāna, tại hang đá này từng tổ chức Kỳ kết tập Tam tạng lần thứ 6, gần trụ sở Bộ Tôn giáo tại Kaba Aye, tnh phố Yangon. Kỳ thi đu tiên đã được tchức vào 1948 đã tiếp tục cho đến ngày nay. Hai kỳ thi này được xem cấp cao nhất trong các kỳ thi Phật học tại Myanmar thí sinh những tăngMyanmar đã thi đậu bằng Phật học Cao cấp (Pathamakyi) hoặc bằng Pháp (Sakyasīha) do giáo hội Tăng già tổ chức tại Mandalay và Cetiyagaa tổ chức tại Yangon.
Kỳ thi Tam tạng chia làm hai phần4: thi đọc tụng và thi viết. Thi đọc tụng kéo dài 24 ngày, mỗi ngày Tăng sinh phải trả bài thuộc lòng 150 trang, chia làm 9 tiết (một tiết 15 phút), mỗi Tăng thí sinh c 3 giám khảobài (hai giám khảo Tăng 1 giám khảosĩ), trong lúc trả bài được giám khảo nhắc không quá 5 lần, nếu nhắc hơn 5 ln thì xem bị thi rớt phần đọc tụng. Tng số trang học thuộc lòng là
8.026 trong Tam tạng Thánh điển (Tipiaka). Vị Tăng thi đậu phần đọc tụng được dâng tặng danh hiệu cao quý: Tipiakadhara (Bậc thông thuộc Tam tạng). Thời gian 24 ngày thi đọc, tiếp theo phần thi viết; mỗi bài viết gồm 12 câu, Tăng sinh ch trả lời 10 câu, mỗi câu 10 điểm, tổng cộng 100 điểm, 90 điểm trở lên (loại xuất sắc) 75 điểm điểm đậu. Sau khi đậu phần thi viết, vị ấy được dâng tặng danh hiệu cao quý: Tipiakakovida (Bậc thông suốt Tam tạng).5
Vị đầu tiên vượt qua kỳ thi Tipiakadhara Mingun Sayādaw vào 1953.6 Cho đến hôm nay trải qua 71 kỳ thi, c hơn 10.000 Tăng

  1. U Aung Thein Nyunt, “A Study of Tipitakadhara Selection Examination in Myanmar” (International Conference of All Theravāda Buddhist Universities, Yangon, 2007), http:// atbu.org/node/10
  2. Sđd, tr.13.
  3. d, tr.26.
 

thí sinh tham dự nhưng chỉ c 14 vị Tăng Myanmar tôn kính đã nhận được những danh hiệu cao quý này, đây thành tựu đặc biệt, niềm tự hào cho đất nước con người Myanmar.
  1. CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO
Trong nỗ lực tnh lp trường Đại học Pht giáo theo phương pháp hiện đại, quy mô lớn chất lượng cao hơn so với các mô hình giáo dục tại tu viện lúc bấy giờ, Hòa thượng Vicittāsāra, Bậc thông thuộc Tam tạng - Tipiakadhara đu tiên, đã đề xướng mở Trường Đại học Pht giáo đu tiên vào m 1986, được gi là Trường Đại học Pariyatti Sāsana, c chi nhánhYangon Mandalay.
Hai trường đại học Phật giáo giảng dạy bằng tiếng Miến, với ba cấp bậc: (1) Kha Pháp tương đương Cử nhân (Dhammācariya),
(2) Kha “Đại pháp sư” tương đương Thạc (Mahādhammācariya) (M.A.), (3) Kha Tiến(Pāragū).
  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HOẰNG TRUYỀN PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Vào ngày 9/12/1998, Trường Đại học Quốc tế Hoằng truyn Phật giáo Nguyên thủy, viết tắt ITBMU (International Theravāda Buddhist Missionary University) chính thức đi vào hoạt động. Trường ta lc trên ngọn đi Dhammapāla, qun Mayangone, tnh phố Yangon. Đây là trường Đại học Pht giáo duy nht do Chính phủ thành lập tài trợ hoàn toàn. Mục tiêu chủ yếu muốn bảo tồn truyền Phật giáo Nguyên thủy đến các quốc gia trên thế giới cũng như để thúc đẩy việc tìm cầu, nghiên cứu các kinh văn Phật giáo Tam tạng Pāli giảng bằng tiếng Anh, duy trì truyền lời Phật dạy, cả pháp học lẫn pháp hành, cho tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi. Các vị Tăng, Ni bản xứ nào c bằng Giảng mới được dự thi tuyển vào trường.
Chương trình Giáo dục Pht giáo tại Trường Đại học quốc tế Hoằng truyền Phật giáo Nguyên thủy (ITBMU) như sau:
C bốn phân khoa: Pháp học, Pháp hành, Tôn giáo học, Ngôn ngữ học. Mỗi phân khoa gồm c các môn học như sau:
 
 
    1. Pháp học gồm: Kinh, Luật, Vi diệu Pháp (Luận), Văn hoá lịch sử Phật giáo.
    2. Pháp hành gồm: thuyết thực hành cả hai phương pháp thiền: Thiền định (Samatha) Thiền quán (Vipassanā).
    3. Tôn giáo học gồm: nghiên cứu các tôn giáo trên thế giới; phương pháp duy trì, truyền Phật giáo. Phương pháp viết bài nghiên cứu cho các sinh viên hậu đại học cũng bao gồm trong phân khoa này.
    4. Ngôn ngữ học gồm: Pāli, Saskrit, Myanmar, Pháp, Đức, Nht, Trung Quốc, v.v(Pāli, Saskrit và Myanmar là những môn học bắt buộc, các ngoại ngữ khác sinh viên được quyền chọn một).
Trình độ học được chia tnh bốn cp như sau: Diploma (Dip.): 1 năm, Cử nhân (B.A.): 2 năm, Thạc(M.A.): 4 năm, Tiến(Ph.D.): 5 năm.
Nghiên cứu sinh Thạcnăm thứ nhất, học kỳ I viết bài từ 25 đến 30 trang, học kỳ II thi các môn đã học; năm thứ hai viết bài khoảng 50 trang vẫn phải thi trong học kỳ II; năm thứ ba chỉ viết luận án từ 100 trang trở lên; năm thứbảo vệ luận án. Sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ, nếu muốn học tiếp chương trình Tiến(Ph.D), sinh viên phải tham dự kỳ thi tuyển sinh Tiến sĩ được tổ chức tại trường. Nếu thi đậu trong kỳ thi tuyển sinh, sinh viên phải trình bày đề tài phương pháp nghiên cứu luận án (PhD. Proposal) đến Hội đồng học vụ trường đại học, khi được chấp thuận các nghiên cứu sinh bt đu tìm tài liu và viết đề tài đã chọn.Trong ba m, mi m các nghiên cứu sinh phải hội thảo chuyên đề (Seminar) một lần để trình bày những mình đã viết cũng để nhận sự gp ý từ các giáo chuyên môn. Năm kế nộp luận án khoảng 250 đến 350 trang, bảo vệ luận án.
Hiện nay c hơn 20 trường đại học Phật giáoMyanmar. Hệ thống Giáo dục đào tạo Tăng Ni tại Myanmar ngày càng phát triển và hoàn thin hơn, hu hết tập trung tại tnh phố lớn như Yangon,
 

Mandalay, Sagaing. Đặc biệt, c các trường đại học theo mô hình của đại học Phật giáo cấp quốc gia quốc tế: (1) State Pariyatti Sāsana University, Yangon; (2) International Theravāda Buddhist Missionary University (ITBMU), Yangon; (3) Yangon Buddhist University, Yangon; (4) Sitagu International Buddhist Academy (SIBA), Sagaing; (5) Shan State Buddhist University (SBU), Taungyi; (6) Mettānanda Sāsana College (MSC), Yangon; và (7) Dhammata Chekinda University (DCU), Hmawbi. Trong snày hai trường (1) (3) dạy bằng tiếng Myanmar, năm trường còn lại dạy bằng tiếng Anh.
Ngoài ra, việc giáo dục Phật giáo vẫn đang diễn ra trong từng tự viện theo quy mô vừa nhỏ riêng. Theo thống năm 20187, số tự viện Phật giáo tại Myanmar 66.664. Tại các trường thiền chuyên về pháp hành thì việc giảng dạy Phật pháp liên quan đến việc thiền tập theo chương trình riêng mỗi ngày hoặc mỗi tuần. Theo truyền thống Myanmar, việc tham dự các kha tu thiền được xem như một nhu cầu tâm linh, một nét văn ha phổ biến. C khoảng hơn 1.150 trung tâm thiền trong cả nước Myanmar.8 Ch riêng vùng Yangon đã c 97 trung tâm thiền,9 hầu hết các nơi triển khai pháp thiền nổi tiếng như Mahāsi, Ledi, Mogok, Sunlun, Goenka Theingu.
  1. KẾT LUẬN
Tại Myanmar, giáo dục Phật giáo tập trung vào ngôn ngữ i Vi Diệu Pháp - Abhidhamma, nhằm đặt nền tảng cho việc học hiểu Tam Tng đúng đn, chuyên sâu.
Lịch sử cho thấy rằng mãi cho đến thời điểm diễn ra Kỳ kết tập Tam tạng lần thứ 6, cả hai hệ thống giáo dục Phật giáo chính thức


  1. “The Consensus of Monks and Nuns (2015)”, Ministry of Religious Affairs and Culture, 2015; “The Consensus of Monks and Nuns (2018)”, Ministry of Religious Affairs and Culture, 2018.
  2. Hla, Myint, “Tradition of Meditation Practices and Well-known Meditation Teachers in Myanmar” 2012, tr. 150.
  3. “The Consensus of Meditation Centers in Yangon” (2018), Ministry of Religious Af- fairs and Culture, 2018.
 

không chính thức vẫn tồn tại song song, mặc dù chế độ chính thức phổ biến hơn. Hiện nay hệ thống không chính thức cũng được coi là có hiu quả trong vic phổ biến Tam Tng trải khắp mi min đt nước. Với phương pháp học thuộc lòng ngay giai đoạn đầu tiếp cận,chưa được giải thích tường tận, các tu sĩ vẫn c thể ghi nhớ ngôn ngPāli và Tam Tng trong thời gian trung bình mười m.
Các kỳ thi chính thức c thể được xem như công cụ bảo tồn giáo dục Phật giáo, tuy nhiên hệ thống chính thức quan trọng vào thi cử tình làm giảm chất lượng giáo dục Phật giáo, chủ yếu nghiên cứu về ngữ pháp i Abhidhamma. Nếu ngược dòng lịch sử về thời Đức Phật thì Giáo pháp được giảng giải, trao truyền trực tiếp cho Tăng, Ni, Phật tử, bởi chính Ngài hoặc các Thánh đệ tử. Ngày nay, hệ thống giáo dục Phật giáo không chính thức hầu như không được chú trọng đúng mức, nên mai một dần.
Ngoài các trường Đại học Phật giáo quy mô lớn,  hiện  nay Giáo dục Phật giáo tại Myanmar còn được tiến hành thông qua các lớp đào tạo vừa nhỏ trên mọi miền đất nước, được đánh giá chất lượng qua các kỳ thi Giáo lý chính thức: kỳ thi Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), kỳ thi Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), kỳ thi Năm bộ Nikāya. Về chương trình Phật học Phổ thông thì c kỳ thi Pathamapyan hiện gồm các bậc: bản (mūla), cấp (pathamange), Trung cp (pathamalat) và Cao cp (pathamakyi). Ở bậc cao hơn c Kha đào tạo Pháp (dhammacāriya), cao nhất Kỳ thi Tam tạng.
Nhìn chung Giáo dục Phật giáoMyanmar qua các giai đoạn lịch sử khác nhau đã thể hiện nhiều thành tựu tốt đẹp, giá trị, ý nghĩa, ấn tượng, bên cạnh những hạn chế không đáng kể. Nền giáo dục này đã gp phần duy trì niềm tin mạnh mẽ lâu dài nơi Tam bảo; khơi nguồn tinh tấn học hỏi nghiên cứu Giáo pháp; nỗ lực thực nh, áp dụng nhng Lời vàng của Đức Thế Tôn; thắp ngọn Tuệ đăng ngày một sáng cho tự thân mỗi hành giả, cho số đông, tương tục nối truyền cho các thế hệ tương lai. Các thành tựu quá khứ lồng trong bức tranh hiện trạng, hầu hết người dân cả nước
 

nơi đây vẫn đang duy trì phát triển Phật giáo đi lên,c đôi khi phải điều chỉnh một số khía cạnh cho phù hợp với hướng đi chung của nhân loại. Mục tiêu vẫn luôn hướng đến lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho tất cả!




***




Tài liệu tham khảo
Aung, Cho Cho, The Important of Promoting Buddhist Education, Research Paper presented at United Nations Day of Vesak in Vietnam, 2008.
Aung, U Thein Nyunt, “A Study of Tipitakadhara Selection Examination in Myanmar, International Conference of All Theravāda Buddhist Universities, Yangon, 2007.
Bischoff, Roger, Buddhism in Myanmar, Sri Lanka: Buddhist Publication Society, 1995.
Dhammasami, Khammai, Between Idealism and Pragmatism: A Study of Monastic Education in Burma and Thailand from the Seventeenth Century to the Present, University of Oxford, 2004.
Gerini, G.E, Siams Intercourse with China, The Imperial and Asiatic Quarterly Review, 1901, vol xi.
Hla, Myint, Tradition of Meditation Practices and Well-known Meditation Teachers in Myanmar, 2012.
Nyunt, Khin Maung, Arrival of Buddha Sasana in Myanmar, Yangon, 2003.
The Consensus of Meditation Centers in Yangon (2018), Ministry of Religious Affairs and Culture, 2018.
The Consensus of Monks and Nuns (2015), Ministry of Religious Affairs and Culture, 2015.
The Consensus of Monks and Nuns (2018), Ministry of Religious Affairs and Culture, 2018.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây