1. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO: SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN

Thứ sáu - 06/12/2019 20:23
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO: SỰ KẾ THỪA PHÁT TRIỂN
 
HT. Thích Thin Nhơn
 
DN NHẬP
Tri thức, trí tuệ sở hữu của con người, từ bản được hình thành do hai yếu tố: Yếu tố ngoại tại môi trường, điều kiện, phương tiện, nội dung giáo dục; Yếu tố nội tại bản chất tiềm năng. Bản chất tiềm năng do sự đánh thức của yếu tố ngoại tại, từ đó hoàn thành tri thức trí tuệ, sở hữu của con người toàn diện, hoàn thiện, đạt đỉnh cao về mặt tri thức, trí tuệ. Từ đó, ấn định thành phần trong hội - thành phần trí thức, nhất trí tuệ giải thoát.
Trong nhng thập kỷ qua, hệ thống giáo dục con người, có thể nói đã củng cố, phát triển hệ thống hóa hoàn thiện, tùy theo điều kiệnhội, tập quán, phong tục, văn hóa, thể chế của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia khác nhau. Nhất là, kể từ năm 1945, Liên Hiệp Quốc hình hành quan Unessco - Văn hóa, Giáo dục, Khoa học, hội
- Liên Hiệp Quốc thì vấn đề giáo dục được củng cố, phát triển, hệ thống hóa sự lãnh đạo chung, lãnh đạo quốc tếnhằm mục đích củng cố , phát triển, hệ thống giáo dục ngày càng đạt hiệu năng kết quả hữu hiệu, mang tính khoa học hơn.
Đối với Phật giáo, từ khi Hội Liên Hữu Phật tử Thế giới hình


*. Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN.

thành năm 1950, một bộ phận phụ trách Ủy ban Giáo dục, các tổ chức Phật giáo mang tính quốc tế, đều Ủy ban Giáo dục trong hệ thống giáo dục mang tính quốc tế địa phương, cũng như chuyên môn về Phật học.
Đối với Phật giáo Việt Nam, từ năm 1930, công tác hình thành hệ thống giáo dục cũng đã được thành lập, mang tính đặc thù của dân tộc Phật giáo Việt Nam. Khái quát, thể thấy: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, Hội An Nam Phật học, Hội Lưỡng xuyên Pht học, Hi Pht giáo Bắc k, Tng hi Pht giáo Vit Nam, Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hơn 80 năm hình thành phát triển, chương trình giáo dục Phật giáo đã đi đến mức độ hoàn chỉnh hệ thống hóa toàn diện từ hình thức đến nội dung, nhấttrong giai đoạn tiếp cận, hội nhập quốc tế, hệ thống giáo dục Phật giáo cấp Cao đẳng Đại học luôn luôn tự hoàn thiện tìm tòi, kết thân với các môi trường giáo dục khác ngoài Việt Nam, nhất lãnh vực Giáo dục Phật học.
THÀNH QUẢ GIÁO DỤC
Trong 30 m qua, kể từ ngày tnh lp Giáo hi Pht giáo Vit Nam, thông qua Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương, hệ thống Giáo dục Pht giáo trong Giáo hi hin nay gồm các Trường Pht học như sau:
- 4 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội, TP. Hồ Chí Minh, Huế Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại TP. Cần Thơ. Trong đó, Học vin Pht giáo Vit Nam tại TP. HCMinh chưa chế độ nội trú, không sở. Hiện nay, Chính phủ, UBND Thành phố đã giao cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) 33 hecta đất Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh để xây dựng Học vin. Trong tương lai, Tăng Ni sinh của Học viện sẽ được nội trú hoàn toàn khi sở xây dựng xong.
+ Đã đào tạo 4.826 Tăng Ni sinh tốt nghiệp Cử nhân Phật học.
+ Đang đào tạo 1.684 Tăng Ni sinh.
 
  • 8 Lớp Cao đẳng Phật học: tại Nội, TP. Hồ Chí Minh, Huế, TP. Đà Nẵng, Lâm Đồng, Rịa - Vũng Tàu, Quảng Nam, Bạc Liêu, Đồng Nai.
+ Đã đào tạo: 1.056 Tăng Ni sinh.
+ Đang đào tạo: 690 Tăng Ni sinh.
  • Có 31 Trường Trung cp Pht học trong cả nước. Trong đó, 30 trường Tăng Ni sinh nội trú, chỉ TP. Hồ Chí Minh chưa chế độ nội trúkhông sở Tăng Ni sinh còn học chung một sở, chưa phân ra 02 phân hiệu như các Tỉnh, Thành hội Phật giáo khác.
+ Đã đào tạo: 7.315 Tăng Ni sinh.
+ Đang đào tạo: 2.611 Tăng Ni sinh.
+ Trung cp Pali có 98 Lp, gồm 3 Trường và 95 lớp. Có 5.197 Tăng sinh theo học. Đã đào tạo 2.700 Tăng sinh, đang đào tạo 2.195 Tăng sinh.
- 50 Lớp cấp Phật học:
+ Đã đào tạo: 3.500 Tăng Ni sinh.
+ Đang đào tạo: 2.500 Tăng Ni sinh.
+ 36 Lớp cấp Pali Khmer, 2.777 Tăng sinh theo học.
- Du học :
+ Hin có 476 Tăng Ni sinh du học tại các nước: n Đ, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Pháp, Miến Điện, Thái Lan, Srilanka…
+ trên 100 Tăng Ni tốt nghiệp chương trình Tiến sĩ, ThạcPht học tại các nước n Đ, Trung Quốc, Nht bnVới tnh quả giáo dục như hiện nay một tín hiệu đáng mừng cho nền giáo dục Phật giáo Việt Nam nói riêng, hệ thống giáo dục tại Việt Nam nói chung trong hiện tại chấp cánh cho mơ ước sự phát triển về ngành Giáo dục Phật giáo trong tương lai.
KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN HOÀN CHỈNH
Trên quan điểm sống tiếp nối quá khứ, chấp nhận hiện tại và 
ước vọng tương lai, đó vấn đề lịch sử không thể phủ nhận. Do đó, trước năm 1975, Phật giáo Việt Nam về giáo dục phổ thông, Viện Đại học Vạn Hạnh với 3 cấp Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ; nội dung giáo dục chia làm 6 Khoa: Phân khoa Phật học, Phân khoa Văn khoa, Phân khoa Khoa học hội, Phân khoa Giáo dục, Phân khóa ng dụng Khoa học xã hi và Trung m Ngôn ng(xem như một Phân khoa ngoại ngữ), tất cả đều áp dụng thể thức học trình tín chỉ, không theo thể thức niên chế. Về Phật học, Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm; nội dung giáo dục chia làm 3 cấp: Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ; phân làm các Ban: Ban Kinh, Ban Luật, Ban Luận, Ban Thiền… theo nội dung Tam tạng Kinh, Luật, Luận – Giới, Định, Tuệ áp dụng thể thức thi cử, niên chế với nội dung chương trình giảng dạy hoàn chỉnh hệ thống phát bằng Tốt nghiệp theo quy định của Tng vGiáo dục.
Qua đó, hiện nay GHPGVN thông qua Ban Giáo dục Tăng Ni, 30 năm hoạt động, hệ thống giáo dục đến nay tạm hoàn chỉnh cơ chế, hệ thống tổ chc. Chúng ta có: Lớp Sơ cp, Trường Trung cp, Lớp Cao đng (Trường), Học vinĐc bit, vừa qua Chính phủ đã cho phép GHPGVN mở thí điểm Cao học (M.A) tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh; từ đó sẽ mở rộng đến các Học viện khácba miền đất nước tiến đến Tiến(hay Nghiên cứu sinh bậc Tiến sĩ).
Từ sở này nhận thấy nội dung giảng dạy thể thức Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh áp dụng thể chế Tín chỉ, chia làm 10 Khoa: Khoa Pali, Khoa Phạn Tng, Khoa Triết học Pht giáo, Khoa Pht giáo Trung Quốc, Khoa Pht giáo Vit Nam, Khoa Lịch sử Phật giáo, Khoa Phật pháp Anh ngữ, Khoa Phật Pháp Hoa ngữ, Khoa Hoằng pháp, Khoa Đào tạo từ xa; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Nội, Huế, Cần Thơ chia làm nhiều Khoa, nhiều Ban: Khoa Kinh, Khoa Luật, Khoa Luận, Khoa Sử, Khoa Phật giáo Thế giới, Khoa Quản trị Hành chánh, Quản sở v.v… đều áp dụng thể chế thi cử, theo niên chế. Đặc biệt, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer Cần Thơ áp dụng thể chế tín chỉ. Nội dung giảng 
dạy theo truyền thống, cập nhật thích ứng nhu cầu giáo dục hiện tại. Như vậy, chưa sự đồng nhất, trên sở hệ thống tổ chức nội dung giảng dạy. Do đó, cần sự thống nhất về chế tổ chức, giáo trình chung cho 4 Học viện trừ Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, để đồng nhất, thống nhất về thể chế cùng hợp tác, giao lưu trao đổi kinh nghiệm giáo dục trong nước quốc tế trãi đều cho 4 Học viện (ĐHPG) của GHPGVN.
Hiện nay, rất nhiều Tăng Ni đã tốt nghiệp trong nước cũng như từ nước ngoài trở về Việt Nam đã tham gia công tác giảng dạy tại các sở giáo dục Phật giáo. Nhất Ban Giáo dục Tăng Ni đã Văn phòng khuôn dấu riêng. Do đó, để môi trường, mở rộng sự hoạt động đóng góp cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo của Tăng Ni sinh, Ban Giáo dục Tăng Ni cần phải cấu nhân sự, phân công trách nhiệm cụ thể hóa chức năng làm việc cho nhiều Tiểu ban, như: Tiểu ban phụ trách chương trình Đại học, Tiểu ban phụ trách chương trình Cao đng, Tiu ban phụ tch chương trình Trung đẳng, Tiểu học, Tiểu ban phụ trách khảo thí, Tiểu ban liệu, Tiểu ban Giao lưu, hợp tác phát triển quốc tế, Tiểu ban Thanh tra Giáo dục và Tiu ban Bảo trHọc đường v.v… do Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni quyết định bổ nhiệm nhân sự các Tiểu ban. Từ đó, các Tiểu ban hoạt động theo từng chức năng, lãnh vực đương nhiệm phát triển theo chiều sâu, chiều rộng chiều cao ngang tầm với hội và giáo dục quốc tế trong thời kỳ hội nhập và phát triển của thế kỷ 21 những thế kỷ tiếp theo.
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
  • Chương trình cấp Phật học như đã ban hành. Chú trọng các môn học căn bn, dồn m thứ nht Trung cp xuống m thhai cấp, thời gian học 2 năm. Nếu cần thể thêm 1 năm học nâng cao, gồm 10 môn, 18 tiết/tuần, với các môn học như Kinh, Luật, Luận, Văn, Sử, Cổ ngữ, Khái quát về Nghi lễ.
  • Chương trình Trung cp Pht học, để tiết kim thời gian, nht trình độ của Tăng Ni Phật giáo Việt Nam đã được nâng cao, do đó, thời gian học 03 năm cần giảm bớt những môn không quan trng và chú trng đến nhng phần mang tính Trung cp Pht học chuyên sâu. Ti thiu học 10 môn, gm: 4 môn Kinh, Lut, Lun, 2 môn Văn, Sử Sinh ngữ, Cổ ngữ, Tin học, Lịch sử Việt Nam, Luật pháp (Sinh hoạt ngoại khóa) = 10 môn = 22 tiết/tuần.
    - Chương trình Cao đẳng Phật học nên mở chuyên ngành, năm đầu học đại cương tổng quát Kinh, Luật, Luận, Sử v.v…, nâng cao trình đchuyn tiếp tTrung cp, sang năm thhai, ba học chuyên ngành: Giáo dục, Hong pháp, Nghi l, Hành chánh Qun tr, Trtrì v.v
    Nếu chương trình Cao đẳng Phật học tương đương Đại học trên Trung học, thì chương trình các môn học kng cho trùng lập với Học viện Đại học Phật giáo. như thế, khi vào Học viện, Tăng Ni sinh không phải học lại các môn học cũ, được học những môn học hoàn toàn mới trên tinh thần thể thức liên thông tín chỉ với Học viện. Chương trình này hoàn toàn độc lập với hệ thống Trường Cao đẳng Pht học khu vc như Hi Png, Huế, TP. H Chí Minh, miền Tây (Bạc Liêu), tại Cần Th đã Phân viện Học viện của Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh.
    Chương trình Học viện cấp Cử nhân 4 năm, như Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh áp dụng thể chế tín chỉ cấp Cử nhân; mỗi khoa 131 tín chỉ, mỗi tín chỉ 15 tiết. Các Học viện khác còn tùy thuộc vào thời gian điều kiện cho phép, do đó nội dung giảngdy chưa đồng nhất vàstiết dycũng chưa được phânđiu theo quy định. vậy, cần sự thống nhất về số tiết, chương trình, nội dung giảng dạy tại các Học viện khi điều kiện cho phép.
    GIÁO DỤC HƯỚNG NỘI
    Để quân bình tư tưởng, tạo điều kiện cho Tăng Ni sinh sống quán chiếu, xoay về nội tâm, an lạc, giải thoát trong lộ trình tu học của người con Phật, trước năm 1975, Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm một Thiền đường, Đại học Vạn Hạnh một Thiền đường để Tăng Ni sinh, sinh viên tọa thiền chỉ quán từ 30 phút đến 1 tiếng. Sau năm 1975, nhất khi thống nhất Phật giáo Việt Nam cả 
    nước m 1981, tại Trường Trung cp Pht học, Học vin từ khóa 1 đến khóa 4, Hòa thượng Hiệu trưởng, Hòa thượng Viện trưởng cho Tăng Ni sinh tọa thiền 30 phút tại Chánh điện Th   n viện Vạn Hạnh.
    Do đó, các Trường Trung cp Pht học, Học vin Pht giáo phải sở nội trú Thiền đường cho Tăng Ni sinh tọa thiền tĩnh tâm, như Hương Hải Thiền nói: “Hằng ngày nên quán sát lại mình. Xét nét cho cùng chớ dễ khinh. Không tìm tri thứctrong mộng. Thy sẽ thy trên mt mình. Muốn đt được mục đích y, các cơ sTrường, Vin phải có Thin đường để Tăng Ni sinh tịnh m Niệm Phật, quán chiếu v.v….
    Bằng tinh thần kế thừa truyền thống giáo dục từ giáo lý Đức Phật ngàn xưa, Liệt vị Tổ cận đại các nhà giáo dục đương đại, chắc chắn tầm vóc nội dung, môi trường giáo dục Phật giáo luôn luôn khởi sắc, sinh động phát triển theo hướng đi lên mở rộng mọi mặt thuộc các lĩnh vực giáo dục Phật học, Khoa học hội, Khoa học nhân văn, Công nghệ thông tin, Ngôn ngữ, Thư pháp học cũng như nhiều lĩnh vực khác của hội thế giới đặt ra, giáo dục Phật giáo phải quan tâm theo dõi, nắm bắt kịp thời để điều chỉnh hợp lý và sáng to theo từng khu vực, quốc gia và Tông phái Phật giáo Việt Nam thế giới theo chiều hướng chuyển hóa nội tâm, khai thông tâm trí, phát huy tuệ lực, năng lượng giải thoát cho chính mình cho con người, cho chúng sanh nhân loại bằng con đường giáo dục Giới, Định, Tuệ. Đó mục đích cứu cánh của Giáo dục Phật giáo từ xưa đến nay mãi mãi về sau.
    Trên đây một số vấn đề góp ý cho công tác củng cố phát triển ngành Giáo dục Phật giáo của nhiệm kỳ mới, nhằm kế thừa ngọn đèn trí tuệ tiêu chí của nền Giáo dục Phật giáo, của người làm công tác giáo dục đối tượng được đào tạo. Để từ đó mở ra một chân trời giải thoát, giác ngộ tự thân, cho con người cho chúng sinh. thể nói, tất cả đều được thiết lập khởi động từ công tác giáo dục Phật giáo, sẽ góp phần thực hiện hiệu quả chương trình hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VII (2012 - 2017) của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hi Pht giáo Vit Nam trong tương lai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây