07. BA NGUYÊN TẮC CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Thứ sáu - 06/12/2019 05:50
BA NGUYÊN TẮC CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
 
ĐĐ. Thích Thanh Nguyên
 
Từ lâu, nền giáo dục ở Mỹ luôn đứng hàng đầu thế giới. Sở dĩ, được sự thành công như vậy, giáo dục Mỹ được đặt nền tảng trên ba nguyên tc: (1) Who are my students? (Trình độ của sinh viên như thế nào?)1; (2) What do they need? (Họ cần gì?); (3) What do we want them to learn? (Ta nên trang bị cho họ những gì?). Đây chính ba nguyên tắc đã đưa nền giáo dục Mỹ lên đỉnh cao của thời đại. Vây, nền giáo dục Phật Giáo (GDPG) của chúng ta đang trong giai đoạn nào? thể nói, chúng ta chưa dám tự tin tuyên bố rằng nền GDPG đã đạt tới đỉnh điểm của thành công. GDPG muốn đạt được kết quả như nền giáo dục của nước Mỹ cũng cần phải bảo đảm nhng nguyên tc trên. Trong bài tham lun này, chúng con/tôi sẽ trình bày ba nguyên tắc đem lại sự thành công cho GDPG hiện nay.
TẠI SAO BA NGUYÊN TẮC?
Như đã biết, Đức Phật một nhà giáo dục đại nhất trong lịch sử từ xưa đến nay. Sự giáo dục của Ngài không ngằn mé tức không bất kỳ sự phân biệt nào đối với tất cả mọi người, mọi giai


1. Ở đây, người viết dịch ý chứ không dịch chữ. Mỹ được gọi Hiệp Chủng Quốc. Do đó, trong một lớp học, sinh viên gồm nhiều thành phần: người Mỹ, người Á Châu, hay người Âu Châu với nhiều văn hóa, trình độ, nhận thức khác nhau. vậy, người Giáo sSư phải biết dung hoà nắm bắt được trình độ sinh viên của mình để bài giảng phù hợp chung cho mọi đối tượng.
 
tầng xã hội. Trong Kinh Thành p thuộc Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật dạy rằng, Ngài đã tìm ra đi trọn vẹn trên Con đường cổ xưa các Đức Phật quá khứ đã từng đi qua. Ngài khẳng định tiếp: Con đường cổ xưa này không bao giờ bị lỗi thời. Nghĩa là: “Quá khứ chư Phật đã dạy như thế, vị lai chư Phật sẽ dạy như thế, và hiện tại Ngài cũng đang dy như thế. Rõ ràng, nhng gì Đức Pht đóng góp cho nền giáo dục ngày nay không khác với những đã cống hiến cho nhân loại suốt 25 thế kỷ qua. Như vậy, phương pháp vai trò của Giáo dục Phật giáo đã khá ràng đầy đủ, thiết nghĩ không cần phải bàn thêm. Vậy, chúng ta cần thảo luận đây để thấy được vai trò của Giáo dục Phật giáo trong thời đại hiện nay? Theo chúng con/tôi, vấn đề vai trò cần thảo luận chính chúng ta. Đơn giản chính chúng ta bối cảnh hội hiện tại làm nên một Giáo dục Phật giáo đương thời. Sau đây, chúng con/tôi sẽ lần lượt trình bày ba nguyên tắc đem lại sự thành công cho nền Giáo dục Phật giáo.
  1. KHÍA CẠNH PHÁP NÀO NÊN TUYÊN THUYẾT?
Thực trạng:
Như đã biết, sau khi Thành Đạo, Đức Phật đã do dự không muốn đem “sở ngộ” của mình để truyền dạy cho nhân loại. do đơn giản Ngài không tìm thấy điểm tương đồng giữa “sở ngộ” của Ngài hướng đi của nhân loại. Nhưng, tinh thần Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, Ngài đã dấn thân hoàn thành sứ mạng giáo dục của mình. Bằng chứng hùng hồn Giáo Pháp của Ngài đã được rộng rãi tuyên thuyết. Ngài cũng đã thành lập Tăng đoàn với đầy đủ bốn chúng trong đó hàng ngàn hàng vạn vị chứng đắc Thánh quả.
Thực trạng ngày nay chúng ta đang đối mặt cũng không khác so với thời điểm Đức Phật mới thành đạo. Chúng ta đang sống trong thời văn minh, khoa học, tiến bộ hơn hẳn thời Đức Phật còn tại thế. Chính cuộc sống đô thị văn minh này cùng với những cám dỗ đã lấy đi rất nhiều thời gian tu tập. Do đó, thời nay vạn người tu một người chứng cũng thật khó tìm thấy. Nhất tại hội Tây Phương, cụ thể nước Mỹ, con người sống thực tế hơn. Với 
lối sống này, chân lý của một học thuyết được đánh giá bởi thành công thực tế của nó. Cho nên, hành động thực tế không gắn liền với nguyên tắc bất biến.
Niết-bàn tưởng Thánh quả tuyệt đối. Để hướng đại chúng đến được đích Niết-bàn hay để đắc Thánh quả, chúng ta phải nhấn mạnh đến một nền giáo dục xuất ly thế gian, trong đó mọi người phải từ bỏ thân hình giả tạm này hay cần phải dụng công tu tập để chấm dứt vòng luân hồi sinh tử. Nhưng, ngày nay chúng ta không bằng chứng thích đáng để chứng minh. Như vậy, nền giáo dục xuất thế gian này, dường như đang đi ngược dòng với cuộc sống trong thời đại hiện nay. Tức là, chúng ta cũng không tìm thấy điểm tương đồng giữa giáođạo Phật quan điểm hội ngày nay.
Giải pháp:
Sau một thời gian tư duy thiền định, Đức Phật đã quyết định dấn thân trên con đường giáo dục. Ngài đã tùy cơ thuyết pháp. Tuy nói rằng Giáo pháp của Ngài thuần một hương vị giải thóat nhưng Ngài vẫn luôn hướng nhân loại đến một cuộc sống ấm no hạnh phúc thông thường. Giáo Pháp của Ngài hướng đến ba mục tiêu:
Hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại theo thế gian pháp Hạnh phúc cho những kiếp sống vị lai
Hạnh phúc của Niết-bàn tối hậu
Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa thực tế trở thành công cụ thể để xác minh cho chân lý của một học thuyết. Niết-bàn Thánh quả những kết quả của học thuyết giáo dục của Đức Phật. Những học thuyết này ngày nay chúng ta không chứng minh được. Như vậy, trong ba mục tiêu vừa kể trên, mục tiêu thứ hai thứ ba (Hạnh phúc cho những kiếp sống vị lai hạnh phúc của Niết-bàn tối hậu) lẽ không thích hợp để nhấn mạnh. thế chúng con/tôi cho rằng mục tiêu thứ nhất (Hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại theo thế gian pháp) cần được nhấn mạnh hơn bao giờ hết trong GDPG thời kỳ hiện nay.
 
Chúng con/tôi xin đơn cử dụ. Khi nói đến Niết-bàn giải thóat, chúng ta nghĩ ngay tới sự tự do thóat khỏi sự chế ngự của Tham- sân-si, Chấp thủ, kiến, Tự ngã, Sinh tử luân hồi. Con đường tu tập của chúng ta kết thúc với sự chứng ngộ chântối hậu Niết-bàn ngoài ra không còn hơn thế nữa. Tức là, chúng ta đạt đến tri kiến hoàn toàn giải thóat của “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, nhng vic nên làm đã làm, kng còn trở lui trng thái này na.2
Con đường tu tập này hoàn toàn đúng nhưng quá lý tưởng trong thời kỳ hiện nay. Nếu chúng ta thể nhấn mạnh đến những tiềm năng thể đạt được ngay trong cuộc đời này của Niết-bàn giải thóat thì chân này sẽ gần gũi và không xa vời quần chúng. Chẳng hạn, chúng ta nỗ lực tu tập để giải thóat. từ giải thóat, chúng ta xích lại gần nhau hơn, thương yêu hơn, đùm bọc nhau hơn, được cuộc sống hòa bình an ổn không bạo động hơn.
Hơn nữa, theo như định nghĩa về Niết-bàntưởng thì chúng ta cần phải dẹp bỏ Tự ngã. Nhưng trong GDPG của “Hạnh phúc theo thế gian pp, chúng ta cn phải chú trng đến Tngã, ôm p, và vỗ về nó. Về mặt này, Hòa thượng Th Nhất Hạnh thể được coi mộtdụ. Hoà thượng đã nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh thế gian pháp của giáo đạo Phật đã những sự thành công nhất định.
Như thế, trong ba phương diện giáo lý của Đức Phật, phương diện thứ nhất (Hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại theo thế gian pháp) cần được nhấn mạnh cho nền GDPG hiện nay. Đến đây, chúng ta sẽ xét đến nguyên tắc thứ hai. Đó là: hiểu được xu hướng người nghe muốn gì.
  1. HIỂU ĐƯỢC XU HƯỚNG NGƯỜI NGHE MUỐN GÌ?
Tham chiếu
Sau khi xác định được trình độ của sinh viên, tiến thêm một bước nữa, nền giáo dục Mỹ nhắm thẳng đến nhu cầu của họ. Tức sinh viên muốn gì? (What do they need?). Nhờ xác định được nhu




2. Trung Bộ Kinh - Kinh dụ tấm vải số 7.
 

cầu của sinh viên nền giáo dục Mỹ không cần rườm luôn đạt hiệu quả cao.
Liên hệ
Chúng ta cũng vậy! Đành rằng phương diện thứ nhất (Hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại theo thế gian pháp) Giáo Pháp cần được nhấn mạnh cho nền Giáo dục Phật giáo hiện nay. Tuy nhiên, không phải những người làm công tác giáo dục muốn nói thì nói trong phạm vi này. Chúng ta cần xác định được xu hướng thời đại người nghe muốn những gì? Nếu không, sự giáo dục của chúng ta sẽ thể đối mặt với thất bại. Hoặc giả chút ít thành tựu thì không đáng kể so với công sức chúng ta bỏ ra.
Chúng con/tôi xin được đưa ra dụ. Ai trong chúng ta cũng biết Thiền định phương pháp tu tập rất thiết yếu phổ biến trong đạo Pht. Trước khi Đức Pht tnh đo, muôn người tu Thin định, mà chứng đắc thượng Bồ-đề thì chỉ một mình Ngài. Nguyên nhân chính cho sự thất bại của “muôn người” này do họ mong cầu tu tập cho bản ngã của họ. Còn Đức Phật thì từ bỏ bản ngã dấn thân tu tập giải quyết nỗi khổ sinh tử cho toàn nhân loại. Do đó, Đức Phật đã đi trọn vẹn trên con đường Giới-định-tuệ của Ngài.
Hoàn cảnh hội hiện nay cũng tương tự. Một lối tu tập Thiền định chân chính như Đức Phật sẽ khó được hấp thụ khó hấp dẫn được mọi người. Tuy nhiên, hãy thử hình dung rằng ở một góc phố nào đó, thậm chí hang cùng ngõ hẻm xa xôi nào đó, một người tu định đắc được chút ít thần thông. Chẳng hạn, người này thể đoán được tương lai của chúng ta: Hoạ phước như thế nào, con cái ra làm sao, và gia cnh sẽ như thế nào? Trường hợp này có thể nói khá giống với trường hợp của Ngài Đề-bà-đạt-đa. theo như Đức Phật, con đường tu tập này không phù hợp với Chánh Pháp. Nhưng, không nói chúng ta cũng thể hình dung được chuyện sẽ xảy ra. Chúng con/tôi đảm bảo 100% ai nghe thấy cũng sẽ tới thăm viếng.
Nói đến đây, ý chúng con/tôi không phải khuyến khích chúng 
ta hùa theo xu hướng của đại chúng. Như vậy, rất nguy hiểm bởi chúng ta đang hướng cho đại chúng hành bất thiện. hành bất thiện thì sẽ quả báo như đã thấy qua hình ảnh của Ngài Đề-bà- đạt-đa. Do đó, nói trúng xu hướng nhu cầu của đại chúng quan trọng nhưng phải lợi lạc cho họ bây giờ mai sau. Nói một cách khác, chúng ta thu hút đại chúng bằng những vấn đề họ quan tâm để họ tin tưởng chúng ta. Nhưng, chúng ta phải sử dụng niềm tin đó để tiếp tục hướng đại chúng theo con đường chánh pháp nhằm tránh cho cả chúng ta đại chúng lạc đường.
Trong ví dụ về Thin định vừa nêu trên, li tu tập Thin định chuẩn mực hướng đến Niết-bàn tối hậu cũng như lối tu định mê hoặc quần chúng đều không tương thích cho nền GDPG hiện nay. Vậy, chúng ta hướng dẫn môn học Thiền định này như thế nào cho phù hợp?
Vẫn một quan điểm như trước, chúng ta nhấn mạnh đến phương diện giáo dục thế tục của Thiền định. Chẳng hạn, không ai trong chúng ta ngồi đây không muốn trẻ lâu khỏe mạnh. Người già thì muốn được dẻo dai khoẻ mạnh, người trung niên thì mơ ước mình chỉ đang ở độ tuổi đôi mươi. Còn những người đang ở độ tuổi trẻ trung của đôi mươi thì mong muốn tuổi thanh xanh sẽ còn mãi. ràng, xu hướng của đại chúng muốn được trẻ trung mạnh khoẻ mãi mãi.
Vậy, thay đề xướng lối tu tập Thiền định chuẩn mực hướng đến Niết-bàn tối hậu cũng như lối tu định mê hoặc quần chúng, chúng ta nhấn mạnh tiềm năng thể đạt được ngay trong cuộc đời này của Thiền định chẳng hạn như nhắm thẳng vào xu thế “muốn trẻ đẹp” của thời đại. Rằng: căng thẳng một “tên trộm nhan sắc hay tên trộm của sự trẻ trung.” Thin tập là một phương thuốc đa năng, chìa khóa để giúp chúng ta đặc biệt phụ nữ đẹp hơn, trẻ hơn, hạnh phúc hơn v.v… Làm được như vậy, chắc chắn Thiền định sẽ thu hút làm lợi lạc được rất nhiều người. Còn rất nhiều lợi ích thiết thực theo hướng thế gian pháp của Thiền định (một phương thức tu tập hướng đến giải thóat giác ngộ) thể được nhấn mạnh 
trong thời đại hiện nay như để xả hay giảm sự căng thẳng, chế ngự trầm cảm, vượt qua khó khăn thử thách, hay chế ngự nóng giận v.v…
hội thì muôn hình muôn vẻ. Do đó, mỗi một khía cạnh của hội yêu cầu một lối tu tập hay một khía cạnh về Giáo Pháp khác nhau để sự tương thích. Phạm vi của một bài tham luận không thể đề cập hết được. dụ cụ thể về Thiền định ở trên chính thay cho muôn lời cần diễn đạtđây.
Tóm lại, nguyên tắc cần quan tâm thứ hai nhằm tạo nên một vai trò đúng đắn đối với Giáo dục Phật giáo đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt cập nhật thời đại. Nói một cách khác, phải khảo sát thị trường để biết được người nghe muốn gì. Chúng ta không thể trao cho thời đại những thứ họ không cần. Đến đây, nguyên tắc thứ ba của Giáo dục Phật giáo cần được làm sáng tỏ. Đó là: Chúng ta muốn trao cho cuộc đời.
CHÚNG TA MUỐN TRAO GÌ?
Tham chiếu
Sau khi khảo cứu về năng lực trình độ cũng như nhu cầu thiết thực của sinh viên, nền giáo dục Mỹ tiến thêm một bước quan trọng. Đó quan sát sự thiếu hụt của sinh viên để trang bị cho họ những kiến thức kỹ năng để kiện toàn lỗ hổng này. Nói một cách khác, đến đây nền giáo dục Mỹ mới xác định nên cung cấp những kiến thức cho sinh viên của mình. Nhờ chú trọng đến ba phương diện này nền giáo dục Mỹ đã đạt đến đỉnh điểm của thành công luôn đứng hàng đầu thế giới.
Liên hệ
Cũng cách tư duy như vậy, sau khi nhận định được “khía cạnh Pháp nào nên nhấn mạnh” “biết được người nghe muốn gì, chúng ta phải xét xem Pháp được nói ra có nhắm vào nhng khúc mắc hay những khổ đau con người thời nay đang phải đối mặt không? Giáo dục Phật giáo có thể làm được để giải quyết những vấn đề này.
 

Trên thực tế, ba nguyên tắc của nền giáo dục Mỹ hiện nay không phải là mới mẻ. Cách đây hơn 25 thế kỷ, ba nguyên tắc này đã được Đức Phật áp dụng một cách triệt để. Chẳng hạn, trong nguyên tắc thứ ba này, quan điểm của Đức Phật rất ràng rằng Giáo Pháp của Ngài đi thẳng vào giải quyết khổ đau của con người trong thời đại. Đức Phật tuyên bố rằng suốt chặng đường giáo dục, Ngài chỉ dạy “khổ” con đường diệt khổ. Nhưng, cái khổ của con người thời Đức Phật lại rất khác với cái khổ của chúng ta ngày nay. Một trong những cái khổ của con người Ấn Độ thời Đức Phật sa đà vào hai cực đoan: (1) Sống hưởng thụ buông lung (2) Khổ hạnh ép xác.
Không cần phân tích ở đây, chúng ta đều biết cực đoan thứ nhất thường bị hội Ấn Độ thời đó cho tầm thường thấp kém. Do đó, rất nhiều người thiên về con đường thứ hai là khổ hạnh ép xác. Đây được coi lối sống lành mạnh cao quý nhất thời bấy giờ. Chính vì thế, khi đo sĩ Tt-đt-đa (Đức Pht tương lai) nhận thy li sng khổ hạnh ép xác không đưa đến mục tiêu giải thóat tối hậu, Ngài đã quyết định từ bỏ nóthọ dụng vật chất lại một cách bình thường. Ngay lập tức, năm người bạn đồng tu - những người đã gắn tôn sùng Ngài như Phạm Thiên - đã trở mặt coi thường đạoTt-đt-đa kng thương tiếc.
Theo như Đức Phật, cả hai cực đoan này cần phải tránh xa. Bởi vì, cực đoan thứ nhất ràng làm mất đi tiềm năng thánh thiện của con người. Cực đoan thứ hai làm tiêu huỷ khả năng tư duy thiền định làm liệt mầm sống của Thánh quả. Hai cực đoan này khổ.
Vậy Giáo Pháp của Ngài đã làm để giải quyết khúc mắc này của con người sống trong thời đại Ngài? Ngay trong bài pháp đầu tiên, Ngài đã đi vào giải quyết nỗi khổ hai cực đoan này của con người thời đại Ngài. Như vậy, ta càng thấy rằng hai lối sống cực đoan nàytầm ảnh hưởng rất lớnrất nổi trội đối với con người trong thời đại khi Đức Pht còn tại thế. Và, con đường Trung đo (The Middle Way) chính giải pháp Ngài đã trao cho nhân loại.
Trên thực tế, nội dung chính của bài pháp đầu tiên Đức Phật dạy cho m anh em Kiu-trn-như kng phải là con đường Trun
đo mà là Tứ diu đế. Con đường Trung đo tuy là một học thuyết phương pháp tu tập quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp giáo dục của Đức Phật, nhưng trong bài pháp đầu tiên này nó chỉ đóng vai trò thay đổi nhận thức lối sống tu hành khổ hạnh ép xác đã thâm căn cố đế trong tâm trí con người thời đại Ngài cũng như trong tâm trí năm người bạn đồng tu này. Chính nhờ sự thay đổi nhận thức này năm anh em Kiều-trần-như mới sẵn sàng đón nhận Giáo Pháp cao quý Tứ diệu đế từ Đức Phật. Kinh điển ghi chép lại rằng, Đức Phật đã thành công bước đầu trong sự nghiệp giáo dục của mình qua bài pháp đầu tiên này với sự kiện Ngài Kiều-trần-như đắc được pháp nhãn đầu tiên.
Vậy cái khổ của thời đại hiện nay gì? Giáo dục Phật giáo hiện thời sẽ làm để giải quyết những nỗi khổ này? Tất nhiên, nỗi khổ thời đại nào cũng cùng. Nhưng, một trong những nỗi khổ ngay nay chúng ta, cụ thể hơn cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, đang phải đối mặt sự khác biệt về văn hóa khoảng cách thế hệ giữa cha mẹ con cái.
Sau năm 1975, người Việt đã đang sang Hoa Kỳ định cư. Trong khi, nhng người cha mẹ sinh ra và lớn lên ở Vit Nam nên thừa hưởng nền văn hóa Á Châu thì thế hệ con cháu được sinh ra lớn lênMỹ lại hấp thụ nền văn hóa Tây phương. Do đó, về mặt văn hóa, cha mẹ con cái thiếu đi điểm tương đồng.
Hơn nữa, môi trường hội hiện đại cũng đã lấy đi hầu hết thời gian ngồi bên nhau của các thành viên trong gia đình. Cha mẹ phải đi làm từ sáng đến chập tối. Con cái cũng lo học hành cả ngày. Về đến nhà ăn uống, cơm nước, sinh hoạtnhân cũng không còn nhiều thời gian quây quần bên nhau. Chính thế, cha mẹ con cái không thời gian để tâm tình, chia sẻ, hiểu biết, cảm thông cho nhau. Cộng thêm sự khác biệt về tuổi tác văn hóa đã làm khoảng cách giữa cha mẹ con cái ngày càng thêm rệt. Nếu tình trạng này không được xử lý kịp thời thì nó sẽ trên đà trượt dốc không thể chữa lành được.
Tóm lại, cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ đang đối diện với nan 
đề về sự khác biệt văn hóa, lối sống, tư duy tạo nên khoảng cách thế hệ giữa cha mẹ con cái. Nên nhớ rằng, ở Việt Nam cũng xảy ra tình trạng khác biệt thế hệ này. Tuy nhiên,không quá nặng nề cha mẹ con cái không phải đối mặt với sự khác biệt to lớn về văn hóa. Do đó, để giảm thiểu về khoảng cách thế hệ, cha mẹ ở Hoa Kỳ cũng cần phải trang bị một tri thức nhất định về văn hóa Tây phương cho mình. Để làm gì? Chính là để tìm tiếng nói chung giữa cha mẹ con cái. Ở đây, cũng xin lưu ý rằng phạm vi của đề tài này Giáo dục Phật giáo nên những khía cạnh thế gian này không phải trọng tâm của bài viết. Bây giờ, Giáo dục Phật giáo thể làm để rút ngắn hàn gắn nào cho khoảng cách thế hệ này?
“Tứ nhiếp pháp” - Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự một trong những giải pháp Giáo dục Phật giáo thể trao cho thời đại để n gn và rút ngn khong cách thế hệ này. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi/con sẽ triển khai một khía cạnh “Đồng sự” trong Tứ nhiếp pháp để làm sáng tỏ vấn đề.
“Đồng sự” hiểu một cách đơn giản tức cha mẹ sẽ không đóng vai trò cha mẹ nữa sẽ những người cộng sự hay những người bạn luôn sát cánh cùng với con mình. Sởcần phải đóng vai những người cộng sự hay những người bạnkhông phải điều con cái cũng thể tâm tình chia sẻ với cha mẹ được. những người bạn hay những người cộng sự thì yêu cầu phải bình đẳng, chân thành, trách nhiệm. Nhưng, ít khi các bậc cha mẹ thể làm tròn được vai trò này.
Bằng chứng thể thấy được ngay trong Gia đình Phật tử. Phần lớn các bậc làm cha mẹ đang tự biến mình thành những người lái xe taxi đưa đón con em mình tới Gia đình Phật tử. Còn nữa, các vị đang biến Gia đình Phật tử thành những trung tâm giữ trẻ cho mình gần một ngày tự do mua sắm hay làm những việc mình ưa thích. Con cái thì được các huynh trưởng Gia đình Phật tử nhiệt tình dạy dỗ mi mt cả vgiáo lý Pht pp. Trong khi đó, cha mẹ kng hề tham dự cũng không hiểu biết về Phật pháp. ràng, hội tìm tiếng nói chung giữa cha mẹ con cái thông qua Phật Pháp có. Nhưng, bậc làm cha mẹ đã đang đánh lỡ mất hội này.

 
Chúng tôi thiết nghĩ, nếu các bậc cha mẹ thể đồng hành (Đồng sự) cùng con mình bằng cách cùng tham gia học Phật pháp trong ngày sinh hoạt của Gia đình Phật tử chỉ một tiếng đồng hồ thì về nhà sẽ thể tìm được những sự đồng cảm những tiếng nói chung giữa hai thế hệ. như vậy, rào cản thế hệ thể dần được gỡ bỏ.
Đáng lưu ý hơn, nếu cha mẹ thể tham gia học Phật pháp trong vòng một tiếng với con mình thì các vị đã làm đúng theo tinh thần “Đồng sự” của Tứ nhiếp pháp. không cần nói thêm, chúng ta đang bạn, những người đang đồng hành cùng với con. do cũng thật đơn giản chúng ta học cùng một lớp nên lẽ dĩ nhiên bạn của con mình. Như vậy, “Đồng sự” chính một trong những chìa khóa hay một công cụ sắc bén Giáo dục Phật giáo cho thể trao cho thời đại để dỡ bỏ rào cản về khoảng cách thế hệ. Tức là, chúng ta cũng đang đồng hành (Đồng sự) chia sẻ với con người hiện thời giải quyết những khúc mắc hay những nỗi khổ họ đang phải gồng mình gánh chịu.
Ngoài nan đề về khoảng cách về thế hệ, con người hiện thời nay đang đối mặt với nhiều khủng hoảng. Chẳng hạn như chứng bệnh tự kỷ, trầm cảm, cảm giác cuộc đời tẻ nhạt hay vị, bạo động, khủng bố v.v… Đã rất nhiều trường hợp những khủng hoảng trên con người thời nay đã tự huỷ hoại mạng sống quý giá của mình. Tất cả những bế tắc khủng hoảng này vẫn đang chờ sự đóng góp của Giáo dục Phật giáo của chúng ta.
Tóm lại, cách đây 25 thế kỷ, Đức Phật đã nhạy bén nắm bắt được những khổ đau con người thời đại Ngài đang phải đối diện. Ngài đã đi thẳng vào những khổ đau này trao cho thời đại Ngài những phương hướng cụ thể để vượt qua chúng. Ngài đã thành công! Do đó, chúng ta nên học hỏi theo kinh nghiệm quý báu của Ngài. Chúng ta cũng cần triển khai Giáo pháp theo chiều hướng thể giải quyết được những khổ đau khúc mắc của con người trong thời đại hiện nay. Làm được như thế ắt thành công của chúng ta cũng không thua Đức Phật bao xa.


KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Đúng như trong kinh có chép: Pháp của Pht là vượt thời gian”. Pháp Phật luôn đúng thể áp dụng được cho mọi thời đại. Cách đây hơn 25 thế kỷ, Giáo pháp này đã được Đức Phật vận dụng khéo léo để giải quyết những khổ đau của chúng sinh của con người thời đại Ngài đang phải hứng chịu. Những đạo Phật đóng góp cho giáo dục của chúng ta ngày nay cũng không khác với những đã cống hiến cho nhân loại suốt 25 thế kỷ qua. Tuy nhiên, để sự đóng góp của đạo Phật trở nên sắc bén nhạy cảm thì người làm công tác giáo dục Phật giáo ngày nay cần phải hướng Giáo pháp này song hành với ba nguyên tắc.
Th nhất, do con người thời đại hiện nay sống thực tế nên Giáo pháp cần nhấn mạnh hay nên tuyên thuyết cũng nghiêng về tính thiết thực đối với thế gian này. Cụ thể trong ba mục tiêu của Giáo pháp: (1) Hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại theo thế gian pháp, (2) Hạnh phúc cho những kiếp sống vị lai, (3) Hạnh phúc của Niết-bàn tối hậu, thì chúng ta nên chú trọng nhấn mạnh đến mục tiêu thứ nhất. Tức là mục tiêu hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại theo thế gian pháp.
Khi đã xác định được “Hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiên tại theo thế gian pháp” khía cạnh của Giáo pháp nên nhấn mạnh, chúng ta mới chú trọng đến nguyên tắc giáo dục thứ hai. Đó phải hiểu bộ được xu hướng của đại chúng của thời đại? Hiểu được đại chúng thời đại muốn chính nền tảng để chúng ta lựa chọn xem Giáo pháp nào sẽ thích hợp giúp ích được cho mọi người. Bằng không sự giáo dục của chúng ta hoài công ích đại chúng cũng không được lợi lạc gì.
Cuối cùng, những người làm công tác Giáo dục Phật giáo hiện nay cần quán xét định hướng cho xu thế của đại chúng theo đúng chánh pháp. Tức là, chúng ta phải trao những điều lợi lạc thiết thực cho con người của thời hiện đại. Giống như nền giáo dục của Mỹ, khi ba nguyên tắc này được đem vào áp dụng triệt để thì nhất định chúng ta sẽ đưa nền Giáo dục Phật giáo đến đnh cao của thời đại.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây