06. NĂM HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Thứ sáu - 06/12/2019 05:43
NĂM HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
TS.ĐĐ. Thích Vạn Lợi
 
Hai mươi lăm thế kỷ trước, tại Ấn Độ, thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha) sau khi tu hành đắc đạo, đã nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục. thế, trong thời gian tám mươi năm cuộc đời, Ngài đi khắp nơi giảng dạy, mục đích phát triển trí tuệ cho mọi người, từ đó cho họ đạt được giác ngộ giải thoát. Nội dung giảng dạy của đức Phật được lưu trữ trong Kinh, Luật, Luận của Phật giáo; trong đó, không chỉ phạm cho giáo dục Phật giáo, còn nội dung vô cùng phong phú, uyên thâm, bao gồm tri thức, đạo đức, tư tưởng kỹ năng, v.v…

Giáo dục Phật giáo truyền đạttưởng triết học, kinh nghiệm tu tập, lễ nghi, phép tắc, hình thức tổ chức, v.v… cho các thế hệ tiếp theo. Đây, cũng cách khiến cho tự thân giáo đoàn Phật giáo duy trì, tồn tại những phương thức phương pháp lâu dài cho mai sau.

Phật giáo trải qua thời gian tồn tại với mục đích nội dung như vậy, nên chúng ta thể chia nền Phật giáo thành năm loại hình giáo dục mang tính chất đặc thù, những tổ chức khác khó được. Đó chính là: Giáo dục trực tiếp giữa thầy trò, Giáo dục T
inh anh (giáo dục quý tộc), Giáo dục dịch trường, Giáo dục tòng lâm Giáo dục trường lớp chuyên nghiệp (hiện đại giáo dục). Qua bài viết “Năm hệ thống giáo dục Phật giáo” này, chúng ta cái nhìn tổng quan về hệ thống giáo dục Phật giáo đã tiếp diễn xưa nay, từ đó thể chọn lọc áp dụng những ưu điểm phù hợp với mô hình giáo dục thực tế của tự viện hoặc các tổ chức giáo dục Phật giáo lớn khác, bổ khuyết những điểm còn thiếu còn yếu để quan tâm đầuđúng với mục đích đào tạo toàn diện của Phật giáo trong thời đại mới.
  1. GIÁO DỤC TRỰC TIẾP GIỮA THẦY TRÒ
Thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, chữ viết ở Ấn Độ chưa đạt đến trình độ hoàn thiện, nên việc ghi chép kinh điển Phật giáo vẫn phải dựa vào việc lưu trữ bằng trí nhớ truyền bằng miệng. Giáo dục Tăng đoàn, chủ yếu vẫn phải sử dụng phương thức thầy, trò truyền miệng lẫn nhau. Cách giảng dạy truyền miệng trực tiếp, từ thầy trò phương pháp giáo dục truyền thống lúc bấy giờ.

Vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài hướng dẫn đệ tử hoạt độngkhu vực sông Hằng, chủ yếu sử dụng phương thức truyền miệng, hoằng truyền học thuyết giáo nghĩa. Lúc đó, đức Phật diễn giảng, thuyết pháp, chủ yếu hướng dẫn mọi người về giáonhân sinh quan, thế giới quan như: pháp duyên khởi, ngũ uẩn, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới.

Hệ thống giáo dục truyền thống của Việt Nam, tồn tại trong kinh tế tiểu nông nghiệp nên hình thức Giáo dục trực tiếp giữa thầy trò, từ xưa cho đến nay ảnh hưởng rất lớn. Phương pháp giáo dục vn vn dụng giáo dục tn giáo, truyn ming. Giáo dục Pht giáo, không thể tách rời khỏi bối cảnh kết cấu hội, nên hình thức bản của giáo dục Phật giáo Việt Nam vẫn nằm trong hình thức giáo dục của nn kinh tế tiu nông nghip. Thy Truyn Minh kết luận: “Bối cảnh giáo dục giữa thầy trò như thế, ưu điểm là: phương diện giáo dục Phật học rộng, đơn giản dễ thực hành; Giáo dục thực tiễn trong cuộc sống, nền giáo dục tính phát khởi, 
hướng dẫn tiến hành trong hằng ngày, tùy lúc, tùy nơi, tùy trình độ thích hợp; Giáo dục tu học, quán triệt tông phong, tông chỉ đạt đến mục tiêu, còn giáo dục nội chứng tu tập trình độ cao, nhờ đó truyền thừa, tạo mối quan hệ mật thiết giữa thầy trò”1. Phương pháp giáo dục này, hầu hết các nước Phật giáo đều ứng dụng trong tự viện, tạo nên mối quan hệ thầy trò sâu đậm. Người thầy, như vị giáo hướng dẫn nghiên cứu sinh, từng bước đi trên con đường tìm hiểu Phật pháp ứng dụng tu hành trong thực tế, rn luyện tâm hồn, loại trừ phiền não, đạt được giải thoát kế thừa sự nghiệp của thế hệ trước.
  1. GIÁO DỤC TINH ANH (GIÁO DỤC QUÝ TỘC)
Đại biểu nhất cho loại hình Giáo dục Tinh anh (giáo dục quý tc) đó là Pht giáo Tây Tng. Phương thức giáo dục truyn thống của họ giáo dục quý tộc, chư Tăng, thuộc hàng trung lưu ở đất Tây Tng hưởng thụ nn giáo dục này2. Với hệ thống giáo dục tái sinh Phật sống,chế độ duy trì tồn tại lâu dài một số lượng người, trong tầng lớp quý tộc. Phương pháp giáo dục này ưu điểm đem lại Tinh anh nhất, nhưng khuyết điểm nội dung giáo dục hẹp, giá thành đầucao, tố chất người học như thế nào đi nữa, thì nhất định phải đào tạo tốt. thể khẳng định không tính toán chuyện đầu tư.

Tuy nhiên hin nay, giáo dục ở Tây Tng cũng đang rơi vào tình trạng xuống cấp. Những người đặt niềm tin vào số lượng thánh nhâncác vị Lạt Ma không nhiều, khắp nơi loạn xưng danh hiệu Pháp Vương, nên thể chế giáo dục này, khó duy trì rộng rãi được. vậy, phải chuyển hướng thành thể chế giáo dục hiện đại, trường lớp chuyên nghiệp hơn. Nhưng so sánh thể chế giáo dục Phật giáo hiện n
ay ở các nước, thì thể chế giáo dục Tinh anh của Tây Tng có tính ưu việt hơn rất nhiều.

Với cách tổ chức giáo dục này, chúng ta thể lựa chọn một số học viên năng lực đạo đức thật tốt để gửi đi đào tạo đặc biệt, hoặc một số học viên thuộc dân tộc anh em, những vùng tỉ lệ người xuất gia chùa viện ít, đào tạo nguồn nhân lực Tinh anh, phù hợp với thực tế nhu cầu cấp thiết của những nơi đó.
  1. GIÁO DỤC DỊCH TRƯỜNG
Thời kỳ đầu phiên dịch, do bất đồng về ngôn ngữ, nên các thầy Phật tử ngoại quốc đọc tụng nguyên văn tiếng Ấn Độ, người bản địa viết lại, sau đó biên tập thành sách. thế, học thuộc vấn đáp, cùng nhau thảo luận, cuối cùng hình thành hình thức chủ yếu của giáo dục Phật giáo. Từ đó, cho chúng ta thấy ý nghĩa giáo dục thông qua sự nghiệp phiên dịch kinh điển.

Thời kỳ Phật giáo truyền đến Việt Nam, theo ghi chép trong Thiền uyển tập anh, vào ngày rằm tháng 2 năm Hội Phong thứ 5 (1096), khi Thái hậu Linh Nhân nhà (tức Ỷ Lan phu nhân) hỏi về ý nghĩa PhậtTổ, Quốc Thông Biện đáp lời, trong đó nói v vic dịch Kinh tại Vit Nam thời kđu rằng: ... Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Pht pp lúc mới tới thì Giang Đông chưa có, Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển”3.
Từ thời Lê Trung hưng trở đi, cùng với sphổ cp sâu rng của chữ Nôm, Kinh điển Phật giáo không ngừng được các dịch giả uyên thâm Hán Nôm, phiên dịch ra chữ Nôm.
Đầu thế kỷ XX, cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, sự kết thúc của chế độ giáo dục khoa cử Nho học, đặc biệt sự truyền sử dụng chữ quốc ngữ hệ Latinh ngày càng phổ biến sâu rộng thì bản thân Phật giáo, cũng cần có sự thích ứng với hội v
à thời đại, hình thành các phong trào chấn hưng Phật giáo, v.v... Kinh đin Pht giáo chTrung Quốc, n Đvà Tây Tng đã từng bước phiên dịch ra Quốc ngữ.

Giáo Đinh Cang nhận định: “Công tác thành quả của thời đầu phiên dịch, sản phẩm kết tinh giữa tăng nhân ngoại quốc với cư sĩ người bản địa… Cứ như thế ảnh hưởng đến thời đại Ngụy Tấn Nam Bắc triều, trở thành cột mốc giao lưu văn hóa quan trọng giữa hai nền văn hóa lớn. Đây sự hợp tác truyền thống, từ đó xây dựng nên nền giáo dục Phật giáo cho người địa phương, tạo nên một bộ phận tổ chức tạo thành nền giáo dục Phật giáo cho hậu thế. Bản chất ý nghĩa của nó hình thành nét đặc trưng nét của nn giáo dục dịch kinh ging dy.4

Ngoài ra, GS. Vương Lôi Tuyền5 khẳng định: “Chủ yếu giải quyết giai đoạn xuất hiện vấn đề Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Đông Á. Đây lịch sử văn hóa phiên dịch đồ sộ văn bản, xưa nay chưa từng trên lịch sử thế giới. Sự dịch chuyển tri thức của Phật giáo giải thích luận Phật giáo, chủ yếu tập trung tiến hành trong khi phiên dịch Kinh Phật. Thời kỳ đầu, chính phủ cung cấp sở vật chất tài chính, các đại tinh thông tam tạng tổ chức chọn lựa nhân tài ưu tú, tri thức tiêu biểu, triển khai đội ngũ luân phiên làm công tác phiên dịch. Trong quá trình phiên dịch thảo luận giải thích đó, đồng thời vẫn công năng truyền tải giáo dục học thut.6

Đời Tn, Cưu Ma La Thp (Kurava 344?-413?) chủ trì tchức phiên dịch quốc gia khoảng 800 chư Tăng 3.000 Phật tử, quy mô bằng một trường đại học hiện nay. Đường Huyền Trang (602?-664) chủ trì dịch trường quốc gia, tuyển chọn những người ưu tú, trợ thủ hai mươi ba vị dịch Kinh, hoàn thành đến 1.000 quyển, g
iống với Viện nghiên cứu hiện tại, hoặc Ban phiên dịch quốc gia.7

Tiêu chí chủ yếu của loại hình giáo dục này phiên dịch, nhưngkhông phải một hình thức duy nhất. Quá trình chuyển dịch thích ứng của tư tưởng kiến thức Phật giáo,trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, sẽ lựa chọn hình thức kiết tập, phát huy, phiên dịch, ghi chép xuất bản khác nhau. Ngoài ra “Phiên dịch giảng giải” một phương thức thi cử, lựa chọn giới tri thức ưu tú, cách tuyển chọn bồi ỡng nhân tài của Phật giáo. yêu cầu người tham dự phải một trình độ Phật học nhất định. Hiện tại, các trung m đào to như: Trung m phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang, Trung m Pht học Hán truyn, hay các lớp đào to phiên dịch của Vin Trn Nn Tông thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, v.v... đang tiến hành.

Ưu điểm của hình thức giáo dục “Dịch trường giảng dạy” kết hợp mật thiết với nhiệm vụ nghiên cứu, giải quyết vấn đề với giáo dục, đầu tài chính cho việc bồi ỡng đào tạo nhân tài ít nhưng thành tựu to lớn, để lại thành quả muôn đời. Khuyếtđim tùy thuộc vàosbiến đổi của năng lực người phiên dịch, với sự hỗ trợ tài chính của quốc gia, khó thể dự đoán được quy duy trì ổn định hình giáo dục.
  1. GIÁO DỤC TÒNG LÂM
Từ cuối đời nhà Đường, cuốn theo sự suy tàn của Phật giáo Trung Quốc, phát sinh các skin như lon An Lộc Sơn, Võ Tông diệt Phật, kinh tế tự viện bị phá hủy. Khó thể trở về thời kỳ được vua chúa, quan lại cúng dường, hộ trì. Khi đó, các vị Tổ đã sử dụng phương thức kinh tế tự cung tự cấp để duy trì tự viện, dẫn đến truyền thống phiên dịch, giảng dạy, dần dần trở thành tòng lâm huân tu là chínhTòng lâm là trung m tu học. Từ ý nghĩa đó, tòng lâm chính trung tâm tu học giáo dục. Phật giáo luôn đứng trước mối quan hệ giữa Nho Lão. Vậy, Phật giáo làm thế nào để giữ gìn phẩm cách tinh thần tu học.

Đại Thái cho rằng: “Nét đặc biệt của Phật học Đông Á là thin. Phong cách chủ lưu của Đo An và Tuệ Vin là chú trng Kinh điển bác học thực hành8. Chú trọng phong cách giáo dục bồi ỡng nhân cách Tăng đoàn, thân giáo đặt nặng hơn ngôn giáo. Nhân vật lãnh đạo của Phật giáo kiến thức rộng về Phật pháp hội, vậy ảnh hưởng đến giới tri thức ưu tú. Đời Đường, do Mã Tvà ch Trượng xây dựng chế độ tòng lâm thanh quy, có ý nghĩa rất lớn đối với Thiền tông nói riêng Phật giáo nói chung. Phong cách giáo dục này chú trọng đào tạo nhân cách cho Tăng nhân, chú trọng việc đào tạo học tập. Lãnh đạo tinh thần của Phật giáo, ảnh hưởng lớn đến giới tri thức ưu việt của thời đại. Vì vy, Mã Tvà ch Trượng xây dựng chế độ bảo vTăng đoàn, điều đó không chỉ ý nghĩa đặc biệt với Thiền còn cả Phật giáo.
Tòng lâm, giáo dục ly khuynh hướng giác nglàm giá trị chính. thế, mới làm cho Phật giáo tồn tại, liên tục ngàn đời. Chú trọng tu hành thực tiễn ưu điểm, nhưng diễn biến cho đến sau này lại không còn học Kinh, Luận. Từ đó, Lịch đại cao tăng đại đức tích cực đề xướng, lấy tiêu chuẩn “hiểu hành đi đôi với nhau” làm mục đích đào to. Còn khuyết đim là ở trong Tòng lâm, đi tượng đầu vào trình độ chênh lệch cao, thời gian học không tuân theo tiêu chuẩn nào, trình độ người giảng dạy không đồng đều, kết quả đào tạo sự cách biệt rất lớn giữa người học với nhau.
  1. GIÁO DỤC TRƯỜNG LỚP CHUYÊN NGHIỆP (GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI)
Vào thời kỳ nhà Nguyễn, do ảnh hưởng của văn hóa Tây phương truyền vào, Việt Nam đã bước vào thời kỳ mới. Phật giáo, đứng trước tình hình rất nhiều tôn giáo cùng tồn tại, đặc biệt sự đối diện với sức mạnh của giáo dục Thiên Chúa giáo. Phật giáo phải xúc tiến tổ chức chú trọng giáo dục đào tạo, xây dựng lại ý nghĩa tồn tại của giáo đoàn.

Trường học của Thiên Chúa giáo đem đến một hệ thống hoàn chỉnh toàn diện về phương pháp giáo dục cũng như chế độ quản lý, so với giáo dục Tòng lâm của Pht giáo thì có skhác bit rt lớn. Tinh thần giáo dục Phật giáo mới trong các trường lớp, đó sự tổng hợp chung của chế độ giáo dục tòng lâm giáo dục Tây Phương. Thế kỷ XX, Phật giáo tồn tại song song hai hình thức giáo dục chính:

Một là, do Giáo hi Pht giáo hoặc Tòng lâm Tvin tổ chức, do Tăng đoàn tổ chức theo hệ thống giáo dục Phật học viện;

Hai là, do Phật giáo đoàn thể nghiên cứu Phật học, kết hợp thành lập Viện nghiên cứu, được nhà nước công nhận bằng cấp, tổ chức giống như các trường ngoài hội. Hình thức trường lớp này, hiện tại rất phát triển ở các nước Đài Loan, Hồng Kông. Đem tài nguyên của Phật giáo ra ngoài giáo dục hội, sự kết hợp đó cho đến hiện tại một hình thức rất kết quả9.

Tiếp nhận cách giảng dạy, đào tạo tiên tiến của các tôn giáo nước ngoài, phương pháp nghiên cứu văn hiến, rn luyện các ngoại ngữ, đào tạo theo môn học, tăng cường nghiên cứu tưởng Phật giáo, từ đó xây dựng một hình thc giáo dục Trường lớp chuyên nghip.

Ưu thế của hình thức giáo dục này chính là: hệ thống giáo dục ổn định, nội dung giáo dục phương pháp giáo dục mang tính khoa học thể thực hiện áp dụng được, phù hợp với trường lớp ngoài hội. Khuyết điểm của nó chính là, Tăng Ni sinh dễ bị huân nhiễm ảnh hưởng bởi thế tục, dẫn đến tính thiêng liêng của tôn giáo giảm đi ít nhiều.
Giáo dục Phật giáo sử dụng hệ thống giáo dục phương Tây, tập thể giáo dục quy mô, yêu cầu phương pháp giáo dục, mục tiêu, nội dung, xây dựng môn học, thi cử, tổ chức đánh giá, v.v... đào tạo ra nhân tài số lượng lớn, xứng đáng với sự đầu tư. Người được trải qua bồi ỡng từ Phật học viện, hệ thống tri thức dễ đi vào quỹ đ
ạo của hội. Tóm lại, nền giáo dục Phật giáo, đã trải qua: Giáo dục Trực tiếp giữa thy và trò, Giáo dục Tinh anh, Giáo dục Dịch trường, Giáo dục Tòng lâm, Giáo dục Trường lớp chuyên nghip. Để cho độc giả cái nhìn cụ thể, người viết dùng bản đối chiếu dưới đây:
Hệ thống Ưu điểm Khuyết điểm
Giáo dục Trực tiếp giữa thầy trò Trong cuộc sng sinh hoạt hàng ngày, tùy lúc tùy nơi tùy duyên thầy trực tiếp dạy cho trò, lúc này thầy trở thành người hướng dẫn cho trò phát huy tâm thức. Quy mô nhỏ, hội giao lưu tri thức giữa các thầy hoặc giữa các trò với nhau ít, sự truyền thừa tri thức chỉ trông cậy vào học vấn của người thầy.
Giáo dục Tinh anh (giáo dục quý tộc) Chất lượng giáo dục cao; áp dụng phương pháp giáo dục đạt đến tinh hoa. Nội dung truyền đạt hẹp; đầutài chính cao. Dù trình độ Tăng Ni như thế, thì cũng giảng dạy cho họ thật tốt, không tính toán chi phí tài chính.
Giáo dục D ị c h trường Người theo học ít, bồi ỡng đào tạo ra nhân tài Tinh anh, đạt được thành quả to lớn. Tùy thuộc vào năng lực của người phiên dịch, với sự thay đổi tài chính hỗ trợ của tổ chức, nên không thể xác định được quy mô tổ chức khả năng tài chính.
Giáo  dục Tòng lâm Kết hợp ưu điểm của giáo dục thầy trò giáo dục phiên dịch, hình thành một trung tâm giáo dục học tập tu hành quy mô lớn. Đối tượng đầu vào không thi cử tuyển chọn, thời gian học không căn cứ vào tiêu chuẩnthức giáo dục, trình độ của thầy giáo khác nhau, tạo thành chất lượng khác nhau cực lớn trong học viên.

 
Giáo dục T r ư n g lớp chuyên n g h i ệ p (giáo dục hiện đại) Hệ thống giáo dục ổn định, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục tính khoa học thực tiễn, phù hợp với trường học trong hội. Học viên dễ bị giáo dục thế tục làm ảnh hưởng đến niềm tin tôn giáo. Về phương diện tu hành, học viên về oai nghi, tế hạnh không bằng học từ giáo dục Tòng lâm. Đào to ra nhân tài tầm nhìn chưa đủ xa, về độ rộng sâu trên phương diện tri thức chưa đủ.
 
  1. KẾT LUẬN
Ngay từ những ngày đầu, Phật giáo truyền vào Việt Nam, để cho một học thuyết mới được phổ cập trong hội, bản thân giới tu Phật giáo nhân vật lãnh đạo chính quyền đãphi cùng nhau tổ chức phiên dịch kinh điển. thế dịch trường giảng dạy rất quan trọng;

Giáo dục thầy trò với mô hình giáo dục nhỏ, thích hợp với hội nông nghiệp xưa;

Giáo dục Pht giáo Tây Tng phù hợp với chế độ xã hi đc thù, chỉ một bộ phận nhỏ trong hội hội tiếp nhận giáo dục; thế mô hình giáo dục Tinh anh (giáo dục quý tộc) cũng phù hợp với yêu cầu đào tạo những Tăng nhân ưu tú cho Phật giáo, giống như chương trình đào tạo tiến sĩ, thạcPhật học;

Hiện nay, trong mộthội khoa học phát triển,hội công ng- hiệp thương nghiệp, thì hình thức giáo dục trường lớp chuyên nghiệp (giáo dục hiện đại) được coi phù hợp nhất.

Tóm lại, năm loại hình giáo dục Phật giáo tuy có những ưu khu- yết điểm song đều đáp ứng nhu cầu của thời đại. Tuy điều kiện hình thành khác nhau, nhưng đứng từ góc độ lịch sử, thì nó giải quyết vấn đề tồn tại của thời đại đó, nên năm loại hình giáo dục này tính tồn tại tất yếu, hỗ tương cho nhau, mối quan hệ mật thiết với bối cảnh lịch sử của hội.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây