04. GIÁO DỤC TRUNG ĐẠO

Thứ sáu - 06/12/2019 05:28
GIÁO DỤC TRUNG ĐẠO
TS.TT. Thích Viên Trí
 

TÓM TẮT
Trung đạo giáo đặc thù của đạo Phật, mở ra một hướng duy mới cho nhân loại trong việc giải quyết những khủng hoảng cho con người từ cấp độ vĩ đến vi mô. Trung Đạo được xem như giải pháp hữu hiệu để chữa căn bệnh “cực đoan”, vốn ngọn nguồn của khổ đau từ quá khứ, cho đến cả hiện tại tương lai. Trong hệ thống giáo Phật giáo,duy cực đoan khôngchỗ đứng, mọi ý niệm mang tính chấp thủ (cực đoan), chấp thủ chân lý, cũng bị loại bỏ. Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại phát triển, tinh thần trung đạo này đôi khi bị giới Phật giáo lãng quên, đưa đến những xung đột trong việc học hành lời Phật dạy, đồng thời nguyên nhân đưa đến sự suy yếu của đạo Phật. Trong thời đại ngày nay, bị lèo lái bởi triết thục dụng duy hữu ngã, giáo Phật giáo dường như đang được diễn giải dưới những lăng kính đượm màu “ngã tính” đang dần bị “thế tục hóa”.thế, chúng ta cần dành thời gian để nhìn lại những kết quả cũng như hệ lụy ngõ hầu chỉnh đốn lại phương hướng hành đạo của mình, đặc biệt trong lãnh vực giáo dục để làm sáng tỏ “tinh thần trung đạo” trong sự nghiệp duy trì hoằng dương Phật pháp.
 
  1. DN NHẬP
Trung đo là lời dy đu tiên đức Pht tuyên bố trước khi Ngài thuyết giảng bốn châncao thượng (Tứ Diệu Đế). Thông điệp “trung đạo” này đã mở ra một triết lý sống mới cho con người trong thời đại của đức Phật cả thế giới ngày nay, vốn đang bị ngập chìm trong nhữngtưởng cực đoan, đang gieo rắc nỗi sợ hãi đối với con người trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Hơn 26 thế kỷ qua, giáo lý trung đạo này vẫn ngọn đuốc soi đường cho những ai mong muốn tìm kiếm an lạc hạnh phúc thật sự cho tự thân tha nhân. Đặc biệt, trong những giai đoạn khi khuynh hướng cực đoan mối đe dọa đối với đời sống con người từ vật chất đến tinh thần,tưởng trung đạo này lại trở nên cùng cần thiết đối với mọi người. thể thấy rằng mọi rối ren từ cấp độ cá nhân, gia đình, hội cho đến cấp độ tôn giáo hay quốc gia đều bắt nguồn từ hai chữ cực đoan. Nhng người nuôi dưỡng tư duy cực đoan, có li sng cực đoan, cách hành xử cực đoan bởi họ quá chủ quan, quá đề cao bản thân, họ đang rơi vào trong thế giới chấp ngã gồm thân kiến, kiến thủ, giới cấm thủ ngã luận thủ. Khi rơi vào trong cái bẫy chấp ngã này người ta luôn ảo tưởng rằng họ trung tâm của trụ, chỉ những họ làm đúng, họ nghĩ đúng, họ nói đúng, còn lại tất cả đều sai. Từ đó, những đi ngược với cách suy nghĩ của họ, ngôn ngữ của họ, lối sống của họ đều được xem đạo, sai lầm, cần phải triệt tiêu. Đây chính nguyên nhân gây ra những mâu thuẫn, tranh cãi, xung đột, đấu tranh, chiến tranh tạo nên mọi sự bất hòa trong đời sống thường nhật, cội nguồn của mọi hình thái khổ đau từ cấp độ cá nhân, gia đình, hội cho đến quốc gia, đặc biệt trong lãnh vực tôn giáo.
  1. VAI TRÒ TRUNG ĐẠO TRONG HỆ THỐNG GIÁO PHẬT GIÁO
Cần phải xác định rằng trong hệ thống giáoPhật giáo, mọi tư tưởng cực đoan đều không chân đứng, mọi ý niệm mang tính chấp thủ, ngay cả chấp thủ châncũng bị loại trừ; bởi toàn bộ lời dạy của đức Phật chỉ chiếc bè để qua sông, chứ không phải để nắm ly. Toàn bộ hệ thống Kinh Lut Lun là phương tin để giúp con người nhận diện khổ đau phương pháp đoạn trừ khổ đau, không nhằm vào bất cứ mục đích gì1. Nói theo ngôn ngữ y học, giáoPhật giáo những phương thuốc để chữa bệnh, chúng sanh số bệnh nên người thầy thuốc cũng cần được vận dụng một cách thiện xảo các loại phương thuốc để phù hợp với từng căn bệnh. ràng, mỗi căn bệnh không chỉ cần một loại thuốc người thầy thuốc phải luôn phối hợp nhiều loại để chúng hỗ trợ cho nhau thì mới thật sự hiệu quả. Cần lưu ý rằng khi bệnh thì người ta mới cần thuốc, bệnh thuyên giảm rồi thì cần phải dừng lại, nếu không thuốc bị lờn sẽ mất tác dụng.

Tương tự như thế, lời Phật dạy những giải pháp trung đạo cần được vận dụng một cách linh hoạt trong việc chữa trị những căn bịnh trầm kha mang tên tham sân si, nguồn gốc của mọi hình thái khổ đau. Làm dừng lại tham sân si, chuyển hóa tham sân si, loại trừ mọi ngã tướng, ngã tưởng mục tiêu của chánh Pháp, vậy bất cứ pháp môn nào phục vụ cho các mục tiêu này đều Phật pháp2. Cần lưu ý rằng theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, chúng sanh khoảng 84.000 căn tánh khác nhau3; do vậy người hành đạo phải tùy theo căn tánh của từng đối tượng, từng học trò chỉ dạy các pháp môn tu tập thích hợp, chứ không thể giáo ỡng một cách cứng nhắc, bởi Phật tử không phải những tín đồ cần phải tuân thủ những giáo điều, tín điều một cách máy móc4. Tín đồ Phật giáo không những chúng sanh cần sự cứu vớt của tha lực, của tha nhân đạo Phật không phải đạo thần quyền, Phật tử những con người luôn chủ nhân của chính mình, phải trách nhiệm với hành đ
ộng tự thân5; họ quyền phán xét đúng, sai, quyền tin hay không đối với mọi giáo thuyết. Khổ đau hay hạnh phúc của mỗi cá nhân luôn tùy thuộc vào sự hiểu biết của người ấy như đức Phật đã dy: “Này các T-kheo, Ta nói rằng sự đon tận lu hoặc.6
  1. MỤC ĐÍCH PHƯƠNG TIỆN TRONG GIÁO PHẬT GIÁO
Như thế, mục đích chính của tất cả mọi người đến với đạo Phật học hỏi chánh pháp ứng dụng lời Phật dạy vào trong cuộc sống nhằm giải thoát khổ đau cho tự thân, để đạt được hạnh phúc ngay bây giờ tại đây không phải tích lũy kiến thức, văn hay chữ tốt, tích lũy danh vọng…, càng không phải công cụ để phục vụ cho bất cứ mục đích nào, haynhân nào. Đây mấu chốt quan trọng để người Phật tử không bị quáng, không tôn sùng chủ nghĩanhân, không mê tín dị đoan, không rơi vào thế giới cực đoan, không biến mình trở thành công cụ cho dục vọng của tự thân, cho tha nhân hay tổ chức dưới những ngôn từ dao to búa lớn, hào nhoáng bóng bẫy, nhưng lại chuyên chở ngã tướng tư lợi. Bởi lẽ, mọi việc làm không dẫn đến mục đích giải thoát, giác ngộ đều không được đức Phật tán dương. Thí dụ điển hình để minh họa cho lập luận này cuộc đời của tôn giả Ananda, vị thị giả tận tâm với đức Phật, nhưng Thế Tôn vẫn không hoan hỷ trước khi Ngài thị hiện Đại Niết-bàn tại Kussinaga, tôn giả Ananda vẫn chưa đoạn tận phiền não, lậu hoặc, chưa đạt đến mục tiêu thiêng liêng, cao đẹp tôn giả phát nguyện xuất gia theo đức Phật, đó giải thoát mọi khổ đau. Hoặc câu chuyện xảy ra gần đây, một Ni tu theo thiền tông, nổi tiếng với văn hay chữ tốt; rất nhiều bài viết, nhiều tác phẩm, nhiều bài thuyết pháp đã làm lay động lòng người. Ni đi đâu cũng được quần chúng cung kính, tôn trọng, ca ngợi! Nhưng vào khoảng năm 1990 Ni quyết định ẩn dật tịnh tu, tạm thời ngưng việc thuyết pháp, sáng tác, viết lách… Ni nói rằng Ni quả thật rất hạnh phúc với những việc nhân ni đã đang làm! Ni cảm thấy tự hào, thỏa mãn khi được mọi người ghi nhận những cống hiến của cá nhân mình! Nhưng khi ở một mình, Ni lại cảm thấy sự trống vắng, đơn, thiếu thốn… Một cách tinh tế, Ni nhận ra rằng mình cũng đang bị nhận chìm thế giới tài, danh, sắc, thực, thùy; mình cũng đangtrong dòng xoáy của cuộc rượt đuổi lợi danh dưới nhiều ngôn từ mới nghe qua rất ý nghĩa… Cuối cùng Ni nhận thức được rằng đó không phải mục tiêu Ni từ bỏ gia đình, trở thành tu sĩ Phật giáo. Do vậy, những người đệ tử Phật cần phải nắm ý nghĩa này để tưởng sống đúng với chánh pháp; đặc biệt những người xuất gia, những sứ giả Như Lai lại càng phải nắm bắt thông điệp này một cách chính xác để vận dụng vào trong sứ mệnh của mình cho việc đào tạo ra một thế hệ tu sĩ Phật tử mới cho Phật giáo.
  1. HIỆN TRẠNG TƯƠNG LAI
Tuy nhiên, theo dòng thời gian, trước những thay đổi không ngừng vềtưởng sống do ảnh hưởng của các nền văn hóa trong quá trình hội nhập phát triển, nhất trước thử thách của thời đại 4.0 vốn nền tảng trên sự phát triển của khoa học kỹ thuật, điện toán trong hội hiện đại, để thể tồn tại phát triển thì thế giới tôn giáo, trong đó Phật giáo, cần phải nhanh chóng thích nghi thích ứng với môi trường hội hiện đại. Đây lý do tại sao giới tu sĩ của các tôn giáo, bao gồm tu sĩ Phật giáo được trang bị khá đầy đủ kiến thức về khoa học thế học để làm phương tiện trong việc hành đạo của mình.

Riêng về lãnh vực giáo dục, giới lãnh đạo Phật giáo cũng đã rất linh động trong việc cập nhật hóa nội dung giáo dục-đào tạo của mình để theo kịp đà phát triển của ngành giáo dục trong nước cũng như nước ngoài. Từ một hệ thống giáo dục mang tính tu viện, các Phật học viện chỉ chuyên sâu lãnh vực nghiên cứu Phật học, phiên dịch tam tạng kinh, luật, luận. Phương pháp giảng dạy tại các Viện Phật học giai đoạn đầu mang tính từ chương, trùng tuyên xem trọng việc học chữ Hán phiên dịch các bản văn từ Hán sang Việt. Chương trình đào tạo này chỉ dành cho Tăng Ni. Tuy nhiên, vào những năm đầu của thập niên 60, giáo dục Phật giáo đã bắt đầu có 
những bước chuyển mình. Tăng Ni được phép tiếp cận với nền giáo dục phổ thông vào đại học quốc dân. Cũng trong giai đoạn này, nhiều Tăng Ni được gửi đi du học nước ngoài như Ấn Độ, Srilanka, Nhật Bản, Thái Lan… Sau khi tốt nghiệpnước ngoài, một số tăng ni đã trở về nước phục vụ cho công tác hoằng pháp của giáo hội Phật giáo, đặc biệt trong lãnh vực giáo dục. Từ đây, một hệ thống trường học thục từ lớp 6 đến lớp 12 (ngày xưa gọi trung học) của Phật giáo, dưới danh nghĩa trường Bồ Đề, được thành lập, đào tạo theo chương trình của Bộ Giáo dục Quốc gia. Tuy nhiên, một số môn về Phật học thường thức cũng đã được đan xen vào trong chương trình đào tạo này. thể nói rằng đây cuộc cách mạng về giáo dục của Phật giáo Việt Nam, bởi giáoPhật giáo không còngọn trong những ngôi chùa, tu viện, không chỉ dành cho Tăng Ni, không còn hạn chế trong phạm trù tín ngưỡng, tâm linh đã trở thành một phần của đời sống văn hóa con người. Một bước ngoặt quan trọng khác của giáo dục Phật giáo sự hình thành đại học Vạn Hạnh của Phật giáo trực thuộc Bộ Giáo dục, một đại học Phật giáo đã đào tạo ra rất nhiều nhân tài cho đất nước Phật giáo, nhiều ảnh hưởng về giáo dục trong cũng như ngoài nước. Tại đây, khoa Phật học lần đầu tiên được thành lập, mở ra một hướng nghiên cứu, ứng dụng giáo Phật giáo vào trong thế giới học thuật bắt đầu tiếp cận Phật giáo bằng nhiều góc nhìn của cuộc sống.

Sau ngày thống nhất đất nước 1975, giáo dục Phật giáo lại một lần nữa phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới của hội. Một hệ thống Trung cp Pht học (hin tại tng cng là 34 trường), Cao cấp Phật học (ngày nay 04 Học viện Phật giáo) đã được hình thành, chỉ dành cho Tăng Ni. Tuy nhiên, sự khác biệt ở hệ thống này với các Phật Học viện Tăng Ni phải tốt nghiệp lớp 9 (dành cho học sinh Trung cp) và lớp 12 (đi với sinh viên Học vin Pht giáo). Đặc biệt, ở cấp Học viện, các học viên đều phải học số môn theo khung sườn của Bộ Giáo dục Đào tạo quy định cho cấp đại học. Do vậy, Tăng Ni sinh tốt nghiệp đều một số kiến thức cần thiết khi tiếp cận với hội. Theo thống của Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương, trong thời gian 35 m qua, khong hơn 5.000 
Tăng Ni tốt nghiệp văn bằng cử nhân Phật học; trên 400 Tăng Ni được văn bằng tiến thạctrong cũng như ngoài nước hiện đang phục vụ trong nhiều lãnh vực của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đây thành quả đáng khích lệ của ngành giáo dục Phật giáo trong sự nghiệp đào tạo thế hệ kế thừa cho Phật giáo.

Tuy nhiên, để đuổi kịp những đổi thay về mặt tri thức cũng như yêu cầu bằng cấp trong bối cảnh hội hiện nay, khuynh hướng giáo dục Phật giáo hiện nay dường như phát triển khá nhanh đang mất dần sự cân đối giữa thực tế tưởng. Nói khác đi, Phật giáo đang một thế hệ Tăng Ni kiến thức tốt về cuộc sống, thông thạo về Phật học nhưng lại thiếu năng lực kinh nghiệm về phương diện tâm linh. Lối sống này dành quá nhiều thời gian hướng ngoại thiếu việc hành trì chánh pháp để quán chiếu nội tâm. Đây hệ quả của khuynh hướng nặng về học, nhẹ về tu, nặng về mục tiêu ngắn hạn, nhẹ mục tiêu giải thoát. Thành quả này lẽ sẽ không bền vững cũng không phải đích đến của giáo dục Phật giáo; bởi mục tiêu của giáo dục Phật giáo đào tạo ra những con người đầy đủ đức hạnh trí tuệ7 mới thể tự giải thoát cho mình giúp đỡ tha nhân, Hương thơm của hoa chỉ bay theo chiều gió, hương thơm của đạo đức tỏa ngát muôn phương, hương thơm các chân nhân tỏa khắp mọi chân trời8.

Do vậy, lẽ đã đến lúc lãnh đạo ngành giáo dục Phật giáo cần trầmvề thông điệp trung đạo đức Phật đã giảng dạy, cần phải nghiên cứu kỹ ỡng ba mệnh đề cốt lõi của một nền giáo dục9 cần để thể chỉnh lý lại hiện trạng giáo dục cho phù hợp với tiêu chí của đạo Phật. Đặc biệt, trong một thế giới khi đạo đức các nền tảng văn hóa dân tộc đang xuống cấp trầm trọng, khi phần lớn con người, bao gồm cả giới cư sĩ tu sĩ, đang sống ảo, chuộng n
hững giá trị ảo, đánh mất thế giới thực tại thì những nhà giáo dục Phật giáo cần phải làm giá trị giáo dục thực tiễn của mình. Người viết tin tưởng rằng nếu giới lãnh đạo giáo dục Phật giáo vận dụng được thông điệp trung đạo một cách thiện xảo đúng thời thì hệ thống giáo dục ấy sẽ một trong những giải pháp khả thi trong việc giúp đỡ nhân loại điều chỉnh những rối loạn, khủng hoảng từ phương diện viđến phương diện mô, từ thế giới con người cho đến thế giới tự nhiên. Bởi theo giáoPhật giáo, tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong cuộc đời này đều phát xuất từ tâm con người. Khi tâm được thay đổi thì thế giới sẽ thanh bình.10

 
***

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây