02. BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT

Thứ sáu - 06/12/2019 05:15
BẢN CHT, ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT
HT. Thích Huệ Tng
 
Giáo dục Phật giáo nền tảng giáo dục của từ bi trí tuệ, từ bi chính Phật chất lưu xuất từ suối nguồn đạo đức tâm linh hiện hữu nơi những con người trí tuệ, trí tuệ hoạt dụng của bản thể, nơi tâm hồn những con người tỉnh thức hướng đến chân trời giác ngộ giải thoát. Do vậy, Phật giáo luôn lấy trí tuệ làm sự nghiệp để khai mở tâm thức chuyển hóa nghiệp lực thành nguyện lực, nhân đó khơi nguồn tuệ giác trong đời sống nhân gian. Chính vậy trí tuệ luôn mục tiêu tối thượng của đạo Phật, sự nghiệp duy nhất của những người con Phật trên con đường giác ngộ giải thoát. Tuy nhiên để từng bước đạt được mục tiêu tối thượng này cần phải nền tảng giáo dục ưu việt, nhân sự giáo dục đạo hạnh, tâm huyết năng lực, phương cách giáo dục tối ưu, định hướng giáo dục phù hợp tình hình thực tiễn thì mới thể làm tốt công tác giáo dục đào tạo, phát triển đời sống đạo đức tâm linh tạo được sức lan tỏa Phật chất trong đời sống cộng đồng. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo với chủ đề “Phật hc Việt Nam thời hiện đại: Bản chất, hội nhập và phát tr̉n. Điu này đã nói lên tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục Phật giáo nước nhà, cũng như mục tiêu giáo dục của Phật giáo trong thời đại ngày nay.
Hội thảo lần này dịp để chúng ta nhận chân một cách khách quan, trung thực về công tác giáo dục của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 35 năm, qua đó đề ra định hướng giáo dục phù hợp với tình hình thực tế, tạo nền móng vững chắc cho sự nghiệp đổi mới phát triển công tác giáo dục Phật giáo thời hội nhập. Chính vậy, chúng ta cần nhận thức sâu sắc bản chất đặc điểm giáo dục của đức Phật, cũng như những giá trị giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà, từ đó đề ra chương trình thích hợp nhằm hoàn thiện nâng cao chất lượng giáo dục, trên tinh thần này tôi xin đóng góp cùng Hội thảo bài tham luận: Bản chất, đặc điểm và giá trị giáo dục của đức Phật.
  1. BẢN CHẤT GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT
Đức Phật ra đời khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tuy nhiên do chúng sanh căn tánh bất đồng, trình độ căn dị biệt, nên ngài mở bày phương tiện thích ứng với từng căn nhằm giúp chúng sanh nhận ra bổn tâm thanh tịnh. thể nói đây mục đích ra đời của đức Phật những lời dạy của đức Phật chính nền tảng giáo dục của đạo Phật. Nền tảng giáo dục trong hệ thống giáoPhật Đà bao gồm Kinh, Luật, Luận.
Tam tạng kinh điển phương tiện nhằm giúp con người thấu hiểu chângiác ngộ giải thoát, trên căn bản, người học Phật thông qua bốn lẽ thật (Tứ Diệu Đế) sẽ nhận ra nguyên nhân gây nên sanh tử luân hồi phương pháp tận diệt khổ đau luân hồi sanh tử, đồng thời nương theo tám con đường chơn chánh (Bát Chánh Đạo) nỗ lực tinh tấn tu hành trên căn bản Giới-Định-Huệ sẽ hội được giải thoát.
Người học Phật lấy trí tuệ làm sự nghiệp (Duy tuệ thị nghiệp), 
nhận thức đời sống thường, kiếp sống ngắn ngủi, trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử, nên phát tâm nghiêm trì giới luật công phu thiền định để hướng đến chân trời giác ngộ giải thoát, cho nên, giáo lý của Phật giáo Nguyên thủy hay giáo lý của Phật giáo Đại thừa, cũng đều dẫn dắt người học Phật thể nhập chân lý tuệ giác đức Phật đã trải nghiệm, con đường thể nhập chân lý đó chính Giới-Định-Huệ.
Phật nghĩa người tỉnh thức trước dục vọng, giác ngộ thường, tận diệt tham sân si, chứng thật tướng vạn pháp, vượt qua luân hồi sanh tử. Giáo lý của đức Phật, Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo phát triển cũng đều dạy chúng ta thực hành Giới- Định-Huệ để trở về bản tâm thanh tịnh, giải thoát viên mãn, hoàn toàn tự do tự tại.
Chiêm nghiệm lời dạy của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà cho thấy đức Phật đã dạy những điều ngài thực nghiệm, thực chứng để giúp chúng sanh chuyển hóa nghiệp lực rốt ráo giải thoát như ngài, chính vậy đạo Phật luôn chú trọng thực hành phương cách sống đạo trí tuệ, tỉnh thức chánh niệm; đặc biệt tất cả phương cách sống đạo, ở hệ thống truyền thừa nào, nếu muốn thành tựu đạo nghiệp thì cũng đều phải thực hành Giới-Định-Huệ.
Giới-Định-Huệ đối với người học Phật cực kỳ quan trọng, minh chứng điều này, trước khi nhập Niết bàn, từ đầu đến cuối bản Kinh Di Giáo, đức Phật đều tập trung vào tầm quan trọng của Giới- Định-Huệ, những lời dạy ân cần của ngài về “Giới” được ghi lại như sau: “Các thầy Tỷ kheo, sau khi Như Lai diệt độ, các thầy phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như tối được mắt sáng, ngho nàn được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Như Lai ở đời thì cũng không khác tịnh giới ấy” “Giới thì chính thuận với căn bản của sự giải thoát, nên Như Lai mệnh danh Ba la đề mộc xoa. Nhờ giới phát sinh thiền định trí tuệ năng lực hủy diệt thống khổ… Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy giữ tịnh giới, đừng cho vi phạm, thiếu sót. Ai giữ tịnh giới thì 
người đó thiện pháp. Không tịnh giới thì mọi thứ công đức không thể phát sinh. Do đó biết tịnh giới chỗ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn cho mi thcông đức. Vtầm quan trng của “Định, đức Phật dạy rất rõ: “Các thầy Tỷ kheo, năm thứ giác quan do tâm chủ động, vậy các thầy lại phải thận trọng chế ngự tâm mình. Tâm còn đáng sợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc thù, lửa dữ bùng cháy lan tràn cũng chưa đủ để dụ cho tâm… Các thầy phải cấp tốc tỏa chiết, đừng cho phóng túng. Phóng túng tâm ra thì làm tan nát việc thiện của người. Chế ngự tâm lại một chỗ thì không việc không thành. Thế nên, các thầy Tỷ kheo, hãy nỗ lực tinh tiến chiết phục tâm mình… Các thầy Tỷ kheo, tập trung tâm lại thì tâm sẽtrong thiền định. Tâmtrong thiền định thì thể thấu triệt trạng thái chuyển biến của trụ. thế các thầy phải luôn luôn tinh tiến, nỗ lực thực tập thiền định. Thiền định được thì tâm hết tán loạn. Tiếc nước thì phải đắp đê sửa bờ cho khéo, hành giả cũng vậy, hãy nước trí tuệ thực tập thiền định để giữ cho nó khỏi chảy mất. Đó là hạnh thin định. Về “Hu, đức Pht dy: Các thy Tkheo, trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh tự dò xét, không để lầm lỗi thể được, như thế trong chánh pháp của Như Lai, người ấy khả năng thực hiện giải thoát. Không như thế thì đã không phải xuất gia, lại không phải thế tục, không còn biết gọi gì. Trí tuệ chân thật chiếc thuyền chắc nhất vượt biển sinh lão bịnh tử, ngọn đn sáng nhất đối với hcámvô minh, thần dược cho mọi kẻ bịnh tật, búa sắc chặt cây phiền não. thế các thầy hãy dùng cái tuệ văn tu chứng để tự tăng tiến ích lợi. trí tuệ soi chiếu, thì dẫu mắt thịt, cũng vẫn kẻ thấy nhất. Đó hạnh trí tuệ”1.
Qua lời dạy của đức Phật những khái niệm đã trình bày, chúng ta thể đưa ra một nhận xét chuẩn về bản chất giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà đó chính Giới-Định-Huệ, nhờ Giới-Định-Huệ người học Phật mới thể chiến thắng dục vọng, loại trừ tham-sân-si, minh, phiền não, thành tựu đạo quả giải thoát.
 
 
  1. ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT
Mục đích ra đời của đức Phật khơi nguồn tuệ giác trong đời sống nhân gian, nguồn sống tuệ giác đó chính nền tảng đạo đức, phẩm hạnh từ bi trí tuệ, luật nhân quả, lý duyên sinh, tinh thần vị tha ngã, cùng muôn vàn đức tính ưu việt. Trên 25 thế kỷ nguồn sống tuệ giác đó đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi người con Phật, gieo vào tạng thức mỗi người hạt giống từ bi trí tuệ, hướng thượng vượt thoát, để từ đó con người mới thể đạt đến cảnh giới giác ngộ giải thoát lợi ích tha nhân, nhờ đó kiến tạo nên một thế giới hòa bình, hạnh phúc thịnh vượng. Mỗi lời đức Phật dạy đều chứa đựng toàn bộ những đặc tính ưu việt trong đời sống nhân loại, chính vậy sự giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà đã cho chúng ta thấy số đặc điểm cao quý mang lại lợi ích thiết thực cho nhân loại, trong giới hạn tham luận này chúng tôi chỉ nên lên một số đặc điểm nổi bật như sau:
    1. Phù hợp với các nền văn hóa trong đời sống nhân loại
Đối với loài người trên thế giới ngày nay thì đạo Phật đạo của từ bi trí tuệ, nổi bật lên với bốn đức hạnh từ bi hỷ xả người dânbất kỳ vùng miền lãnh thổ nào cũng đều ghi nhận trân trọng; nền móng giáo dục của Phật giáo gắn liền hai yếu tính từ bi trí tuệ, không ngừng thăng hoa phát triển trên tinh thần tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, đây đặc điểm nổi bật của nền giáo dục Phật Đà.
Những lời đức Phật dạy,trong giáoPhật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Đại thừa, cũng đều hướng đến một đời sống đạo đức, an lạc hạnh phúc cho nhân loại, hòa bình thịnh vượng cho thế giới, giác ngộ giải thoát cho từngthể, đặc biệt. Những lời dạy của đức Phật luôn phù hợp thích nghi với các nền văn hóa trên thế giới, một người con Phậtbất kỳ đất nước nào, dân tộc nào, nền văn hóa nào, thì cũng đều thể ứng dụng những lời Phật dạy vào đời sống tu tập hằng ngày cũng đều đạt được những kết quả nhất định, đều mang lại lợi ích cho bản thân ảnh hưởng tích cực đến đời sống hội. Tính thích nghi hòa hợp dung thông của Phật giáo với 
tất cả nền văn hóa trên thế giới xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại trên 25 thế kỷ qua đã cho thấy đặc điểm giáo dục Phật giáo nền giáo dục đa văn hóa không giới hạn không gian, thời gian.
Từ sự dung thông thích nghi với tất cả nền văn hóa, trên phương diện đạo đức hội, nền giáo dục Phật giáo luôn quan tâm đến đời sống nhân loại, giúp con người hoàn thiện nhân cách sống, với các chuẩn mực về đạo đức trí tuệ. Nền giáo dục Phật giáo sẽ giúp cho thế giới giảm bớt chiến tranh đau khổ, tiến đến một thế giới hòa bình hạnh phúc; giúp con người cải thiện hệ sinh thái môi trường nhờ nuôi ỡng lòng từ bi nhận thứcduyên sinh sâu sắc, nhờ đó hóa giải cộng nghiệp của nhân loại, kiến tạo một thế giới hòa bình an lạc.
    1. Phù hợp lợi ích với mọi thành phần hội
Trong Kinh đin Pht giáo Nguyên thủy ghi nhận vic đức Pht tiếp nhận hóa độ người thợ hớt tóc tên Ưu Ly thuộc giai cấp Th Đà La,Ưu Ly xuất thân từ giai cấp hạ đẳng trong hội Ấn Độ thời bấy giờ, nhưng về sau ngài Ưu Ly cũng chứng đạo quả A La Hán, bậc tôn giả trì giới đệ nhất một trong mười đại để tử nổi tiếng của đức Phật.
Trong Kinh Diu Pháp Liên Hoa, đức Pht đã thọ ký cho Đ-bà- đạt-đa từng nhiều lần hãm hại ngài cũng sẽ thành Phật, hoặc như việc đức Phật ấn chứng cho Long nữ, điều này nói lên rằng, nền giáo dục Phật giáo luôn phù hợp lợi ích với mọi thành phần hội, dù cho người đó thuộc giai cấp nào, giới tính nào, vị trí nào trong đời sống hội thì cũng đều thể thành tựu đạo quả nếu nỗ lực tinh tấn thực hành theo lời dạy của đức Phật.
Đức Phật ra đời trên thế gian này cách đây hơn 26 thế kỷ, nhưng nguồn minh triết, tư tưởng giác ngộ giải thoát tinh thần ngã vị tha đức Phật dạy vẫn ngày một thăng hoa, vẫn luôn mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống đạo đức, văn hóa, tinh thần tâm linh của nhân loại. Để thành tựu điều này, chính nhờ vào tính giáo dục của Phật giáo thông qua hệ thống giáoPhật Đà, bằng con đường 
Giới-Định-Huệ tinh thần tự giác nỗ lực tu tập, ý chí vươn lên của người con Phật trên toàn thế giới.
Giáo Phật Đà thì mênh mông tận, nhưng mỗi lời đức Phật dạy tùy theo mỗi hoàn cảnh, tùy theo nhân duyên mỗi người, đều mang lại lợi ích lớn lao cho nn loại và cho cả muôn đời sau. Trong hệ thống giáoPhật Đà, mỗi lời Phật dạy đều giá trị giáo dục về nhân cách đạo đức, về tinh thần tự tri tự giác, về đức hạnh vị tha ngã, về đời sống giác ngộ giải thoát, chúng tôi xin nêu lên đây một bài học tiêu biểu hàm chứa tinh thần sâu sắc nhưng cũng rất gần gũi thiết thực với đời sống con người, đó lời đức Phật dạy trong Giới Kinh như sau: Tránh các điu ác - Siêng làm vic lành - Giữ ý trong sạch- lời Phật dạy” (Chư ác mạc tác/ Chúng thiện phụng hành/ Tự tịnh kỳ ý/ Thị chư Phật giáo) những lời dạy vắn tắt này sẽ mãi khuôn vàng thước ngọc, kim chỉ nam giúp con người vững tin tiến bước đến ngôi nhà giải thoát.
    1. Tính phổ biến của định luật nhân quả duyên sinh
Nói đến đạo Phật nói đến đạonhân quả, điều này trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy Phật giáo Đại thừa minh chứng rất qua từng lời dạy của đức Phật. Đức Phật dạy, gieo nhân thực hành ngũ giới thì sẽ gặt quả phước báu tốt đẹpcõi người, nhân thực hành nhân thập thiện sẽ được quả phước báu cõi chư thiên, gieo nhân thiện sẽ được quả báo tốt đẹp an lạc, gieo nhân bất thiện sẽ chịu quả báo bất an đau khổ, từ đó giúp cho con người thanh tịnh an ổn trong mỗi lời nói, suy nghĩ việc làm của mình, đây sở giúp con người tránh xa việc bất thiện thực hiện những điều ích lợi cho bản thân đời sống hội. Đạo nhân quả dù định luật tự nhiên trong đời sống nhưng được nền giáo dục Phật giáo chú trọng nên hình trung trở thành một đạocăn bản của Phật giáo rất phổ biến trong sinh hoạt đời sống hằng ngày, cũng như được ứng dụng triệt để trên con đường tu hành của người con Phật.
Duyên khởi nguyênnhân quả phổ quát, mọi sự việc hay hiện tượng phát sinh kết thúc đều nhân duyên của nó, đều do nhân duyên sinh, đều do nhân duyên diệt, nó chuyển biến 
thường, không tự tánh độc lập. duyên sinh khẳng định “cái này sanh cái kia sanh, cái này diệt cái kia diệt”2. Thật vậy, cái kia sinh bao hàm cái nọ, nhân quả nối kết trùng trùng, theo đó, mỗi lúc, mỗi thời, các vấn đề không ngừng phát sinh, ngày càng nhiều, ngày càng chồng chéo lên nhau trong đời sống mỗi con người cả thế giới này cũng vậy, điều này khiến cho cuộc sống luôn đặt ra những vấn đề mới buộc chúng ta quan tâm giải quyết điều này một thực tế rất phổ biến trong mọi sinh hoạt đời thường nhân loại phải công nhận.
Đức Phật dạy “Này Ànanda, chính không giác ngộ, không thâm hiểu pháp duyên sinh nên chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, sanh tử”3. Từ lời dạy của đức Phật, trong suốt 25 thế kỷ qua, Phật giáo luôn ý thức tính phức tạp của các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống được xem trùng trùng duyên khởi, điều này đã giúp cộng đồng Phật giáo trên toàn thế giới mở ra một hướng tiếp cận để giải quyết các vấn đề thời đại, đó kêu gọi mọi người nắm bắt quy luật duyên sinh của mọi hiện tượng để hành động hay quyết định mọi vấn đề liên quan đến đời sống, hành động tích cực nhất để giải quyết tận gốc các vấn đề thời đại, chính là thực hin lời Pht dy trong Giới Kinh: Tránh các điu ác
  • Siêng làm vic lành - Giữ ý trong sch.
Ngày nay, nhờ thấu hiểuduyên sinh định luật nhân quả, nhân loại đã không bàng quan hay lẩn tránh trách nhiệm trước mọi vấn đề phát sinh trong đời sống, cùng chung tay xây dựng một thế giới hòa bình an lạc, trong thời gian qua, những hội thảo khoa học nhân các sự kiện Phật giáo quốc tế, đặc biệt chủ đề của Hội thảo khoa học quốc tế nhân sự kiện Đại lễ Vesak 2019 vừa tổ chức tại Việt Nam trong năm nay4  đã nói lên sự quan tâm thái độ trách nhiệm của Phật giáo cộng đồng thế giới đối với các vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu, qua đó thể nói rằng, tính phổ biến của duyên sinh định luật nhân quả đích thực một trong những đặc điểm giáo dục nổi bật của đức Phật trong hệ thống giáo Phật Đà.
    1. Tính thực tế
Giáo đạo Phật không phảithuyếthồ, mang tính thực tiễn, tác dụng cụ thể thiết thực trong đời sống tinh thần tâm linh của mỗi người con Phật. Đức Phật thường từ chối trả lời những câu hỏi về những vấn đề siêu hình. Ngài chỉ dạy những cần thiết cho cuộc đời cho con đường thoát khổ của con người. Đức Phật dạy: “Đừng nghĩ về quá khứ, quá khứ không còn, đừng vọng tưởng tương lai, tương lai chưa đến, hãy quán chiếu sự sống trong phút giây hin ti5. Trong hệ thống giáo lý Pht Đà, nhng lời đức Phật dạytrong thời thuyết pháp nào và với bất kỳ đối tượng nào, thì đức Phật cũng đều sự lợi ích của chúng sanh, đều giúp họ nhận ra những vấn đề thực tế nơi bản thân cần phải giải quyết, đó sự hoành hành chi phối của tham sân si, đó sự bất an đau khổ luân hồi trong sanh tử, đồng thời đức Phật cũng chỉ ra những vấn đề nhức nhối thực tế trong đời sống, như sự hủy diệt của khủng bố chiến tranh, những vấn nạn về môi trường sự bất bình đẳng trong đời sống… tất cả đều những vấn đề mang tính thời sự rất thực tế này cần phải giải quyếtbằng sự tu tập trên căn bản Giới- Định-Huệ thông qua ứng dụng những lời đức Phật phù hợp với từng người từng vấn đề cần phải giải quyết. Điều này đã cho thấy tính thực tế chính một trong những đặc tính nổi bật của đạo Phật.
    1. Tính bình đẳng
Theo quan niệm của đạo Phật thì tất cả chúng sanh đều Phật tánh, đều khả năng giác ngộ giải thoát, đều khả năng đạt được nguồn sng cn hạnh phúc, đức Pht từng tuyên bố Ta là Pht đã tnh, các ngươi là Pht sẽ tnh. Có thể nói tinh thần bình đng trên phương diện thể tánh chân đặc điểm nổi bật nhất của nền giáo dục Phật giáo so với tất cả các tôn giáo mặt trên hành tinh từ cổ chí kim.
Th nhất bình đẳng giữa thiện ác, kẻ ác người thiện ai cũng tri kiến Phật như nhau, ác hay thiện khi đã duyên với đạo Phật nhận ra tri kiến Phật nơi tự thân ắt sẽ thành Phật, chẳng hạn như người mổ heo tên Quảng Ngạch sau khi giác ngộ liền nói “Hôm qua tâm Dạ xoa, ngày nay mặt Bồ tát, Dạ xoa Bồ tát, chỉ cách một đường tơ. Hoặc như vic đức Pht thọ ký cho Đ-Bà-Đạt-Đa tnh Phật để nói kẻ ác phạm tội ngũ nghịch như Đề-Bà-Đạt-Đa vẫn tri kiến Phật, nếu thức tỉnh tu hành thì cũng thành Phật.
Th hai bình đẳng giữa nam nữ, giữa người thú, người nam hay người nữ, kể cả súc sanh như loài rồng (Long nữ) cũng đều tri kiến Phật, cũng chính vậy Bồ tát Thường Bất Kh- inh khi gp ai cũng nóiTôi kng dám khinh các ngài, các ngài sẽ tnh Pht, điu này nói lên tính bình đng một cách tuyt đi trong Phật giáo không một tôn giáo nào được.
    1. Tính tự lực
Trong Kinh Trường A Hàm, đức Pht dy: “Này các Tkheo, hãy tự mình thắp lên ngọn đuốc của chính mình, hãy tự mình làm chỗ nương tựa của chính mình, nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa với một pp nào khác. Trong bài kinh khác đức Pht dạy: “Chính ta kẻ thừa kế của hành động của ta, người mang theo hành động của mình” “Như Lai chỉ người chỉ đường, mỗi người phải tự đi đến, không ai thể thay thế cho ai được”6. Theo quan niệm của đạo Phật thì, đức Phật không phải đấng thần linh ban phước hay giáng họa cho con người, chính con người làm thay đổi hoàn cảnh, mang lại hạnh phúc an lạc cho bản thân mình, qua đó cho thấy tinh thần tự lực một đặc tính giáo dục nổi bật của đức Phật.
 
    1. Tính tự do
Khác hẳn với các tôn giáo lớn mặt trên thế giới đều dạy tín đồ của mình phải toàn tâm toàn ý hướng đến đấng giáo chủ, thì giáonhà Phật lại nhắc nhở con người không nên tin theo đạo Phật một cách quáng. Đức Phật từng dạy hàng đệ tử chớ vội tin vào những điều ngài thuyết giảng nếu như những điều đó không thực sự mang lại nguồn sống hạnh phúc an lạc. Trên thực tế, khi đến với bất cứ đạo giáo nào, thì khởi đầu phải xuất phát từ niềm tin, tuy nhiên, với đạo Phật thì khác hẳn, đến với đạo Phật để nhìn nhận vấn đề một cách sáng suốt chứ không phải để vội vàng tin theo một cách quáng. Về điều này, đức Phật cũng từng dạy rằng “Tin ta không hiểu ta cũng không khác báng bổ ta”, do vậy đạo Phật chú trng nht ở cnh kiến. Trong một ln dy dân Kàlama về cách gạt bỏ những niềm tin quáng, đức Phật dạy: “Này các Kàlama, đừng để bị dẫn dắt bởi những báo cáo, hay bởi truyền thống, hay bởi tin đồn. Đừng để bị dẫn dắt bởi thẩm quyền kinh điển, hay bởi lý luận suông, hay bởi suy lý, hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay bởi thích thú trong nhữngluận, hay bởi những điều dường như thể xảy ra, hay bởi ý nghĩ đây bậc đạo của chúng ta. Nhưng này các Kàlama, khi nào các ông biết chắc rằng những điều ấy thiện, tốt, hãy chấp nhận theo chúng”7. Khuyến khích sự tự do phân tích, khảo sát, kiên quyết bác bỏ các tín điều đức tin quáng, đây chính một trong những đặc điểm giáo dục nổi bật của đức Phật.
    1. Tính hòa bình
Đạo Phật đạo của từ bi trí tuệ, nổi bật lên với bốn đức hạnh Từ Bi Hỷ Xả, nền móng giáo dục của Phật giáo gắn liền với hai yếu tính Từ Bi - Trí Tuệ phát triển trên tinh thần tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, đây nền tảng của sự an lạc tâm hồn nơi mỗi con người sở vững chắc để kiến tạo một thế giới hòa bình.
Từ Bi Hỷ Xả phương cách sống cao thượng, giúp Phật tử thoát k
hỏi vòng đấu tranh thị phi nhân ngã, dục vọng lợi danh, đưa con người đến thế giới hòa bình hạnh phúc, người con Phật luôn lấy từ, bi, hỷ, xả để trau dồi phẩm hạnh làm nền tảng phát triển con đường tu tập.
Trên thế giới ngày nay, bất cứ dân tộc nào, đất nước nào chủ trương thực hiện bốn đức hạnh Từ Bi Hỷ Xả của Phật giáo trong đời sống hội, thì nơi đó sẽ không chiến tranh. Thật vậy, trải qua trên 25 thế kỷ, lịch sử Phật giáo chưa từng một trường hợp, một quan điểm nào đạo Phật bào chữa cho chiến tranh, hoặc một ý niệm, một sự kiện bạo tàn nào được tìm thấy trong đạo Phật, hoặc một cuộc chiến tranh nào xảy ra bênh vực cho quyền lợi của đạo Phật. Thật vậy, ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống thì không oán kết, hận thù, thế giới sẽ được hòa bình ổn định phát triển. Trong Kinh Pháp Cú, đức Pht dy: “Hn thù kng trừ dit hận thù, chỉ có tình thương mới trừ dit hận thù, điu này cho thy đo Phật đạo hòa bình hòa bình một trong những đặc điểm cao quý về giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà.
    1. Trách nhim với tha nhân
Mục đích ra đời của đạo Phật để khơi nguồn tuệ giác trong đời sống nhân gian, đem lại ánh sáng giác ngộ tinh thần giải thoát cho mọi người, do đó thể nói rằng, trách nhiệm với tha nhân đặc điểm giáo dục nổi bật của đức Phật trong hệ thống giáo Phật Đà.
Thời tại thế, đức Phật đã kêu gọi các đệ tử: “Các Tỳ kheo! Như Lai đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian xuất thế gian, các ông cũng vậy... Này các Tỳ kheo, hãy đi lợi lạc của nhiều người, hạnh phúc của số đông, lòng lân mẫn đối với thế gian, lợi lạc, hạnh phúc của trời người. Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền chánh pháp. Này các Tỳ kheo, chánh pháp toàn thiệnphần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện thanh tịnh... Chính Như Lai cũng đi, Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa)Sanànigàma để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, 
hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, các ông đã hoàn tất nhiệm vụ”8.
Tính trách nhiệm với tha nhân thể dễ dàng nhận thấy qua tinh thần nhập thế cao cả của những người con Phật từ việc thực hành lời dạy của đức Phật về “Tứ Nhiếp Pháp” (Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự) tinh thần nhập thế lợi ích tha nhân được đức Phật động viên khuyến khích được thể hiện bàng bạc trong hệ thống giáoPhật Đà. Chính vậy ngay từ thời du nhập vào đất nước ta, thông qua nguồn tuệ giác, tâm từ bi, vị tha, ngã nhất hạnh nguyện độ sanh của các bậc chân tu hoằng pháp, Phật giáo đã sớm hòa hợp dung thông với văn hóa dân tộc trên tinh thần tùy duyên lợi hành đồng sự. Nhờ tinh thần hòa hợp dung thông này Phật giáo đã rất thành công trong việc nhập thế độ sanh, gieo mầm đạo đức, ban rải tâm từ, soi rọi ánh sáng Phật pháp thấm nhuần sâu rộng trong đời sống.
    1. Trách nhim với Tổ quc
Tại nước ta, trong suốt quá trình tồn tại phát triển, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc đã để lại nhiều dấu ấn trong đời sống văn hóa hội, xây dựng nhân cách đạo đức đời sống tâm linh, do vậy, ngoài những đặc điểm giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà, thì Phật giáo Việt Nam còn truyền thống đồng hành cùng dân tộc, nên nội dung giáo dục về “Tứ trọng ân” cũng được thể hiện sâu rộng trong cộng đồng Phật giáo, đây cũng là một đặc điểm giáo dục rất đặc trưng của Phật giáo tại Việt Nam.
Giáo dục về “Tứ trọng ân” thể hiện qua sự đồng hành của Phật giáo cùng dân tộc, người theo đạo Phậtnước ta thường quan niệm đất nước còn thì mái chùa còn, trong thời bình, khi đất nước tự do độc lập, Phật giáo một đoàn thể tự giác tự nguyện đóng góp hiệu quả trên nhiều lĩnh vực đời sống nhân sinh, khi đất nước bị đô hộ hay ngoại bang xâm lấn, Phật giáo không ngần ngại dâng hiến kế sách đối phó, thậm chí hy sinh cả máu xương để giành lại độc lập, t
ự do cho dân tộc, điều này khẳng định sự đồng hành cao cả của Phật giáo trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Suốt chiều dài lịch sử nước nhà, chúng ta đã thấy rất Phật giáo phụng sự dân tộc một cách tự nguyện, tư, trong sáng, ngoài trách nhiệm với đồng bào đất nước như lời đức Phật đã dạy về “Tứ trọng ân” thì hoàn toàn không hề bất kỳ một chủ đích nào khác. Bởi theo quan niệm của Phật giáo, phụng sự dân tộc cũng chính một Phật sự cùng quan trng để thể hin tấm lòng đn đáp tm ân của Quốc ch.
Trong 10 bn cht vđc đim giáo dục của đức Pht trong hệ thống giáoPhật Đà chúng tôi đã nêu trên đây, ngoài những đặc điểm thể hiện trí tuệ tuyệt vời của đấng Đại giác như tính thực tế, tính hòa bình, tính tự do, tính bình đẳng, tính tự lực, thì các đặc điểm khác xuất phát từ sự giáo dục của đức Phật cho hai nội dung, đó mấu chốt của việc tu hành (tính phổ biến của định luật nhân quả duyên sinh) tinh thần nhập thế độ sanh của Phật giáo (trách nhiệm với tha nhân trách nhiệm với Tổ quốc).
  1. GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT
Trong hệ thống giáo lý Pht Đà, bao gồm giáo lý Pht giáo Nguyên thủy Phật giáo Đại thừa đều mang giá trị giác ngộ giải thoát cho từngnhân giá trị đạo đức, nhân bản nhân văn để kiến tạo một thế giới hòa bình hạnh phúc.
Đối với từng nhân, giá trị giáo dục của đức Phật về đời sống giác ngộ giải thoát trong hệ thống giáoPhật Đà được minh chứng bằng ba mục đích rất cụ thể người học Phật hướng đến, đó tự điều phục bản thân, đạt được sự thanh tịnh an lạc, đạt được giác ngộ giải thoát.
- Tự điều phục bản thân: Người học Phật phát tâm tu hành theo giáo pháp của đức Phật đều tự nguyện tự giác điều phục bản thân, nhờ đó thể chế ngự những thói quen không tốt, ngăn chặn tâm tham dục, si mê, sân hận. Tự điều phục bản thân chính tâm chí hướng thượng, kết duyên thiện pháp, xa rời ác nghiệp, thoát khỏi sự ràng buộc giam hãm của minh, phiền não, si mê, tham dục, 
hướng đến cảnh giới tự do tự tại vốn hằng hữu nơi bản tâm thanh tịnh thuần khiếtmỗi con người. Đây giá trị giáo dục căn bản của đức Phật về con đường chuyển hóa nghiệp lực, từ căn bản này sẽ hướng đến những nấc thang cao hơn trên con đường tu hành giải thoát.
  • Đạt được sự thanh tịnh, an lạc: Khi người học Phật tỉnh thức chánh niệm để làm chủ bản thân, dần dần sẽ làm chủ các trạng thái buồn vui, sướng khổ, hạnh phúc hay bất hạnh, sẽ chế ngự được dục vọng phiền não, từ đó không còn âu lo phiền não được sự thanh tịnh, an lạc, như trong kinh Pháp , đức Phật dạy: “Không hạnh phúc nào lớn bằng syên tĩnh của m hồn, sự thanh tịnh, an lc của tâm hồn nói lên giá trị giáo dục của đức Phật trong giáo pháp của ngài.
  • Đạt được giác ngộ giải thoát: Khi người học Phật điều phục được bản thân, thọ dụng sự thanh tịnh an lạc, tiếp đến chọn pháp môn hành trì, nỗ lực công phu, tinh tấn tu tập, ắt sẽ đạt được sự giác ngộ giải thoát, đây giá trị giáo dục tối thượng của đức Phật về con đường giác ngộ giải thoát trong giáo pháp của ngài.
Về mặt tổng thể thì giá trị giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà hình thành từ nền tảng của định luật nhân quả duyên sinh đấng Đại Giác đã diệu dụng mở bày phương tiện thông qua tám vạn bốn ngàn pháp môn tu học, nhân quả duyên sinh là hai yếu tính mấu chốt tạo nên các giá trị giáo dục của đức Phật trong việc định hướng con đường tu hành cho người học Phật từ hàng đến bậc thức giả thượng căn thượng trí, điều này thể hiện rất trong giáo pháp của ngài thông qua nhân quả của năm tiến trình sau đây:
      • Giá trị giáo dục của đức Phật trong giáo pháp về con đường tu Nhân thừa:
Giá trị này được hình thành bằng việc người học Phật giữ gìn năm điều ngăn cấm.
      • Giá trị giáo dục của đức Phật về con đường tu của Thiên thừa
 
Giá trị này được hình thành bằng việc người học Phật giữ gìn 10 điều lành.
        • Giá trị giáo dục của đức Phật về con đường tu Thanh Văn thừa 
Giá trị này được hình thành bằng việc người học Phật tu theo pháp Tứ Diệu Đế, đặc biệt Đạo đế tức con đường chân thật, phương pháp tu hành dẫn đến quả vị Niết bàn, phương pháp này bao gồm 37 phẩm trđo, trong đó có “Bát cnh đo, thường được coi pháp môn quan trọng nhất: Chánh tri kiến, Chánhduy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tin tấn, Chánh niệm Chánh định.
        • Giá trị giáo dục của đức Phật về con đường tu Duyên Giác thừa
Giá trị này được hình thành bằng việc người học Phật tu theo pháp Thập nhị nhân duyên.
        • Giá trị giáo dục của đức Phật về con đường tu Bồ Tát thừa
Giá trị này được hình thành bằng việc người học Phật phải phátBồ đề tâm, gồm bốn đại nguyện: Chúng sanh biên thệ nguyện độ/ Phiền não tận thệ nguyện đoạn/ Pháp môn lượng thệ nguyện học/ Phật đạo thượng thệ nguyện thành. Đồng thời trên căn bản phải tu theo Lục độ Ba la mật, bao gồm Bố thí, Trì giới: Bố thí, Nhẫn nhục Tinh tấn Thiền định Trí huệ; trong đó Trí tuệ bao gồm Văn - Tu; trong các pháp môn tu hành của hành giả Đại thừa Bồ tát, thì Lục độ Ba la mật pháp môn thường được áp dụng, chư Phật chư Bồ tát viên mãn công hạnh tư lợi lợi tha đều lấy pháp Lục độ làm căn bản.

Như vậy, giá trị giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà, bằng con đường Giới-Định-Huệ được ứng dụng qua 3 mục đích đầu tiên của người học Phật, tiến đến việc nghiêm trì giới luật thực hành các pháp môn tu tập ứng với 5 tiến trình từ Nhơn thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa cho đến Bồ tát thừa như đã trình bày.

Điều này cho thấy, giá trị giáo dục của đức Phật trong kho tàng 
tam tạng kinh điển nhằm hướng đến mục tiêu giác ngộ giải thoát, do vậy, nội hàm giáo dục của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh,trong hoàn cảnh nào thì cũng phải giữ vững bản chất chuyển tải các giá trị giáo dục của đức Phật trong việc truyền trao kiến thức thì đây mới đích thực giáo dục Phật giáo.
  1. SỰ DẤN THÂN CỦA NHÀ GIÁO DỤC
Giáo dục công việc không chỉ dành cho khối óc công việc của trái tim, không chỉ bằng trí tuệ sáng suốt bằng cả từ tâm vị tha nhân ái của mình. Một nhà giáo dục chuẩn mực trách nhiệm với sứ mạng giáo dục đào tạo, không phải thường trực trên bục giảng đủ còn phải biết nhập cuộc dấn thân vào các hoạt động của người học, cùng người học chia sẻ khó khăn cũng như chan hòa niềm vui trên đường thăng tiến.

Trong hệ thống giáo dục ở nước ta ngày nay, một khi nói đến hai từ dn tnhay nhập cuộc, vmt hình thức, có lẽ chúng ta liên tưởng ngay đến sự hiện diện của các nhà giáo dục tại các trung tâm hướng nghiệp, trung tâm dạy nghề, hay tại các trung tâm giáo dưỡng thuộc ngành lao động Thương binh hội, chứ không thể nào hình dung ra nổi sự “dấn thân” của các nhà giáo dục trong môi trường phổ thông thuần túy. Như vậy, trong môi trường học đường các nhà giáo sẽ dấn thân như thế nào? Làm sao để nhập cuộc chan hòa với các học sinh, Tăng ni sinh viên của mình? thể nói đây bài toán khó trong môi trường giáo dục tại nước ta hiện nay nhưng không thể nói rằng đây bài toán không lời giải. Thật ra trong một tiết học, trong một tiếng đồng hồ đứng lớp, nhà giáo dục vẫn thể “nhập cuộc” cùng các em bằng con tim yêu thương tận tụy của mình, vẫn thể trải lòng trong từng lời giảng, trong từng phương pháp dạy dỗ của mình.
  1. ĐỊNH HƯỚNG TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC
Định hướng được xem một nghệ thuật hướng dẫn rất tinh tế trong công tác giáo dục đào tạo. Khi đề cập đến việc định hướng, tức nhà giáo dục đã rất am tường năng lực cũng nhưnhân tính cách của người học, chính sự sâu sát gắn kết giữa thầy với trò trong tiến trình giáo dục nhất ở giai đoạn cuối của khóa học mới thể giúp cho nhà giáo dục những định hướng chuẩn để người học dành thời gian chuyên sâu vào lĩnh vực bản thân quyết định theo đuổi tới cùng, điều này cùng quan trọng đối với người học, bởi một quyết định thiếu chín chắn của người học định hướng chưa chuẩn xác của nhà giáo dục sẽ mang lại một kết quả không mấy khả quan trong sự nghiệp giáo dục đào tạo nên con người hoàn thiện. Do vậy, đối với một vị Tăng Ni sinh viên từ việc quyết định chọn pháp môn tu hành đến yếu tố định hướng. Sự định hướng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục hoằng pháp độ sanh của những vị Tăng Ni sinh, bởi định hướng sai, định hướng chưa chuẩn sẽ dẫn dắt người học đạo đi lệch ra khỏi quỹ đạo giác ngộ giải thoát, từ đó dễ dàng đắm chìm trong đời sống ngũ dục thế gian.

Chính vậy việc định hướng cho con người hướng đến nền đạo đức tâm linh một việc làm thiết thực trong đời sống ngày nay. Nền đạo đức tâm linh, một mặt sẽ giúp cho con người củng cố nhân cách đạo đức, phát huy năng lực lao động học tập vừa tạo nên sự biến đổi tích cực hơn trong đời sống bản thân hội, nền đạo đức tâm linh sẽ cải hóa con người trở nên tốt hơn, giúp con người thực hiện những giá trị đạo đức làm người một cách sâu sắc toàn diện hơn, để từ đó con người trở nên dễ dàng mở lòng trước những giá trị thiêng liêng cao thượng trong đời sống. Chính vậy giai đoạn cuối của tiến trình giáo dục đào tạo một cách tối ưu, thì bao giờ cũng dẫn dắt con người đến với nền giáo dục đạo đức tâm linh, ở đây chúng tôi xin nói hơn đó nền giáo dục đạo đức Phật giáo mới thể giải quyết tận cùng những yêu cầu được sống hạnh phúc một cách bền vững an lạc nhất trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Từ những phân tích, nghiên cứu đánh giá chương trình giáo dục của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua, nhân đây chúng tôi xin chia sẻ vài ý kiến như sau:
 
  • Khi chúng ta xác định bản chất giáo dục của đức Phật trong hệ thống giáoPhật Đà Giới-Định-Huệ mục tiêu tối hậu giác ngộ giải thoát, đây nền giáo dục mang tính đặc thù của Phật giáo, do vậy trong chương trình giáo dục của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh thiết nghĩ cần bổ sung thêm môn học thuần túy về “Văn Cảnh Sách” nhằm tập trung vào những lời giáo huấn của đức Phật chư Tổ nội dung sách tấn để Tăng Ni sinh tỉnh thức chánh niệm, chú trọng Giới-Định-Huệ, nhất trong bối cảnh thời đại.
  • Nhằm tạo điều kiện cho Tăng Ni sinh thuận lợi trong việc tu hành, ngoài sở nội trú bắt buộc thiết nghĩ Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh nên thiền đường dành riêng cho Tăng Ni sinh tọa thiền, tĩnh tâm, quán chiếu, cụ thể hóa lời dạy của thiền Hương Hải: “Hằng ngày nên quán sát lại mình, Xét nét cho cùng chớ dễ khinh, Không tìm tri thứctrong mộng, Thy sẽ thy ngay trên mt mình.
  • Hội thảo khoa học lần này với chủ đề chính “Phật học Việt Nam thời hin đi: Bn cht, hi nhập và phát trin, do vy, bên cạnh việc kế thừa truyền thống giáo dục từ nền tảng giáo lý của đức Phật bằng con đường giáo dục Giới-Định-Huệ, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh cần kết hợp với nền giáo dục đương đại, qua đó nên kế hoạch mở rộng, bao gồm giáo dục Phật học, khoa học hội, khoa học nhân văn, khoa quản trị hành chánh Giáo hội và các lĩnh vực khác, nhất là phương thức truyền trao kiến thức theo chiều hướng chuyển hóa nội tâm, khai sáng tâm trí, phát huy tuệ lực năng lượng giải thoát, để đào tạo nên những hạt nhân nòng cốt phục vụ cho tiến trình hội nhập phát triển của Phật giáo của đất nước, theo đó tầm vóc nội dung giáo dục của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ nâng cao, khởi sắc, sinh động phát triển, điều này sẽ tạo dấu ấn đặc trưng của một môi trường giáo dục hàng đầu của Phật giáo Việt Nam.
  • Đức Phật dạy chúng ta phải nắm bắt quy luật duyên khởi để hành động hay quyết định mọi vấn đề liên quan đến đời sống của chúng ta, Hội thảo khoa học với chủ đề “Phật học Việt Nam thời hiện đại: Bản chất, hội nhập phát triển” hy vọng đây sẽ duyên khởi cho một chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục của nhà trường thích ứng với hoàn cảnh thời đại, với suy nghĩ tích cực này, chắc chắn chúng ta sẽ tranh thủ nắm bắt quy luật duyên khởi để quyết định mọi vấn đề liên quan đến công tác giáo dục, theo đó, nhà trường cần tập trung điều chỉnh giải quyết dứt điểm những vấn đề bất cập còn tồn tại trong hoạt động giáo dục, điều này mang ý nghĩa chúng ta sẽ loại bỏ hẳn những giới hạn vẫn còn tồn tại trong hoạt động giáo dục của nhà trường. Song song đó chúng ta xây dựng kế hoạch thực hiện những nội dung phù hợp với yêu cầu hội nhập phát triển của Phật giáo nước nhà trong thời đại.
 
  • Tch nhim với tha nn và tch nhim với Tổ quốc là đc điểm giáo dục cao cả về tinh thần nhập thế độ sanh đức Phật luôn nhắc nhở hàng đệ tử, do vậy, trước trách nhiệm cao cả này, chúng tôi cho rằng, thời gian qua, ngoài những hoạt động mang tính truyền thống của nhà trường nhằm thể hiện trách nhiệm này, thì trong thời gian tới nhà trường nên những nội dung cụ thể tập trung vào lĩnh vực này trong chương trình giảng dạy, đồng thời hiện thực hóa các nội dung về trách nhiệm với tha nhân trách nhiệm với Tổ quốc bằng những việc làm cụ thể trong khả năng hoàn cảnh cho phép của nhà trường.

THAY LỜI KẾT
Trong môi trường giáo dục Pht giáo nói chung và Học vin Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, sự hiện diện của một nhà giáo dục thời hiện đại trong mỗi suy nghĩ, lời nói việc làm đều toát lên đạo vị giải thoát thì chắc chắn đây sẽ chỗ dựa tin cậy của hàng hậu học, xứng đáng bậc giảng mang sứ mạng hoằng truyền giáo pháp Như Lai, để kết thúc bài tham luận này, chúng tôi mong rằng, những nhà chuyên trách công tác giáo dục Phật giáo cần nhận thức rằng, giáo dục không đơn thuần chỉ truyền đạt kiến thức, phải thật sự đồng hành với người được giáo dục trên nhiều phương diện. Yêu cầu cao hơn nữa đó nhà 
giáo dục Phật giáo phải thật sự ý thức nhiệm vụ giáo dục sứ mệnh cao cả để cứu khổ chúng sanh, báo ân Phật Tổ, báo ơn đồng bào Tổ quốc. Trong cách nhìn của chúng tôi thì nhà giáo dục chính là nhà hoằng pháp chuyên sâu trực tiếp với những đối tượng cụ thể, đào tạo nên những hạt nhân tích cực tiếp tục phục vụ công tác giáo dục cho Phật giáo sau này. Chính sứ mạng cao cả này đòi hỏi nhà giáo dục cần phải nghiêm trì giới luật, nỗ lực công phu, tu tập Giới- Định-Huệ để tam nghiệp được trang nghiêm thanh tịnh, bởi đây phẩm chất quan trọng đối với một nhà giáo dục trước yêu cầu phát triển hội nhập của Phật giáo nước nhà.


Những lời dạy của đức Phật trên 25 thế kỷ qua cho đến nay muôn đời sau vẫn mãi chân lý, vẫn mãi tinh khôi bất biến trước dòng chảy tận của thời gian, chính vậy chânđạo Phật không hề bị lỗi thời, đã không bị lỗi thời, nên ở thời đại nào thì giáo pháp của đức Phật cũng mãi chân lý, cũng sinh động hợp thời. Do vậy, để làm thăng hoa phát triển nền Phật học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, chúng ta cần hiểu khái niệm Phật học thời hiện đại, nó không nghĩa chúng ta phải hiện đại hóa hay thời đại hóa nền Phật học, chỉ cần chúng ta giữ vững bản chất Giới-Định-Huệ uyển chuyển diệu dụng các giá trị giáo dục của đức Phật trong hoạt động giáo dục của nhà trường trong thời hiện đại. Ý thức điều này, chúng ta sẽ không lệch hướng chân lý của đức Phật cũng xuất phát từ mục đích tôn chỉ của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, thì song song với vận dụng theo trào lưu tiến hóa hội, thích ứng phù hợp với từng khóa học, nhà trường nên chú trọng đến việc trau dồi giới hạnh, ý thức kỷ luật, lấy công phu làm nền tảng tu tập sở học làm phương tiện độ sanh cho từng Tăng Ni sinh trong mỗi khóa học, thì chắc chắn nội dung giáo dục của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ nâng cao chất lượng, sẽ khởi sắc phát triển bền vững.
***

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây