01. BẢN CHẤT CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Thứ sáu - 06/12/2019 04:56
BẢN CHẤT CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
HT. Thích Thin Nhơn
 
Nhân dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội điều hành Học viện tổ chức Hội thảo học thuật với chủ đề: “Phật học Việt Nam thời hiện đại: Bn chất, Hội nhập v pht triển” nhằm đánh dấu chặng đường 35 năm cho sự nghiệp giáo dục của Phật giáo. Chúng tôi rất hoan hỷ hưởng ứng việc làm ý nghĩa này của Hòa thượng Viện trưởng, Hội đồng điều hành, Ban tổ chức Hội thảo, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam xin chân thành gửi đến toàn thể Hội đồng điều hành Học viện, quý vị đại biểu, quý học giả, quý Tăng, ni sinh viên lời chào mừng trân trọng, lời chúc sức khỏe chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

Nói đến giáo dục nói đến con người, giáo dục nền tảng căn bản của Phật giáo. Mục đích ra đời của đức Phật khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tuy nhiên do chúng sanh căn tánh bất đồng, trình độ căn dị biệt, nên Ngài đã mở bày phương tiện tám vạn bốn ngàn pháp môn tu học ứng với căn mỗi người, với mục đích duy nhất giúp chúng sanh nhận ra bổn tâm thanh tịnh, nhờ đó vượt thoát khổ đau luân hồi sanh tử. thể nói nền tảng giáo dục rốt ráo của đạo Phật bao gồm tam tạng kinh điển, chúng ta gọi đ
ó Phật pháp. Phật pháp phương tiện nhằm giúp con người thấu hiểu chângiác ngộ giải thoát, người học Phật thông qua bốn lẽ thật (Tứ Diệu Đế) đồng thời nương theo tám con đường chơn chánh (Bát Chánh Đạo) nỗ lực tu hành trên căn bản giới định tuệ (Tam vô lu học) để giải thoát khi luân hi sanh tử.

Bản thân Phật giáo vốn đã nền giáo dục đa văn hóa, bởi tính thích nghi hòa hợp dung thông của Phật giáo với tất cả nền văn hóa mặt trên thế giới này. Ngoài ý nghĩa Phật giáo một tổ chức tôn giáo thì từ “Phật giáo”đây xin được hiểu đó những lời Phật dạy, chúng ta cũng thường gọi giáo lý, bởi nội dung những lời dạy của đức Phật đều nhắm đến mục đích giáo dục đời sống đạo đức của con người, giáo dục đời sống vị tha ngã, giáo dục đời sống giác ngộ giải thoát… Giáo lý của đức Phật còn mang tính giáo dục, mục đích giáo dục, phương pháp giáo dục, đối tượng giáo dục… trên thực tế, những lời Phật dạy nội dungtưởng giáo dục luôn mang lại lợi ích lớn lao, thiết thực bền vững nhất so với bất kỳ giáo thuyết nào, của nhà giáo dục nào từ xưa đến nay, chính vậy đức Phật được tôn vinh nhà giáo dục đại của nhân loại.

Về mặt tưởng triết lý thì mục đích giáo dục của Phật giáo nhằm giúp con người đạt đến cứu cánh giác ngộ giải thoát. Còn về mặt giáo dục đạo đức hội thì Phật giáo luôn quan tâm đến đời sống nhân loại, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách sống, bao gồm đạo đức trí tuệ, thông qua đó thế giới giảm bớt chiến tranh đau khổ, tiến đến một thế giới hòa bình hạnh phúc; nền giáo dục Phật giáo còn giúp con người cải thiện hệ sinh thái môi trường nhờ nuôi dưỡng lòng từ bi nhận thứcduyên sinh một cách sâu sắc, khi con người được sống trong tâm thái thoải mái an vui hạnh phúc, nhân đó tùy theo nhân duyên của từng hoàn cảnh, họ thể hướng đến nấc thang cao hơn, đó hành trình dấn thân vào sự nghiệp tu hành giải thoát.

Giáo dục sự thể hiện truyền thụ nhân cách đạo đức từ người kiến thức mẫu mực trong đời sống, tác động ảnh hưởng trực tiếp đến người thọ giáo, tất nhiên phải thông qua thân giáo, k
hẩu giáo ý giáo. Cụ thể của hành vi đó sự truyền trao tri thức, kinh nghiệm sống, nhân cách đạo đức từ người thầy đến học trò, giúp người học được trang bị kiến thức hoàn thiện nhân cách nâng cao đời sống đạo đức. Do vậy, người đảm nhận công việc giáo dục trước hết phải tự hoàn thiện bản thân, yêu cầu tối thiểu phải đảm bảo nhân cách đạo đức, kế đến phải hội đủ vốn liếng kiến thức cũng như trình độ chuyên môn nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu được học tập của người thọ giáo.

Từ những khái niệm trên đây, chúng ta thể hiểu thêm giáo dục một hành trình sống để nâng cao nhân cách đạo đức dung nạp nguồn tri thức tích cực trong đời sống con người, giáo dục công việc của trái tim yêu thương cao thượng tác động từ người đến với người, giáo dục động tác nhân bản để cảm thông chia sẻ những điều hay lẽ phải khi thấu hiểu về nhau…

Trong tương quan tác nn giáo dục luôn luôn có hai tnh phần, đó người được giáo dục nhà giáo dục. Nhà giáo dục trong chuyên ngành giáo dục ở thế gian những nhà phạm, cụ thể Thầy giáo; trong giáo dục Phật giáo nhất đối với người xuất gia, nhà giáo chính những vị Thầy bổn sư, thầy y chỉ sư, thầy giáo thọ; đối với cư sĩ tại gia nhà giáo chính những nhà hoằng pháp, vị trụ trì, những vị TăngPhật giáo. Như vậy, khi nói đến giáo dục chúng ta lin nghĩ ngay đến, đó là công vic của con tim, chúng ta thường ví nhà giáo như nhng ksư m hồn, bởi vì kng gì khác hơn đây hành vi xuất phát từ nền tảng đạo đức, trí tuệ cả suối nguồn yêu thương. Với tính chất cao đẹp ấy nên nhà giáo dục chúng ta phải thật sự khiêm tốn, chan hòa bao dung độ lượng nhưng không thiếu phần nghiêm khắc và đừng bao giờ cho mình phụ mẫu thiên hạ.

Một khi nói giáo dục một hành trình nhân bản cao thượng, tức chúng ta đang nói về hành trạng của người được giáo dục nhà giáo dục trên nền tảng nhân bản, văn hóa, luânđạo đức. Ở đây, chúng ta đặc biệt quan tâm nhiều hơn đến người được giáo dục. Trên hành trình này, người được giáo dục phải luôn ý thức rằng 
mình đang bước đi trên con đường thể hiện chính mình, do vậy cùng với yếu tố tích cực năng động thì đòi hỏi tính nhân bản rất cao ở người có nhu cu được giáo dục. Trong mối quan hệ này, dĩ nhiên vai trò của nhà giáo dục rất quan trọng, bởi nó vừa mang tính cảm thông, uốn nắn, chỉ bảo vừa mang tính định hướng, dìu dắt. Dù nói đi chăng nữa thì người được sự giáo dục cần phải tự giác nỗ lực không ngừng trong việc rn luyện tu dưỡng nhân cách đạo đức, phấn đấu trong lao động học tập thì mới thể tự khẳng định mình trên hành trình hoàn thiện nhân cách của một con người, việc giáo dục sẽ tác động tích cực đến nội thức từng con người, giúp con người cải hóa, thăng tiến, tiến đến giác ngộ giải thoát, điều này sẽ mang lợi ích lớn lao cho người được giáo dục cho cộng đồng hội.

Giáo dục công tác nhắm thẳng vào con người để xây dựng con người hoàn hảo, nên muốn giáo dục đạt được hiệu quả như mong muốn thì bắt buộc nhà giáo dục phải thấu hiểu về đối tượng mình trực tiếp giáo dục. Chúng ta cần phải đặt mối quan hệ giữa nhà giáo dục người được giáo dục, mối quan hệ song phương bình đẳng phải luôn trân trọng lẫn nhau trong suốt quá trình giáo dục, tất nhiên sự trân trọng này phải được nhìn từ hai chiều nhân bản tự do của mỗi cá nhân. Chính vậy trong mối quan hệ giữa nhà giáo dục người được giáo dục, ngoài quan hệ thầy trò đã xuất hiện ở đó tình yêu thương bao la, tình bạn chân thật ấm áp, tình thầy trò thiêng liêng sâu sắc, thể nói đây hình ảnh cùng đẹp không chỉ riêng trong tiến trình giáo dục cả trong đời sống sinh hoạt của con người. Nhờ vào mối quan hệ bình đẳng luôn trân trọng nhau, cùng với mục đích ý nghĩa của giáo dục chỉ bảo uốn nắn truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm sống làm cho con người được trở nên hoàn hảo góp phần thăng hoa trong sự nghiệp giáo dục.

Trong suốt 45 m giáo hóa độ sanh, đức Pht là vị thy giáo hóa liên tục không ngừng ngh bằng trí tuệ hoàn toàn sáng suốt, việc làm thánh thiện phương pháp giảng dạy sâu sắc, hiệu ng- hiệm. Với ý nghĩa giáo dục cao đẹp ấy, trong bài kinh Lễ bái sáu 
phương, Giáo giới Thi Ca La Việt, đức Phật đưa ra từng nhóm vấn đề cụ thể để làm nên những quan hệ gắn bó, quan hệ đạo đức văn hóa trong từng gia đình trong cộng đồng hội đó là:
  • Mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái
  • Mối quan hệ giữa thầytrò
  • Mối quan hệ giữa chồngvợ
  • Mối quan hệ giữa bạn bè với nhau
  • Mối quan hệ giữa chủtớ
  • Mối quan hệ giữa tu sĩ – cư sĩ

Trong nhng thập kỷ qua, hệ thống giáo dục con người, có thể nói đã củng cố, phát triển hệ thống hóa hoàn thiện, tùy theo điều kiệnhội, tập quán, phong tục, văn hóa, thể chế của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia khác nhau. Nhất là, kể từ năm 1945, Liên Hiệp Quốc hình hành quan UNESCOTổ chức Giáo dục, Khoa học Văn hóa - thì vấn đề giáo dục được củng cố, phát triển, hệ thống hóa sự lãnh đạo chung, lãnh đạo quốc tế, để nhằm mục đích củng cố, phát triển, hệ thống giáo dục ngày càng đạt hiệu năng kết quả hữu hiệu, mang tính khoa học hơn.

Đối với Phật giáo, từ khi Hội Liên hữu Phật tử Thế giới hình thành năm 1950, một bộ phận phụ trách Ủy ban Giáo dục, các tổ chức Phật giáo mang tính quốc tế, đều Ủy ban Giáo dục trong hệ thống giáo dục mang tính quốc tế địa phương, như chuyên môn về Phật học.

Đối với Phật giáo Việt Nam, từ năm 1930, công tác hình thành hệ thống giáo dục cũng đã được thành lập, mang tính đặc thù của dân tộc Phật giáo Việt Nam. Như khái quát, thể thấy: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học, Hội An Nam Phật học, Hội ỡng xuyên Pht học, Hi Pht giáo Bắc k, Tng hi Pht giáo Vit Nam, Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Gần 90 năm hình thành phát triển, thể nói 
chương trình giáo dục Phật giáo đã đi đến mức độ hoàn chỉnh hệ thống hóa toàn diện từ hình thức đến nội dung, nhất trong giai đoạn tiếp cận, hội nhập quốc tế, hệ thống giáo dục Phật giáo cấp Cao đẳng Đại học luôn luôn tự hoàn thiện tìm tòi, kết thân với các môi trường giáo dục khác ngoài Việt Nam, nhất lãnh vực Giáo dục Phật học. Bởi lẽ, giáo dục một hành trình sống để nâng cao nhân cách đạo đức dung nạp nguồn tri thức tích cực trong đời sống con người, giáo dục công việc của trái tim yêu thương cao thượng tác động từ “người” đến với “người” như chúng tôi đã trình bàyphần trên.

Ktngàytnhlp Giáohi Phtgiáo Việt Namm 1981, giáo dục chính vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giáo dục đào tạo nhân tài Phật giáo liên quan đến sự hưng thịnh của tương lai Phật giáo Việt Nam. Khoa học càng phát triển, chức năng hội của Phật giáo càng cn thiết phải trở nên linh hot và sinh động hơn. Trong gần 40 năm qua, giáo dục Phật giáo Việt Nam đã từng bước được định hình theo từng cp học, từ Sơ cp, Trung cp, Cao đng, Đại học Sau Đại học tại quyết định số 3580-CP của Chính phủ. Với 4 sở Học viện trên cả nước đã đào tạo được với số lượng gần 10.000 Tăng Ni sinh. Đặc biệt vào tháng 10 năm 1984, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã chính thức cấp giấy phép 160/GP-UBND cho phép thành lập trường Cao cấp Phật học Việt Nam sở 2 trên sở Viện Phật học Vạn Hạnh đây hậu thân của Viện Đại học Vạn Hạnh số 715 (nay 750) Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh do HT. Thích Minh Châu làm Hiệu trưởng. Đến năm 1997, Chính phủ ra quyết định số 07/QĐ-CP cho phép chuyển trường Cao cấp Phật học Việt Nam thành Học viện Phật giáo Việt Nam do HT. Thích Minh Châu làm viện trưởng, trong thời gian Hòa thượng điều hành lãnh đạo đã vận động xây dựng được sở 1 Học viện khang trang xứng tấm Đại học Phật giáo quốc tế. Đến năm 2007, nhiệm kỳ V của Giáo hội, Học viện do HT. Thích Trí Quảng làm Viện trưởng, trong thời gian lãnh đạo điều hành Hòa thượng đã vận động xây dựng được sở 2 tại Minh Xuân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ 
Chí Minh trên phần đất 34,8 héc-ta do UBND thành phố cấp cho Giáo hội để xây dựng Học viện với nhiều hạng mục quy mô xứng tầm trung tâm giáo dục Phật giáo Đông Nam Á. Qua hai đời viện trưởng, nội dung đào tạo từ hình thức niên chế chuyển sang hình thức tín chỉ, từ 10 ban thành 10 khoa trong hệ thống giáo dục của Học viện đáp ứng nhu cầu kiến thức Phật học cũng như thế học trong nước quốc tế, nổi bật Khoa Hoằng pháp, Khoa An sinh hội Khoa Cổ ngữ. Xuyên suốt 35 năm, Học viện đã đào tạo trên 4.000 Tăng Ni trở thành người lãnh đạo các cấp Giáo hội, cũng như nhiều Tăng Ni du học trở về Việt Nam tham gia công tác giảng dạy tại các sở giáo dục Phật giáo, những vị giáo thọ trao truyền kiến thức Phật học cho lớp thế hệ Tăng Ni kế thừa, truyền đăng tục diệm, tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức.

Thiết nghĩ, ngoài giáo dục tri thức, giáo dục nhân cách, giáo dục đạo đức… trước hết trên hết giáo dục Phật giáo cần phải thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Để đảm bảo tính dân tộc tính bản địa của Phật giáo, nền Giáo dục Phật giáo cần chuyn tải tư tưởng đem đo vào đời, bằng tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.

Kế đến Giáo dục Phật giáo phải thể hiện những cốt tủy của GiáoPhật giáo, đào tạo một thế hệ tiếp nối trên căn bản Phật giáo. Nội dung nền giáo dục đó phải chuyên tải đến thế hệ sau những tinh hoa của Phật giáo nhất trong giai đoạn hiện nay. Giai đoạn chuyển tiếp của một thiên niên kỷ. Phật giáo càng cần thể hiện bản chất năng động, thực tiễn của mình hơn lúc nào hết, những tính chất, những tinh hoa cốt tủy ấy đã hàng ngàn năm nay được đề cập, phân tích biện giải hầu hết nằm trong tam tạng kinh điển Phật giáo.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy suốt chiều dài lịch sử trong việc giữ nước dựng nước, tôn giáo đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó bao gồm cả nền giáo dục Phật giáo đã gắn liền với dân tộc.

Ngày nay giáo dục Phật giáo đã đang phát triển không những lan truyền các tự viện, đồng thời Phật giáo còn được phổ biến rộng 
rãi trên thế giới như Hệ thống Phật học Viện Phật giáo, Đại học tại n Đ, Sri Lanka, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, v.v... Ngoài ra còn rất nhiều Phật Học viện, Thiền viện dành cho cư sĩ ngày càng được thành lậpnhiều nước như Pháp, Mỹ, Canada, Úc. Người ta hy vọng trong tương lai gần sẽ những hội nghị quốc tế về giáo dục Phật giáo việc tổ chức ấy sẽ rộng rãi, được mang tính hiện đại hơn.

Đức Phật một nhà giáo dục tuyệt vời. Những lời giáo huấn, nhữngtưởng trong sáng Ngài truyền trao vốn còn mô hình quý báo chỉ đạo cho sự sống của loài người trên khắp hành tinh trong suốt thời gian dài hơn 25 thế kỷ.

Kính thưa Hội thảo!

Trên đây một vài ý kiến đóng góp cho công tác củng cố phát triển ngành Giáo dục Phật giáo nhân kỷ niệm 35 năm thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh với chủ đề: “Phật học Việt Nam thời hiện đại: Bn chất, Hội nhập và phát tr̉n.
Kính chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.
***

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây