43 - Minh Mẫn - QUẢNG BÌNH VÀ PHẬT GIÁO

Thứ hai - 16/12/2019 11:46
QUẢNG BÌNH PHẬT GIÁO

 
 
Minh Mẫn
 

Đã 10 năm! Vâng, thoáng mà đã 10 năm cây xanh mọc trên đất khô khốc, khi Quảng Bình chưa đủ sức gượng dậy theo kịp các Tnh thành phát tiết tinh hoa trên đất màu m trãi dọc t Tây Bắc đến đồng bằng Nam bộ; thế nhưng, ai bảo trong những kẽ đá không nhú mầm non của loài hoa dại? Vâng, nơi đây, Quảng Bình vẫn là tiếng vọng thân thương lạc lõng giữa cái nóng khô khc Hè về, buốt giá sang Đông.Người Quảng Bình vẫn sống, giòng Nht Lệ vẫn trôi, “mùa đỏ lửa” vẫn tồn tại trên dòng Thach Hãn, trên nghĩa địa Trường Sơn, bao oan hồn t sĩ hai miền vẫn còn phưởng phất trong cơn gió đêm trường, khóc cho Hiền Lương rớm lệ…
Từng ngày và từng ngày, nông dân cày sâu cuc bổng, từng gi và từng giờ cây trái vẫn trổ hoa, từng sát na, sát na hơi ấm đất mẹ nuôi sống con người làm nên lch sử. Vâng, nơi đây, cho dù từng hứng chịu bao khắc nghiệt thiên tai, mầm non từng khát sống như trẻ thơ khát sữa, Quảng Bình hiên ngang tri dậy; sau mấy mươi năm oằn mình giật gấu vá vai, để hôm nay, đèn hoa tô điểm phố phường, ngạo nghễ cao tng mọc chen dọc lộ. Đâu đó biển bờ ven phố, hàng quán phô mình làm chứng nhân cho đời biết hưởng thụ.
Khổ đau đã nhiều, dân Quảng Bình không còn mong được ăn no mặc ấm, giờ đây ăn ngon mặc đẹp một nhu cầu; vật dục là thế, nhưng tâm linh cũng đâu chịu hẩm hiu chìm vào tăm tối.Công giáo chiếm hơn 11% dân số, trong khi Phật giáo chỉ bằng 1/7 lượng s tín đồ tôn giáo bạn. Do suốt những tháng năm chinh chiến, Kito giáo chu ảnh hưởng rất ít sự chi phối của chính sách, nhờ hậu thuẩn bi t chức giáo hi toàn cầu; riêng Phật giáo, tuy được du nhập, nhưng gần 2000 năm có mặt trên quê hương, đạo Phật nghiễm nhiên trở thành tôn giáo dân tộc, thấm sâu vào thịt máu đồng bào; chính vì thế, nước dâng thì thuyền lên, triều cạn thì thuyền xuống, tổ quốc hưng thạnh thì lòng dân thơ thới, đất nước suy vi đạo Pht chung vận mệnh u buồn.
Gần 40 năm thành lập GHPG Việt Nam. Sự có mặt của Phật giáo Quảng Bình đến nay vừa tròn 10 năm. Hòa thượng trưởng ban được sự chỉ đạo và công cử của Giáo hội trung ương bằng văn thư đơn độc, không kèm sự hỗ tr kinh phí từ Lào về với đôi tay trắng. Song vi quyết tâm của Người đã lấp bằng mọi chướng ngại, hoàn thin t chức, sở vật chất,… để Pht giáo ở Quảng Bình phát triển vượt bậc.

Qung Bình xa xưa!

Vùng đấy Quảng Bình “tuy già”, từng có mặt trên vùng đất tiền sử tc Vit: “Những phát hiện kho cổ học đã chứng minh sự tồn tại của cộng đồng người, chủ
 




nhân của các nền văn hoá khảo cổ khởi nguồn từ thời đại đồ đá giữa, phát triển liên tục, định hình và tính h thống”. Vùng đất Quảng Bình nguyên xưa thuộc xứ Vit Thường. Theo Đại Nam nhất thống chí, Thuỷ kinh chú và một số thư tịch cũ, khoảng cuối thiên niên k th 3 trước công nguyên, Việt Thường tồn tại như một tổ chức hành chính tự quản gọi là Việt Thường Thị. Vào năm 2.353 trước Công nguyên, người xứ Việt Thường Thị đã từng dâng chim trĩ trng, rùa vàng thông hiếu vi Trung Quốc. Dưới thời Hùng Vương, đất nước Văn Lang được chia thành 15 bộ. vùng đất Quảng Bình thuộc về bộ Việt Thường. Từ năm 192 vùng đất Quảng Bình thuộc địa vực của quốc gia Lâm Ấp (sau đổi thành Hoàn Vương, Chiêm Thành). Từ đây trên vùng đất Quảng Bình cổ có sự dung hp giữa văn hoá bản địa có nguồn gốc Việt - Mường vi một nền văn hoá mới là văn hoá Chămpa.
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cử Lý Thường Kiệt đưa quân nam chinh, đánh bại quân Chiêm, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Chế C đã phải dâng trả ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Vùng đất Quảng Bình (tương ứng 2 châu Bố Chính, Địa Lý) trở v vi quốc gia Đại Vit. .” (khảo cổ s học). Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cho đổi tên châu Địa Lý thành châu Lâm Bình, vùng đất Quảng Bình xưa bắt đầu mang danh xưng "Bình" kể t thời điểm ấy.
Năm 1361, vua Trần Duệ Tông cải châu Lâm Bình thành phủ Lâm Bình. Năm 1375, vua Trần Duệ Tông lại cải phủ Lâm Bình thành ph Tân Bình rồi lộ Tân Bình.
Năm 1397, Hồ Quý Ly đổi lộ Tân Bình thành trấn Tây Bình. Thời thuộc Minh (1407 - 1427), lại đổi thành ph Tân Bình, đem 2 châu Bố Chính và Minh Linh nhập vào phủ Tân Bình.
Dưới thời Lê Thánh Tông, vùng đất này tiếp tục được định danh trong bản đồ quốc gia nhà Lê (1469) là phủ Tân Bình. Năm 1601, phủ Tân Bình lại được nhà hậu Lê đổi thành phủ Tiên Bình.
Năm 1604, Thái tổ Gia dũ Hoàng đế Nguyễn Hoàng khởi nghiệp Đàng Trong đã đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, sau đổi thành dinh Quảng Bình. "Quảng Bình" được định danh t thời điểm ấy.
Dưới thời các chúa Nguyễn thời vua Quang Trung, địa vực Quảng Bình nhiều lần được định danh lại với những danh xưng như châu Bắc Bố Chính (ngoại châu Bố Chính), Nam Bố Chính (nội châu B chính), châu Thuận Chính (trên cơ sở sát nhập 2 châu Bắc Nam Bố Chính). Địa vực châu Thuận Chính phù hợp với địa gii hành chính ngày nay.
Năm 1802, dưới triều Gia Long, châu Thuận Chính lại bị chia tách thành Bố Chính ngoại và Bố Chính nội như trước. Riêng 2 huyện Khương Lộc (sau đổi là
 




Phong Lộc) và Lệ Thu (Nha Nghi) đặt thành một đơn vị hành chính lấy tên là dinh Qung Bình.
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trong hệ thống hoạch định cương vực lãnh thổ và tổng cải cách hành chính quc gia, triều Nguyễn chính thức định danh tỉnh Quảng Bình. Sau nhiều lần cải tổ và điều chỉnh, đến năm 1875 tỉnh Quảng Bình có 2 phủ gm 7 huyện là phủ Quảng Trạch (có 4 huyện: Minh Chính, Bình Chính, Tuyên Hoá, B Trạch), phủ Quảng Ninh (gồm 3 huyện Phong Lộc, Phong Phú và Lệ Thu).
Dưới thi Pháp thuc, chính quyền thực dân và triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã thiết lập lại hệ thng phủ, huyện trong cùng mt cấp hành chính. Quảng Bình có 2 phủ, 3 huyện là phủ Quảng Trạch, ph Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy, huyện B Trạch và huyện Tuyên Hoá. Đến năm 1939 thành lập thêm cơ quan Bang Tá trực thuc tnh vi 4 phường mới là Đồng Hải, Đồng Đình, Đồng Phú, Đồng Mỹ, có vai trò như là trung tâm lỵ s của tỉnh Quảng Bình.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới thời Nhà nước Việt Nam dân chủ cng hoà, tỉnh Quảng Bình được thành lập, bao gồm thị xã tnh lỵ Đồng Hi và 5 huyn là Lệ Thu, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá.
Cuc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, đất nước thống nhất, non sông thu về mt mối, nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thành lập tnh Bình Trị Thiên trên sở sáp nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh. Quảng Bình trở thành địa vực phía Bắc của tnh Bình Trị Thiên mi thành lập. Trên địa vực này có thị xã Đồng Hi và các huyện Lệ Ninh, Bố Trạch, Qung Trạch và Tuyên Hoá.
Năm 1989, để phù hp vi xu thế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng - an ninh trong thời k mới, Trung ương Đảng và Nhà nước đã cho chia tách Bình Tr Thiên thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
Tại thời điểm mới tái thiết lập, tnh Quảng Bình bao gồm th xã Đồng Hi và các huyện Lệ Ninh, B Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá. Để phù hp vi yêu cu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, nhà nước đã cho chia tách huyện L Ninh thành 2 huyn Lệ Thu và Quảng Ninh, huyện Tuyên Hoá thành 2 huyện Minh Hoá Tuyên Hoá. Hiện nay tnh Quảng Bình bao gồm thành phố Đồng Hi và các huyện Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá, Minh Hoá, với 159 xã, phường, th trn. Dân số Quảng Bình tại thời điểm năm 2019 là 895.430 người người; trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 89% tổng dân số, dân tộc Bru-Vân Kiu và Chứt chiếm 11% tổng dân số toàn tỉnh.

Qung Bình ngày nay – theo Địa chí Quảng Bình

 




Già thì già thật, tuổi đời chồng chất theo thi gian có mặt trên tinh cầu, nhưng, Quảng Bình ngày nay vẫn còn quá trẻ, quá tr so vi tái thiết, xây dựng kinh tế,xã hội,văn hóa, đời sống cho người dân theo kịp đà tiến các tnh thành trên hai miền.Có lẽ, cái eo lưng ong của Quảng Bình thu hẹp giữa hai miền đất nước như thiếu nữ làm dáng ỏng ẹo đành chịu số phận thiệt thòi, thiếu thốn, dù bao lần cố gắng vươn lên, cũng chỉ bao lần dừng lại như một vận động viên marathon đuối sức. 85% diện tích toàn tỉnh là đồi núi, đá vôi.15% còn lại, kinh tế chủ yếu là đánh bắt hải sản, nuôi trng thy sản,lâm nghiệp, nông nghiệp theo mùa,khu công nghiệp với cảng nước sâu. Ch yếu là nông-lâm-ngư nghiệp.
Din tích toàn tỉnh như Quảng Bình là 8.065,27 km² (tổng diện tích: 806.527 ha), chưa phải là một diện tích đầy lý tưởng. Trong khi riêng thành phố Hà Nội cũng đã 3.358,9 km². Cái khó ca Quảng Bình ngày nay, không chỉ vì đất hẹp thiếu màu mỡ; chưa có nhiều khu công nghiệp; tay nghề dân chyên nghiệp tại chỗ chưa đủ đáp ứng đưa tỉnh nhà thoát khỏi trì tr ; tuy Quảng Bình có nhiều sông suối khá lớn, nhưng chưa giúp được nhiều cho sự phát triển kinh tế đáng nói.
Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản như vàng, sắt, titan, pyrit, chì, kẽm... và một số khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá mable, đá granit... Trong đó, đá vôi và cao lanh có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để phát triển công nghiệp xi măng vật liệu xây dựng vi quy mô lớn, nhưng, sụ liên kết vi các xí nghiệp ngoại vi vẫn chưa đủ để gọi là nguồn kinh tế chủ đạo.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, một thời là ranh gii giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hóa, là chiến trường ác liệt trong hai cuộc kháng chiến, Quảng Bình ngày nay còn giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hóa của nhiều thời đại khác nhau. Nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, Quảng Bình mang những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa khu vực này. Quảng Bình còn là quê hương của nhiều danh tăng và nhân vật nổi tiếng như HT. Thích Trí Quang, HT. Thích Thiện Minh, HT. Tuệ Sỹ,… Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Võ Nguyên Giáp,…
Quảng Bình còn có tiếng khoa bảng tại làng Lệ Sơn. Làng Lệ Sơn “Đệ nhất bát danh hương” của Quảng Bình: Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim.

Pht sự Quảng Bình ngày nay

Ngày 16 tháng 8 năm 2004, chuyển thị xã Đồng Hi thành thành phố Đồng Hi, địa gii hành chánh không ảnh hưởng mấy cho việc phát triển Phật giáo. Quyết định chun y nhân sBan trs GHPG Vit Nam tnh Qung Bình nhim kIII (2017- 2022) gm 19 vị, thường trực Ban trị s gồm 13 vị. Theo Ban Tôn giáo chính phủ,
 




Pht giáo có khoảng trên 3.000 tín đồ phật t sng rải rác trên địa bàn 29 xã của 6 huyn, thành phố; có 16 chức sắc (trong đó 01 nhà tu hành) có 08 sở th tự, tín đồ phật tử phần lớn tu tại gia.. Thật ra, gồm chùa Vĩnh Phúc, chùa Đại Giác, chùa Hong Phúc – chùa Vô Song Phúc Địa” chùa Phổ Minh, chùa Non, chùa Thanh Quang, chùa Quan Âm, chùa An Xá… và một số cơ sở di tích thuộc truyền thống Phật giáo do nhà nước quản lý.
Hòa thượng trưởng Ban trị s n lực kiện toàn cơ sở và nhân sự bằng cách chiêu sinh. Nhờ thế, chư Tăng ni các nơi hưởng ng tụ về chung tay cùng giáo hội tnh tạo cho b mt Pht giáo Quảng Bình khi sắc rõ nét.
10 năm qua thời gian không quá dài để phục hoạt tôn giáo bị mai một, thậm chí đi vào quên lãng sau khi nước nhà hòa bình, mọi người bôn ba về kinh tế, nhà nhà đua chen xây dựng mái ấm ăn ngon mặc đẹp, Phật giáo vắng bóng một thời; nhưng, hạt giống tiềm ẩn dưi lòng đất khô khốc, một cơn mưa rào cũng đủ nẩy mầm, để rồi chăm bón săn sóc, hoa sẽ nở giưa rừng xanh đại ngàn.Phật giáo cũng thế.
10 năm trôi qua, thời gian không quá ngắn so với “sức người sỏi đá cũng thành cơm”, Hòa thượng trưởng Ban trị s th hiện tính năng động để vc dậy Phật giáo Qung Bình.

Phương án sinh tồn phát triển

Trên vùng đất tồn tại hàng ngàn năm văn vật, cũng bấy nhiêu ngàn năm gánh chu thiên tai, chinh chiến qua nhiều thời đại, và là cái eo thắt lưng của chữ “S” ba min. Lịch s chưa bao giờ cho thấy Quảng Bình là tỉnh nhà trù phú, thế mà dân cũng sng và phải sống, không ai n dứt bước ra đi, ngoại trừ mt số lưu vong hải ngoại tìm kinh tế chu cấp cho ruột thịt tại quê nhà. Thế thì Phật giáo, chư tăng cũng phải gắn bó vi cái khó, cái khổ của. Chư tăng không chỉ như thuyền bập bềnh trên sông nước, nước dâng thì thuyền lên, nước ròng thuyền xuống. Biết rằng chư tăng sống bằng lòng hảo tâm của bá tánh, nhưng chư tăng cũng hảo tâm trước cảnh đói nghèo, bệnh tật. Không chỉ hảo tâm bằng cách kêu gọi các mạnh thường quân xứ khác hỗ tr, mà Phật giáo cần có sáng kiến giúp dân có kế sách tự tn. Tuy là vùng bin núi, nhưng không vì thế khuyến khích sát sanh và phá rừng. Xã hội còn nhiều ngành ngh vô hại, thủ công cho những ai không vốn nhiều, kinh doanh thích hợp cho những đầu óc biết tính toán. Và hình như, Phật giáo Quảng Bình chưa có phòng thuốc Nam t thin giúp cho những ai không có điều kiện bước vào ngưỡng cửa bnh vin.
Pht giáo ngày nay cn xắn tay nhập cuộc giúp dân mọi mặt, ngoại trừ các bậc ẩn tu xut thế; đó là cách gần dân, thân dân và vì dân.





Pht giáo cần có nhiều lớp giáo lý căn bản lớp giáo lý nâng cao, có những khóa tu một ngày cũng phải khóa tu dài hạn đáp ứng cho những căn cơ thâm đạo.
Pht giáo Quảng Bình qua 10 năm, tương đối đi vào nề nếp, mọi chướng ngại không còn nặng nề. Cái nặng nề hin nay là phát triển cơ sở các vùng xa, vùng cao. Xin phục hồi những sở di tích để đưa vào sinh hoạt thuần túy tôn giáo; đào tạo tu sĩ và tín đồ đi làm Phật sự; ngoài việc bổ cử tr trì, cần có lp tập huấn cán sự lưu động giúp các chùa vùng xa, giúp dân tái to nhà cửa, thăm viếng bệnh hoạn… Có như thế, Pht giáo mới là hơi thở, là sự sống tinh thần của người dân.
Trong thời gian qua, s nỗ lực của Hòa thượng trưởng ban đã tạo cm xúc cho một danh tăng Phật giáo thi hiện ti, HT. Thích Trí Quang viết:
Chúc từ (trích) của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang (tu viện Quảng Hương Già Lam, Q.Gò Vấp, TP.HCM): “Trước hết tôi xin cám ơn, rất cảm ơn chính quyền đã cho Phật giáo Quảng Bình khu đất kiến thiết chùa Đại Giác. Phật giáo Quảng Bình không tủi hổ quá khứ của mình.
Tại đây, trong quá khứ đã có một nơi kỳ quan là chùa Thần Đinh; đã có đến 3 quốc tự, tục gọi là dinh Trạm, dinh Mười, dinh Ngói; đã có các Ngài làm trụ trì và làm Tăng cang chùa Ngự Kiến Thiên Mộ tự. Rồi chùa Phổ Minh, xóm Ải được ngài Hồng Tuyên kiến tạo đã là nơi quy tụ và tiêu biểu của Phật tử và Tăng gii khắp 5 phủ huyện Quảng Bình. Tự điển từ điển thì Đại Giác đồng nghĩa với Phổ Minh. Hy vọng chùa này cũng như chùa gốc, đem ánh sáng tuệ giác trải ra khắp hơn và sâu hơn về đức tin của Phật giáo”…
MINH MẪN
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây