39 - TT. Thích Thọ Lạc & Ths. Nguyễn Thị Thu Hoan - DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH - VẤN ĐỀ - GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

Thứ hai - 16/12/2019 11:38
DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH
- VẤN ĐỀ/GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
 

Thượng tọa Thích Thọ Lạc* 
Ths. Nguyễn Thị Thu Hoan**

 
  1. Đặt vấn đề
Hiện nay, văn hóa - nguồn “sức mạnh mềm”, được coi là một bộ phận rất quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Mà cốt lõi giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộ, trong đó, giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Cách ngày nay khoảng 2000 năm, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam bằng hai con đường (đường bộ và đường biển). Với triết lý đạo đức, nhân sinh sâu sắc và tính chất từ bi, hỉ xả, bao dung, độ lượng, phù hợp với tâm tính người Việt Nam, cho nên, ngay từ khi du nhập, Phật giáo đã được cư dân Việt tiếp thu một cách tự nhiên để rồi cùng với thời gian, Phật giáo đã ăn sâu vào trong tâm thức, phát triển lan tỏa trong đời sống người Việt Nam và dần trở thành tôn giáo dân tộc, tôn giáo bản địa, bộ phận quan trọng của văn hóa Việt Nam. Sự hòa quyện của Phật giáo với văn hóa Việt Nam chặt chẽ tới mức chúng ta khó có thể nhận biết, tách bạch rõ ràng. Nhiều triết lý, phương châm sống trở thành bản sắc, giá trị văn hóa dân tộc đều có cội nguồn từ Phật giáo và ngược lại nhiều giá trị văn hóa Phật giáo trên tất cả các khía cạnh đã được người Việt tiếp thu, phát triển thành những giá trị văn hóa dân tộc.
Đặc biệt, Phật giáo đã có một sự dung hợp kỳ diệu với điều kiện môi trường, với các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa của từng vùng, miền tạo nên nền văn hóa Phật giáo Việt Nam với những sắc thái văn hóa Phật giáo phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc dân tộc. Trong đó, văn hóa Phật giáo Quảng Bình cũng là một phần /yếu tố quan




  • Trưởng ban Ban Văn hóa trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
  • * Bảo tàng Quốc gia Việt Nam
 




trọng, tiêu biểu tạo nên đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam - thống nhất trong đa dạng.
  1. Di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình
Vào năm Hoằng Định thứ 4 (1604), đời vua Lê Kính Tông, triều Lê Trung Hưng, Tiên chúa Nguyễn Hoàng đã cho đổi ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh thành tên gọi Quảng Bình. Như vậy, địa danh Quảng Bình xuất hiện trong lịch sử tính đến nay đã trên 400 năm. Tuy nhiên, sự du nhập và phát triển Phật giáo trên mảnh đất Quảng Bình đã từ rất sớm, từ những thế kỷ 7 - 10 (với những tài liệu, phát hiện mới có thể từ thế kỷ 2 - 3), đặc biệt là dưới vương triều Indrapura (thế kỷ 9 - 10) với sự phát triển, lan tỏa mạnh mẽ của Phật giáo Champa với những dấu ấn là những di tích, di vật Phật giáo Champa ở Bắc Hà, Mỹ Đức, Đại Hữu, Ròn, Phong Nha. Đến năm 1069, vùng đất này được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt, nhưng suốt từ đó đến đầu thế kỷ XIV, những sinh hoạt Phật giáo ở đây khá m nhạt, ít được ghi chép lại trong các sử liu và thư tịch cổ. Mãi đến năm 1301, lần đầu tiên chúng ta mi biết đến Pht hoàng Trần Nhân Tông vân du đến miền biên viễn này, dng chân ở am Tri Kiến (sau này là chùa Kính Thiên/Hoằng Phúc) qua Thánh đăng lục ghi li. Việc kiến thiết chùa chiền và khởi động các sinh hoạt Phật giáo xứ Tân Bình - Quảng Bình, tạo nên một hệ thng chính phải sau khi các chúa Nguyễn trị nhậm Đàng Trong. Những dấu ấn Phật giáo trên đất Quảng Bình còn lại đến nay hầu hết là từ thi Nguyễn, đặc biệt là dưới các đời vua Minh Mạng, Tự Đức.
Trải qua thăng trầm lịch sử, đặc biệt là mảnh đất Quảng Bình luôn hứng chu bao thiên tại, chiến tranh, chia cắt, nên những di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình còn lại đến nay tuy không nhiều nhưng lại khá đa dạng và vô cùng quý giá. Nó không ch giúp chúng ta tìm hiểu được sự hình thành, phát triển Phật giáo Quảng Bình mà còn thấy được cội nguồn, lch sử, những biến cố, sự dung hòa, giao lưu, tiếp thu, phát trin; những n lực, kiên cường của bao thế hệ, tộc người cộng cư trên mảnh đất này.
 




Những dấu ấn văn hóa Phật giáo Quảng Bình hiện nay được thể hin phong phú, trên nhiều phương diện khác nhau. Trong khuôn kh mt tham luận hội thảo, chúng tôi chỉ xin nêu trên phương diện di sản văn hóa tiêu biểu sau:
- Di sản văn hóa Phật giáo là các di tích, di vật phản ánh sự hin diện, phát triển của Phật giáo ở Quảng Bình từ thời kỳ cư dân Champa sinh sống (từ thế kỷ 7 - 10) và có thể còn sớm hơn (thế kỷ 2 - 3?). Mặc dù những tư liệu, dấu vết di tích v cơ sở thờ t không còn nguyên vẹn nên khó xác định chính xác về quy mô, tính chất của Phật giáo thi kỳ này nhưng những di vật, đặc biệt là những pho tượng thờ (tượng Phật, Bồ tát) đã cho thấy sự phát triển của truyền thống Phật giáo Bắc tông (Mahayana) với sự tôn sùng đấng Bồ tát (Bodhisatva) tương tự như vùng trung tâm Phật viện Đồng Dương cũng như khu vực xung quanh (các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung Bộ ngày nay). Cùng với đó là sự giao thoa, phát triển của Phật giáo và Ấn Độ giáo (Hindu) vi tín ngưỡng th cúng thần Visnu hay Siva vn còn hiện hữu ở mảnh đất này.
Tiêu biểu trong di sản văn hóa Phật giáo Champa ở Quảng Bình là những di sản văn hóa Phật giáo ở Động Phong Nha.
Từ đầu thế kỷ 20, những nhà khoa học Pháp đã quan tâm, phát hiện được những di vật mà đến nay trở thành tư liệu vô cùng quý giá v văn hóa Phật giáo Quảng Bình nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung, đónhững phát hiện của nhà khoa học người Pháp, Louis Finot tại động Phong Nha với 35 hình ảnh Phật giáo Đại thừa bằng đất nung có hình như những chiếc mề đay (mesdaillons) tròn mà như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, những mề đay đất nung hình tròn ca Phật giáo xuất hiện rất sm (từ thế kỷ II - III) trong các truyền thống nghệ thuật Phật giáo Amaravati, Mathura, Kushan… của Ấn Độ. Hơn nữa, hình ngôi tháp tròn có đỉnh hình chiếc ô chính là hình ảnh những ngôi tháp Phật giáo Bắc Ấn Độ (thời Kushan) thế kỷ II - III. Như vậy, những hiện vật và dấu tích còn lại hay được phát hiện đã cho thấy, Phong Nha đã là một trong những trung tâm Phật giáo cổ nhất ở Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, nhà khoa học người Pháp C.Paris đã thu thập (ghi lại) được ở Phong Nha 97 bia ký Champa nhưng đến nay vẫn chưa dịch được. Vi một số t đọc
 




được cho thấy rõ tính chất Phật giáo của hang động Phong Nha này. Trên cơ sở nghiên cứu các hình Pht giáo bằng đất nung được phát hiện ở Thái Lan và mt số nơi khác trong khu vực Đông Nam Á, nhà Đông phương học nổi tiếng G.Coedes đã cho rằng, Phong Nha trung tâm thờ phụng của Phật giáo Đại thừa đậm sắc thái Mật tông.
Vi 35 hình Phật giáo bằng đất nung và 97 bia ký có thể cũng mang những nội dung Phật giáo đã là những minh chứng đầy thuyết phục về s hiện diện của hoạt động Phật giáo tại Động Phong Nha vào thời Champa. Do đó, Phong Nha không chỉ là một danh thắng thiên nhiên kì thú được UNESCO công nhận di sản thiên nhiên thế gii, mà còn là một trung tâm Phật giáo xưa nhất được biết đến ở Champa và khu vực Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, những dấu tích, tượng Phật giáo (tiêu biểu là tượng Phật, Bồ tát) được phát hiện tại các di tích Đại Hữu, Mỹ Đức… đều là những di vật quý hiếm, có giá trị của văn hóa Champa nói riêng và kho tàng di sản văn hóa Việt Nam nói chung
- Di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình từ khi nhà Trần mở cõi về phương Nam, đặc bit, từ thế kỷ 14 - 17, là sự du nhập, phát triển của các dòng thiền của Phật giáo Bắc tông truyền từ phía Bắc (Trúc Lâm, Lâm Tế, Tào Động, Trí Bản Đột Không, Thập Tháp, Quốc Ân Chúc Thánh…). Tùy vào từng giai đoạn lịch sử mà mỗi dòng phái đều đóng vai trò nhất định trong sự hình thành, phát triển của Phật giáo Quảng Bình. Cũng như Phật giáo Việt Nam (phía Bắc) nói chung, ở Quảng Bình, không chỉ các dòng thiền du nhập, hội tụ phát triển phong phú mà cùng với đó là sự dung hợp của các tôn giáo: Nho giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác. Vì vậy, hệ thống tượng thờ ở các chùa rất đa dạng và phong phú. Phật điện thường được bài trí tượng thờ theo dạng “tiền Thánh/Thần hậu Phật” mang đậm yếu tố dân gian, tín ngưỡng thờ phụng của Phật giáo Bắc tông vùng đồng bằng Bắc Bộ với sự phối thờ nhiều loại tượng khác nhau, không chỉ Phật giáo mà có cả hệ thống tượng Nho giáo, Đạo giáo, Mẫu các tín ngưỡng dân gian khác, với số lượng có khi lên đến hàng mấy chục tượng thờ trong một không gian Phật điện. Từ
 




đó cho thấy quan niệm, ý thức tâm linh của cộng đồng trong việc bài trí hệ thống tượng thờ; ngôi chùa trở thành một bảo tàng dân gian lưu giữ niềm tin tâm linh tôn giáo cho một vùng. Chính hệ thống tượng thờ hiện còn đã góp phần minh chứng, lý giải cho sự đa dạng về nguồn gốc, chất liệu, phong cách nghệ thuật… của các giai đoạn khác nhau trong lịch sử. Tiêu biểu nhất có lẽ là hệ thống tượng thờ trong các Phật điện chùa Quan Âm (xã Đức Trạch), chùa Quan Âm (xã Thanh Trạch) và chùa Cảnh Phúc (xã Cảnh Dương)…
Về các bảo vật chuông, tượng, pháp khí: Quảng Bình là nơi từng phải gánh chịu bao cuộc chiến tranh khốc liệt trong lịch sử, do vậy hệ thống chùa chiền, tượng Phật, pháp khí… hầu như đã bị hư hại theo thời gian, bị phá hủy bởi bom đạn cũng như bởi nhận thức của một thời. Tuy nhiên, nhờ có niềm tin tâm linh, tôn giáo trong lòng người dân mà cho đến nay những di sản vô giá của Phật giáo vẫn còn được lưu giữ.
Bên cạnh những di sản thể hiện sự phát triển của phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông cũng được du nhập cùng phát triển ở Quảng Bình. Qua các tư liệu, nghiên cứu cho thấy, Phật giáo Nam tông được truyền vào Quảng Bình là do sự giao lưu Phật giáo Việt Nam - Lào qua con đường các vị thiền sư trước đây hành đạo ở khu vực miền núi phía Tây tỉnh Quảng Bình giáp với nước Lào đã uyển chuyển tùy duyên kết hợp nghi thức Phật giáo Đại thừa ứng dụng vào trong Phật giáo Tiểu thừa để giáo hóa nhân tâm, tiêu biểu là bản“Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” hiện được lưu giữ tại chùa Quan Âm (Đức Trạch, Bố Trạch).
Về thư tịch cổ Phật giáo và các văn bản Hán - Nôm: hiện nay, ở Quảng Bình còn có một khối lượng lớn các thư tịch c Phật giáo, các tư liệu Hán Nôm có giá trị hiện được lưu giữ ti nhiều ngôi chùa trên địa bàn các huyện dọc lưu vực sông Gianh. Đáng chú ý nhất là các điểm lưu trữ ti Bố Trạch, Tuyên Hóa và Minh Hóa. Chẳng hạn, riêng ở chùa Quan Âm (Đức Trạch - B Trạch) hiện còn lưu giữ khoảng 50 thư tch cổ Phật giáo các loại vi số lượng gần c 100 cuốn, cùng rất nhiều các văn bản Hán Nôm có giá trị liên quan đến Phật giáo. Ngoài các thư tịch c có nguồn gốc từ min Bắc chuyển vào - chủ yếu là các bản khoa nghi, văn sớ như các tập “Tâm
 




nang”, “Thiện bản”, “Tạp tiếu”, “Trai đàn công văn”..., và văn bản chữ Nôm “Khuyến phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa”. Ở chùa Quan Âm còn lưu giữ rất nhiều thư tịch cổ thuc Kinh tạng và Luật tạng có xuất xứ t các ngôi chùa ở Huế, tiêu biểu trong đó là bản in “Điệp đàn Tỳ-kheo” của ngài Lệ Hương cùng bộ kinhThủy Sámdo ngài chép tay, v hình minh họa chư Pht và truyện tích Ngộ Đạt Quốc sư rất có giá trị và bản “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” như đã nêu trên. Ngoài ra, còn nhiều văn bản khá đặc biệt liên quan đến pháp môn hành trì và h thng truyền thừa của Phật giáo, kinh văn, bài vị th các vị t sư… hiện còn lưu giữ tại các chùa, đình và trong tư gia. Cùng với đó, các quyển kinh buông (lá bi) đang ngày càng trở nên quý hiếm hoc các bài cúng tế ca tộc người Ngun, Bru Khùa… gắn với tín ngưỡng th Bt/Pt ni dung liên quan mt thiết vi các giáo Phật giáo cũng thể hin s độc đáo, đặc sc ca Pht giáo hòa quyn vi tín ngưỡng dân gian thấm sâu vào đời sng tâm linh cộng đồng. Điều này góp phn quan trọng cho văn hóa Phật giáo Quảng Bình nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung thêm phong phú, đa dạng.
Tất cả các loại di sản minh văn, văn tự này không chỉ có giá trị nghiên cứu về lch sử, tông phái, nghi lễ, sinh hoạt tín ngưỡng… mà còn giá trị trong nghiên cứu về ngôn ngữ Phật giáo vi sự xuất hiện và phát triển của đầy đủ các ngôn ngữ: Sanskit, Hán, Nôm, Quốc ngữ, dân tộc (thiểu số) trên loại hình di sản có minh văn, văn tựQung Bình.
Tuy nhiên, hầu hết các di sản này đều chưa được đầu tư đúng mức trong việc nghiên cứu, bảo quản, bảo vệ, sắp xếp khoa học và phát huy đúng vị trí, vai trò của chúng trong chiến lược, kế hoạch bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Quảng Bình nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội Quảng Bình nói chung. Trong đó, hầu hết các di tích đều mất tích hoặc bị phá hủy (bởi thời gian, chiến tranh, tác động của phát triển kinh tế…), đặc biệt là các di tích Phật giáo thời kỳ văn hóa Champa, phong kiến (Đại Việt). Nhiều tư liệu, di vật, bảo vật hiện được lưu giữ tại các cơ quan lưu trữ trong và ngoài nước hoặc được gìn giữ, bảo vệ trong gia, tổ chức đoàn thể, chính quyền địa
 




phương, chẳng hạn, một số tài liệu, hiện vật Phật giáo Champa hiện đang được lưu giữ tại Trường Viễn đông Bác cổ Pháp, cơ quan lưu trữ, bảo tàng… trong và ngoài nước; các bảo vật của chùa Hoằng Phúc (tượng Phật, tượng Thánh, đại hồng chung, tòa Cửu long, các pháp khí và đối, liễn… đều được bảo quản tại trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy); các bản kinh được lưu giữ tại nhà Thầy Hồ Đăng Giới (thôn Trung Đức, xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch)…
  1. Một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình.
Mặc dù những di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình không nhiều nhưng lại rất độc đáo, đặc sắc, quý hiếm và có giá trị. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình còn đang phân tán, chưa được chú trọng đầu tư nghiên cứu, hệ thống hóa khoa học nên chưa phát huy được hết giá trị vốn có của khối di sản này. Nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả những di sản văn hóa này phục vụ cho việc kế thừa, xây dựng, phát triển Phật giáo Quảng Bình nói riêng cũng như phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh Quảng Bình, phát triển văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung, chúng tôi xin nêu một số giải pháp như sau:
- Khảo sát, nghiên cứu, sưu tầm, đánh giá một cách bài bản, khoa học các di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình:
+ Phối hợp với Ban Văn hóa trung ương GHPGVN và các cơ quan quản lý, chuyên môn liên quan tổ chức khảo sát, nghiên cứu, hội thảo, tọa đàm ở các cấp độ, quy mô, lĩnh vực… nhằm xác định giá trị, phân loại và xây dựng kế hoạch, phương án bảo tồn (phục hồi, phục dựng) các di tích, di vật Phật giáo thời kỳ Champa, Đại Việt (trải qua các triều đại), đặc biệt các di tích gắn với những sự kiện lch sử quan trọng liên quan đến những nhân vật lch sử văn hóa nổi tiếng như Phật hoàng Trần Nhân Tông, chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Chu, vua Minh Mạng, Thiệu Trị...; các tài liệu có minh văn, ngôn ngữ Phật giáo… bởi hệ thống bia ký, hoành phi câu đối, các loại bài kệ, kinh sách, bài cúng tế, tài liệu nghiên cứu lịch sử… không chỉ có giá trị nghiên cứu văn hóa Phật giáo Quảng Bình còn là các vấn đề văn hóa, lịch
 




sử, xã hội đương thời, góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa Quảng Bình nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.
+ Tăng cường sưu tầm, tư liệu hóa tài liệu, hiện vật, di vật liên quan đến Phật giáo Quảng Bình làm sở cho việc định hướng phát triển Phật giáo Quảng Bình trên cơ sở kế thừa, phát huy đảm bảo khoa và phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt là các tài liệu, hiện vật Phật giáo Champa và Đại Việt hiện đang lưu giữ tại Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO), các cơ quan lưu trữ tư liệu, cơ quan, tổ chức, sưu tập tư nhân trong nhân dân ở trong và ngoài nước. Các chùa có những tài liệu, hiện vật thất lạc, sơ tán, lưu giữ ở nơi khác cần có kế hoạch nghiên cứu, tập hợp, hệ thống hóa phục vụ xây dựng lịch sử chùa đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản Phật giáo tại cơ sở thờ tự.
- Tiếp tục nghiên cứu về lịch sử du nhập - truyền thừa, các truyền thống Phật giáo; giá trị di sản về kiến trúc, phong cách thờ tự; sinh hoạt Tăng-già, đời sống tâm linh của các cộng đồng dân cư, tộc người... Trên sở đó, xây dựng kế hoạch, phương án: sưu tầm, trưng bày, truyền thông, tổ chức các hoạt động Phật giáo nhằm giới thiệu những đặc trưng của Phật giáo Quảng Bình. Đặc biệt là kết nối với các lĩnh vực khác (du lịch, xuất bản, truyền thông…) để tạo nên mạng lưới phát huy giá trị văn hóa Phật giáo Quảng Bình hiệu quả nhất. Chẳng hạn, trong lĩnh vực du lịch, có thể tổ chức:
+ Tour du lịch hành hương/tâm linh kết nối cơ sở thờ tự Phật giáo với các di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử kháng chiến, các danh nhân, danh thắng… ở Quảng Bình hoặc Quảng Bình với các tỉnh miền Trung/Bắc, Trung Trung bộ… Nét độc đáo của tín ngưỡng thờ Bồ tát (Bodhisatva) trong văn hóa Champa với tín ngưỡng thờ Quan Âm của người Việt ở các tỉnh miền Trung cũng sẽ là tour du lịch ý nghĩa, hấp dẫn.
+ Tour kết nối du lịch các di tích Phật giáo xưa - nay trên đất Quảng Bình (các di chỉ, di tích, bảo tàng lưu giữ các di vật Phật giáo, các ngôi chùa hiện nay để Phật
 




tử, công chúng được trải nghiệm hành trình/lịch sử phát triển xuyên suốt của Phật giáo trên đất Quảng Bình).
+ Tour tìm hiểu Phật giáo Quảng Bình (những giá trị văn hóa Phật giáo Champa
- một trong những dấu ấn Phật giáo xưa nhất Đông Nam Á) gắn với kỳ quan động Phong Nha… không địa phương nào có được.
- Tăng cường giáo dục tăng ni Phật giáo Quảng Bình, trước hết nhận thức được giá trị, vị trí, vai trò, ý nghĩa của di sản văn hóa Phật giáo Quảng Bình trong bảo tồn, phát huy và định hướng phát triển Phật giáo Quảng Bình; đồng thời tăng cường các mối liên kết với Ban Văn hóa trung ương, Ban văn hóa Phật giáo các tỉnh, thành và tăng ni trên cả nước và nước ngoài nhằm truyền thông về giá trị văn hóa Phật giáo Quảng Bình thông qua các chương trình tập huấn, giao lưu, sự kiện, ấn phẩm, kênh thông tin truyền thông… và khai thác, kế thừa những giá trị đó để xây dựng, phát triển văn hóa Phật giáo Quảng Bình ở thời đại mới đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững cũng như góp phần xây dựng, phát triển văn hóa Phật giáo Việt Nam thống nhất trong đa dạng.
Để thực hiện các giải pháp trên đảm bảo hiệu quả, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Bình, Ban Văn hóa Phật giáo tỉnh Quảng Bình cần sớm xác định mục tiêu, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể, phân công, phối hợp với các ban, viện của GHPGVN và các cơ quan quản lý, chuyên môn để từng bước thực hiện bảo tồn, phát huy di sản Phật giáo Quảng Bình.

Tài liệu tham khảo

  1. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Văn hóa và phát triển. Giáo trình Cao cấp luận chính trị. NXB Lý luận Chính trị, 2018.
  2. Ngô Văn Doanh, Nguyễn Thị Thu Hoan. Động Phong Nha và những dấu tích Phật giáo cổ nhất ở Đông Nam Á. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.




 
  1. Thích Pháp Hạnh - Lê Thọ Quốc. Hệ thống tượng thờ ở những ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa nay”, 12/2019.
  2. Lê Đình Hùng - Nguyễn Thị Tâm Hạnh. Thư tịch cổ Phật giáo hiện được lưu giữ tại các điểm dọc lưu vực sông Gianh. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.
  3. Louis Finot. Tôn giáo của người Chàm qua các tác phẩm nghệ thuật. Xuất bản 1901.
  4. Thích Không Nhiên.Tổng quan về các di chỉ Phật giáo dọc lưu vực sông Gianh. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.
  5. Nguyễn Văn Thịnh. Sách cổ “Pôộc năng xừ” và dấu ấn Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng của người Bru Khùa ở Minh Hóa. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.
  6. Nguyễn HữuThông, Lê Thị Như Khuê. Từ tín ngưỡng thờ “PỤT” trong văn hóa người Nguồn nghĩ về dấu ấn Phật giáo ở Tây Quảng Bình. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.
  7. Nguyễn Hữu Thông - Lê Thọ Quốc. Bảo vật hiện còn của cổ tự Hoằng Phúc.
Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.
  1. Thích Như Tịnh. Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc thiền phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình. Tham luận Hội thảo “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”, 12/2019.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây