37 - ThS. Đặng Thị Tường Vi - NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH THẾ KỶ XVII- XIX QUA DI VẬT TƯỢNG THỜ VÀ THƯ TỊCH CỔ

Thứ hai - 16/12/2019 11:33
NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH THẾ KỶ XVII- XIX QUA DI VẬT TƯỢNG THỜ VÀ THƯ TỊCH CỔ

ThS. Đặng Thị Tường Vi*

 
  1. Hệ thống tượng thờ
Mặc dù trong ba thế kỷ XVII – XIX, Quảng Bình là vùng đất trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng các ngôi chùa ở Quảng Bình vẫn bảo lưu nhiều dấu ấn Phật giáo. Bên cạnh những đại hồng chung hiện còn lưu giữ, hệ thống tượng thờ tuy bị thất thoát nhiều nhưng đến nay ở một số chùa vẫn giữ được nhiều pho tượng cổ khá nguyên vẹn, đa dạng cả về số lượng, chất liệu, chủng loại, phong cách chạm tạc.
Hệ thống tượng thờ ở Quảng Bình có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và chịu sự chi phối của bối cảnh lịch sử. Là một tôn giáo gần gũi với truyền thống dân gian, Phật giáo đã đồng hành cùng với quá trình Nam tiến của người Việt, được các chúa Nguyễn tôn sùng, đồng thời, sự hiện diện của các tông phái trên mảnh đất Quảng Bình đã làm cho hệ thống tượng thờ phong phú. So với vùng phía Nam Quảng Bình, các ngôi chùa ở vùng Bố Chính cực Bắc Đàng Trong nay thuộc Bố Trạch còn lưu giữ nhiều bảo vật. Tại Phật điện của một số chùa như chùa Quan Âm (Thanh Trạch), chùa Quan Âm (Đức Trạch) hệ thống tượng, pháp khí được thờ tự rất phong phú. Do một thời hoạt động Phật giáo bị gián đoạn, nhiều chùa làng bị hoang phế, tượng Phật từ các chùa hoang phế được di dời về các chùa còn lại, trong chùa không có người hiểu biết chuyên sâu nên bố trí thờ tự theo ngẫu hứng. “Rất nhiều pho tượng đồng chủng loại lại được phối thờ trên cùng một ban và xếp đặt không tuân theo bất kỳ phương thức thờ tự nào”399.
Chùa Quan Âm (Đức Trạch) “là biểu tượng sinh động nhất về trường hợp “hợp tự”: tượng vốn được quy tập từ nhiều nguồn, nhiều ngôi chùa khác nhau trong vùng theo chủ trương “dồn điền đổi thửa” và đưa về phụng thờ tại đây, trong đó có cả tượng Phật chùa Vĩnh Thanh, chùa Đức Quang và chùa Đức Linh sau khi các ngôi chùa ấy được giải thể”400.




  • Đại học Huế
399 Thích Không Nhiên (2016), “Tổng quan về các di chỉ Phật giáo dọc lưu vực sông Gianh, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 33
400 Thích Không Nhiên (2016), “Tổng quan về các di chỉ Phật giáo dọc lưu vực sông Gianh, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 33
 




Lúc đầu, với lòng tin tín ngưỡng, cư dân quanh vùng đã dựng lên một ngôi chùa tranh trên đùn cát cao để thờ Phật Quan Âm401 vớt được ở dưới biển. Về sau, ng với quá trình hợp tự sự thành tâm của tăng ni, Phật tử, nhiều tượng Phật được thỉnh về thờ tự tại chùa Quan Âm. Trong chùa có bộ Tam Thế: A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni. Di Lặc, Đại Thế Chí Bồ Tát, Dược Lưu Ly Quang Vương Phật, Đại Tạng Vương Bồ Tát, Thích Ca Đản Sinh, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Hộ Pháp, Thiên Long, Đạt Ma Sư Tổ… Tất cả có đến 30 tượng làm bằng chất liệu đá, đồng, gỗ có niên đại từ thế kỷ XVIII, XIX. Ngoài ra chùa Quan Âm còn lưu giữ một số hiện vật quý như hai chiếc cối đá, hai chày đá có niên đại thế kỷ VII-VIII. Với số lượng phong phú về chủng loại đã tạo nên nét riêng biệt cách bày trí của ngôi chùa. Tại Phật điện, các tượng thờ gồm có bộ Tam Thế Phật (cũ) và bộ Tam Thế Phật (mới); 3 tượng Thích Ca ngồi trên tòa sen; 6 tượng Bồ Tát Quan Âm, 2 tòa Cửa Long và 1 tượng Di Lặc; bộ tượng 3 pho Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu; 1 tượng Bồ Đề Đạt Ma và 1 tượng chưa rõ chủng loại. Đa phần các pho tượng thờ tự trong Phật điện chùa Quan Âm đều được làm bằng gỗ, có kỹ thuật điêu khắc, tinh xảo.
Hai pho tượng Cửu Long402 bày trí tại chùa Quan Âm được làm bằng gỗ. Mỗi pho tượng có những nét điêu khắc riêng.
Phía hậu tổ của chùa Quan Âm còn có thờ một pho tượng Bồ Đề Đạt Ma. Đây là một pho tượng đặc biệt nhất trong hệ thống tượng thờ được tìm thấy tại các chùa miền Trung. Pho tượng được làm bằng gỗ, chiều cao 54cm. Bồ Đề Đạt Ma trong tư thế ngồi kiết già, thân mặc áo sa để hở phần ngực. Với đường nét tinh xảo, sống động phối cùng khuôn mặt đã toát lên vẻ thoát tục. Hiện nay, pho tượng bị hư hại




401 Pho tượng Quan Âm ngồi khiết già ở chùa Quan Âm có hình dạng khá đặc biệt, không giống với lối tạo hình thường gặp. Pho tượng cao 60,5cm, nặng khoảng 40kg (gồm cả cốt đá bên trong); các bộ phận: tay, chân, áo của pho tượng là một khối liền; phần lưng được ốp 3 miếng gỗ (hai miếng hai bên có kích thước lớn hơn miếng ở giữa); phần đầu của pho tượngmột phần rời cố định qua các chốt; để che những phần nối, bên ngoài pho tượng được phủ một lớp sơn khá dày.
402 Tòa thứ nhất có kết cấu với phần thân gồm 7 đầu rồng, cao 71,5cm, chạm khắc tinh xảo, bên ngoài phủ một lớp sơn son thiếp vàng; các đầu rồng đối xứng nhau, riêng hai đầu 6 và 7 nghiêng về một phía cùng ngậm vòi nước; đầu rộng chính giữa nhô ra 10,5cm, dày 10cm, cao 80cm. Các đầu rộng được liên kết với nhau bởi các vân mây, điểm rộng nhất tòa Cửu Long cao 31cm. Đế một bệ gỗ hình lục giác. Mặt đế được chạm các đường sóng, mỗi cạnh đế có độ dài 12,5cm và cao 14cm. Tượng Đản sanh cao 35,5 cm. Tòa Cửu Long thứ hai gồm thân và đế, chất liệu bằng gỗ, bên ngoài được phủ một lớp sơn màu đồng thau, cao 58cm, độ rộng chân tòa 42cm, chiều cao lòng tòa từ cằm rồng giữa đến đế tòa 41,2cm. Các cặp rồng được chạm đối diện nhau và khoảng cách không đồng nhau. Mặt chính giữa được chạm theo kiểu rồng chầu, đầu nhô ra 4cm, cao 5cm, các đầu rồng được chạm liên kết với nhau bằng các vân mây. Đế tòa dẹp, chiều dài 47,5cm. Tượng Đản Sanh bằng đồng/gang màu đen đứng trên đài sen; dưới đài sen gồm hai lớp cánh sen được gắn thêm đĩa bằng sứ có xi măng (do người sau gắn thêm). Chiều cao từ đỉnh tượng xuống cuối đài sen 35,5cm, trong đó tượng cao 28,6cm, khoảng cách hai vai 7,2cm, dày vai 4,3cm. Đài senmột khối thống nhất với tượng, cao 6,7cm.
 




nhiều chỗ nhất là phần thân và đế. Đây được xem là linh hồn của ngôi chùa Quan Âm.
Có thể thấy rằng, mặc dù là ngôi chùa làng nhưng chùa Quan Âm tự ở xã Đức Trạch như một bảo tàng Phật giáo thu nhỏ với sự đa dạng trong nguồn gốc, chất liệu, kỹ thuật chế tác và cách thiết trí các tượng thờ.
Bên cạnh thờ Phật, chùa ở Quảng Bình còn là một tổng thể của sự phối hợp gồm Bồ tát, Thánh thần, Mẫu. Hình thức thờ theo kiểu “tiền Thánh hậu Phật” - đây là đặc trưng của Phật giáo Bắc Bộ; tuy nhiên trong kiểu thức thiết trí chung đó, mỗi chùa đều có một lối thờ tự riêng. Phật điện tại các chùa, ngoài Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị Bồ tát, Hộ Pháp, Thập điện Minh Vương… còn có bộ tượng Ngọc Hoàng gồm Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu.
Cũng như những ngôi chùa làng khác, chùa Cảnh Phúc (Cảnh Dương, Quảng Trạch) là nơi lưu giữ 26 pho tượng lớn nhỏ các loại, tích hợp nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian khác nhau. Gian chính của chùa gồm có 14 vị Phật, Bồ Tát, Thánh chúng và tượng Cửu Long xếp đăng đối theo trục chính giữa và hai bên tả hữu. Hai án tả hữu thiết trí thờ các vị Thánh Mẫu, Đức Ông, Thập Điện Minh Vương…
Trải qua thời gian lâu dài, chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc còn lưu lại 7 pho tượng (5 pho tượng đúc bằng đồng: tượng Phật Thích ca, tượng Bồ tát Địa tạng, 3 pho tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu và 2 pho tượng bằng gỗ: tượng Hộ pháp, tượng Giám Trai Sứ Giả). Mỗi pho tượng đều có kỹ thuật chế tác, kiểu dáng phong cách mỹ thuật khác nhau. Không còn nguyên vẹn như các pho tượng khác, tượng Phật Thích ca của chùa Kính Thiên hiện đã bị mất phần đầu tuy nhiên đây là một hệ tượng rất hiếm trong hệ thống tượng cổ của các chùa ở nước ta. Với đường nét được chạm trổ, điêu khắc tinh xảo, các tượng thờ ở chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc đã thể hiện được lối kiến trúc Phật giáo cung đình, xứng tầm với một ngôi quan tự nổi tiếng của Quảng Bình.
Xuất phát từ niềm tin tâm linh, tôn giáo, người dân ở các địa phương đã góp phần lưu giữ những giá trị vô giá của Phật giáo. Trong không gian Phật điện tại các ngôi chùa làng ở các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch và Tuyên Hóa, “dung hợp nhiều loại tượng khác nhau, không chỉ Phật giáo có cả hệ thống Nho giáo, Đạo giáo, Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác, với số lượng có khi lên đến mấy chục tượng thờ”403. Hệ thống tượng thờ ở các ngôi chùa làng chủ yếu được làm gỗ, trong khi đó, chùa quan Kính Thiên – Hoằng Phúc, tượng chủ yếu được làm bằng đồng.


403 Thích Pháp Hạnh, Lê Thọ Quốc (2016), “Hệ thống tượng thờ ở những ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh,
Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 93.
 




Có nguồn gốc từ nhiều nơi, chất liệu khác nhau, kỹ thuật tạo tượng không đồng nhất, hệ thống tượng thờ ở các chùa vùng phía Bắc Quảng Bình như một kho tàng thu nhỏ của Phật giáo bởi sự đa dạng và phong phú. Hệ thống tượng thờ đang hiện hữu tại các ngôi chùa làng “thể hiện rõ tính chất Phật giáo dân gian với sự hòa trộn giữa tín ngưỡng tam giáo lẫn các tín ngưỡng địa phương một cách tinh tế, uyển chuyển trong cách bày trí”404.
Chịu tác động của sự riêng biệt trong quá trình hình thành và phát triển, các ngôi chùa ở Quảng Bình đã chứa đựng một hệ thống tượng thờ phong phú về mọi mặt. Trong tiến trình lịch sử Nam tiến của người Việt, khi cộng đồng dân cư sinh tụ ở đây đã mang hành trang tâm linh chính từ nơi họ xuất phát để định hình nên các làng xã trên vùng đất mới. Quảng Bình được xem là điểm xuất phát trong hành trình Nam tiến của các chúa Nguyễn vào thế kỷ XVI, vì vậy, việc hình thành các làng xã ở Quảng Bình song hành cùng với việc dựng chùa, lập đình. Đó là một nét đẹp văn hóa của con người ở vùng đất “phen dậu” Quảng Bình.
  1. Các thư tịch cổ
Dấu ấn Phật giáo Quảng Bình thế kỷ XVII – XIX không chỉ được lưu giữ thông qua hệ thống chùa quan, chùa làng, các bảo vật liên quan mà còn được thể hiện ở các thư tịch cổ ghi chép những tư liệu quý giá của Phật giáo.
“Pôộc năng xừ” là một pho sách cổ của người Bru Khùa ở miền Tây Quảng Bình, viết bằng loại tự dạng ngoằn nghèo, trên các phiến lá cọ, có thời gian tồn tại lâu đời. Đối với người Bru Khùa ở huyện Minh Hóa, “Pôộc năng xừ” là một bảo vật truyền gia, lưu giữ truyền thống văn hóa, tâm linh của tộc người để truyền dạy cho các thế hệ con cháu. Pho sách gồm 70 phiến lá cọ, mỗi phiến có chiều dài 57cm, rộng 6cm, xếp chồng lên nhau, nối với nhau bằng cách đục hai lỗ xuyên tâm các phiến lá và dùng dây cước hoặc dây mây luồn qua hai lỗ và xâu lại. Bìa của tập sách được làm bằng gỗ, có chạm trổ hoa văn dây lá. Hiện nay, chưa thống nhất được dạng chữ viết trên pho sách, tuy nhiên, thông qua cách viết có thể thấy là dạng chữ Thái hoặc chữ Lào cổ. Thuở trước, người Bru Khùa sang Lào học đạo, làm sư, sau đó, về truyền dạy, phổ biến trong cộng đồng và tập thành cuốn “Pôộc năng xừ” với nội dung những lời răn dạy về đạo đức làm người, nghi thức “cột chỉ cổ tay” cầu bình an, đồng thời ghi chép những lời dạy của Đức Phật; dần dần những điều đó trở thành thói quen sinh hoạt văn hóa tâm linh trong cộng đồng người Bru Khùa duy trì cho đến ngày nay. Là một báu vật của Bru Khùa ở Minh Hóa, “Pôộc năng xừ” đã song hành cùng


404 Thích Pháp Hạnh, Lê Thọ Quốc (2016), “Hệ thống tượng thờ ở những ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh,
Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 96
 




quá trình phát triển của cộng đồng dân tộc thiểu số phía Tây Quảng Bình, vậy, “Pôộc năng xừ” được trân quý, mặc dù việc bảo quản đơn giản nhưng trải qua một quá trình dài của lịch sử nhưng “Pôộc năng xừ” vẫn khá nguyên vẹn và đã được phiên âm. Hiện nay, trong cộng đồng người Bru Khùa còn lưu giữ 6 bản sách cổ “Pôộc năng xừ” (1 bản: nhà ông Hồ Quý Bôn, 2 bản: nhà ông Hồ Phoòng, 3 bản: nhà ông Hồ Liêng). Với nội dung của “Pôộc năng xừ” đã chứng tỏ “trong quá khứ đã có một truyền thống Phật giáo mang màu sắc Nam truyền hiện diện tại khu vực phía Tây Quảng Bình, được truyền đến từ bên kia dãy Trường Sơn”405.
“Tân soạn tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” là bộ kinh sách hiếm hoi và độc đáo, đang được lưu giữ tại chùa Quan Âm (xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch). “Đây là một dạng văn bản cúng tế được tiếp thu và thích ứng từ truyền thống Đại thừa nhưng lại dành cho các đối tượng thuộc vùng ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa”406. Bộ sách gồm hai quyển với 82 trang: Tân soạn tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn – quyển hạ gồm 48 trang, Tân soạn tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn
– quyển thượng gồm 34 trang, viết trên giấy dó, mực xạ truyền thống, nét chữ sắc sảo theo một phong cách riêng, tương đồng với phong cách chữ viết trong công văn của cuối thời vua Gia Long. Nội dung của bộ kinh bao gồm các bài sớ, điệp, thiếp, biểu, dẫn, phan, bùa, hịch.
Văn bản cúng “Phụng thừa Thích ca Như Lai di giáo” (thời Tự Đức) viết bằng chữ Hán, được cộng đồng người Nguồn lưu giữ. Nội dung phản ánh sự có mặt hình tượng Phật Thích Ca sự tín ngưỡng thờ Phật. Với tiêu đề cùng với nội dung được đề cập thể hiện rõ yếu tố Phật giáo trong văn bản. “Qua tài liệu “Phụng thừa Thích ca Như Lai di giáo”, chúng ta thấy sự hiện hữu và lan tỏa ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo thông qua tiếp xúc với người Việt, đã xâm nhập muộn nhất là từ thời Nguyễn, can thiệp và làm biến tướng tục thờ Pụt vốn có gốc gác Phật giáo từng lan tỏa ảnh hưởng từ rất sớm trên vùng đất này”407.
“Ngũ gia tông phái” là một tư liệu quý ghi chép các kệ phái và truyền thừa thiền tông, đang lưu giữ tại đình làng Lý Hòa, huyện Bố Trạch. Văn bản in chữ Hán, khổ hình chữ nhật, được thực hiện bởi Hòa thượng Thạnh Đạo cùng chư sơn Đại đức giao cho Yết ma Thiện Bảo (chùa Long Triều) chép chữ, thợ khắc Hoằng Khai (chùa



405 Nguyễn Văn Thịnh (2016), “Sách cổ Pôộc năng xừ và dấu ấn Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng người Bru Khùa ở Minh Hóa, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 47.
406 Nguyễn Hữu Thông, Lê Thị Như Khuê (2016), “Từ “tín ngưỡng thờ “Pụt” trong văn hóa người Nguồn, nghĩ về dấu ấn Phật giáo ở phía Tây Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán (7), tr. 53
407 Nguyễn Hữu Thông, Lê Thị Như Khuê (2016), “Từ “tín ngưỡng thờ “Pụt” trong văn hóa người Nguồn, nghĩ về dấu ấn Phật giáo ở phía Tây Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán (7), tr. 53
 




Từ Tánh. Nội dung của “Ngũ gia tông phái” chia làm hai phần: biểu đồ truyền thừa và các kệ phái: Qui Ngưỡng tông, Pháp Nhãn tông, Văn Môn tông, Lâm Tế tông, Tào Động tông, đồng thời có liệt kê các thiền sư, tổ sư khai phá năm tông phái đó; phần thứ hai “Nam triều đế vương sùng Phật vi tiên” đề cập khái lược Phật giáo Việt Nam từ thời du nhập đến thời Nguyễn, gồm 15 dòng chữ Hán, mỗi dòng 54 chữ, viết theo lối văn sử, cung cấp những thông tin liên quan tới lịch sử các ông vua mộ đạo, hộ đạo. “Bản Ngũ gia tông phái vừa phát hiện ở Quảng Bình có những giá trị nhất định về tư liệu, nhất là việc sử dụng kệ phái để truyền pháp và rõ cội nguồn tông phái kế thừa”408. Mặc dù có những ghi chép sai lệch, tuy nhiên, cùng với các thư tịch cổ khác, “Ngũ gia tông phái” một sử liệu giàu giá trị, đặc biệt là khi nghiên cứu về các dòng kệ truyền thừa.
Văn bia chùa Kim Phong bản chữ Hán ghi chép về chùa Kim Phong trên núi Thần Đinh do Lê Thực soạn năm 1830, gồm 5 văn bản, 9 trang, với nội dung đề cập đến: chùa Kim Phong trên đỉnh Thần Đinh, hành trạng của đại sư Gia Hội, lễ rước tượng Phật Di lặc, các người góp của trùng tu chùa Thần Đinh, tờ bẩm. Trong khi những dấu tích về chùa Kim Phong không còn nhiều thì đây là một văn bản cổ nhất và căn bản nhất nói về chùa Kim Phong. Mặc dù một số trang đã bị nhàu nát, nhưng thông qua ngôn từ sắc sảo, văn bản đã cung cấp nhiều thông tin quý liên quan tới ngôi chùa. Thông qua văn bản, có thể khẳng định sự hiện diện của cổ tự cùng với những tư liệu quý giá về Phật giáo, làm giàu thêm kho tàng sử liệu khi nghiên cứu Phật giáo Quảng Bình thế kỷ XVII – XIX. “Chùa chiền đất Phật phần lớn thường được xây nơi chốn núi rừng, khe suối tươi đẹp, tuy nhiên cảnh chùa cũng theo thế vận mà hưng phế. Nay chùa Kim Phong cũng thế”409. Ngoài ra, văn bia còn đề cập tới các nhân vật gắn liền với quá trình hoằng dương Phật pháp như: Hoàng Phủ Chân Quân, Sư thầy Ân Khả, đại sư Tiên Ngộ Gia Hội; các sự kiện: đạo tràng chùa Cảnh Tiên trùng tu chùa 1808 không thành; Sư Tiên Ngộ Gia Hội từ chùa Thiên Mụ ra phục dựng chùa năm 1825; công cuộc đại hưng công trùng tu tôn tạo chùa từ năm 1829 đến 1830; vớt được chuông cổ ở thương cảng Nhật Lệ dâng lên chùa; rước tượng Phật Di Lặc bằng vàng ròng do sư Diệu Chấn ở chùa Linh Quang (Quảng Ngãi) sai đồ đệ là sư Diệu Tuấn chuyển theo đường thuyền ra dâng chùa Kim Phong nhân dịp chùa tôn tạo hoàn công. Văn bia ít nhiều mô tả kiến trúc của ngôi chùa. Những nội dung trong văn bia cho thấy vai trò của ngôi cổ tự này đối với Phật giáo Quảng Bình, không chỉ có sức


408 Thích Đồng Dưỡng (2016), “Giới thiệu bản “Ngũ gia Tông phái” vừa được phát hiện tại đình làng Hòa, huyện Bố Trạch, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 75.
409 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba (2015), “Khảo sát một số văn bản của chùa Kim Phong”, Tạp chí Liễu Quán, (5), tr. 79.





lan tỏa trong thiện nam tín nữ của đạo tràng Kim Phong mà còn lan tỏa ảnh hưởng tâm linh thờ Phật gắn với tín ngưỡng thờ cúng trong dân gian của các tầng lớp xã hội từ trong vùng đến thập phương.
Tóm lại, Phật giáo Quảng Bình thế kỷ XVII – XIX là một trong những bộ phận quan trọng của lịch sử Quảng Bình nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung. Điều đó được thể hiện qua những dấu ấn của Phật giáo đang được lưu giữ cho tới ngày nay. Hiện diện ở vùng đất có nhiều biến động như Quảng Bình, Phật giáo đã ảnh hưởng quan trọng đối với đời sống cộng đồng dân cư và chính niềm tin tâm linh là điều kiện tiên quyết để Phật giáo có thể dừng chân và lan tỏa mạnh mẽ trên mảnh đất Quảng Bìnhtrong bối cảnh chế độ phong kiến Việt Nam đangnhiều thay đổi.
Thực tế lịch sử đã cho thấy ngay từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, trên vùng mảnh đất Quảng Bình đã có hệ thống chùa chiền thờ Phật và Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã đến xiển dương dòng thiền Trúc Lâm, một dòng thiền mang tính dân tộc. Đến thế kỷ XVII, sự xuất hiện của các dòng thiền, gắn liền với các tăng sỹ, thiền sư như: Viên Văn Chuyết Chuyết, Hoàng Phủ Chân Quân, thiền sư Chân Quang Đà Lâm, Sư thầy Ân Khả, Đại sư Gia Hội... Thông qua những tư liệu còn được lưu giữ tại các chùa đã cho thấy ở vùng đất này, quá trình hoằng dương Phật pháp đã có từ sớm, Phật giáo rất phát triển.
Hệ thống chùa làng, chùa quan ra đời trong thế kỷ XVII – XIX đã để lại một kiến trúc Phật giáo đặc trưng; cùng với những bảo vật đại hồng chung, hệ thống tượng thờ đang được bày trí tại các chùa, hay thông qua các thư tịch cổ liên quan góp phần khẳng định tầm quan trọng của Phật giáo đối với vùng đất Quảng Bình.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây