36 - TS. Nguyễn Thị Tâm Hạnh - DẤU ẤN VĂN HÓA BIỂN Ở CÁC CHÙA QUAN ÂM HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thứ hai - 16/12/2019 11:31
DU ẤN VĂN HÓA BIỂN Ở CÁC CHÙA QUAN ÂM HUYN BỐ TRCH, TỈNH QUNG BÌNH
 

TS. Nguyễn Th Tâm Hnh*

 
  1. Việc thờ phụng Quan Thế Âm Bồ tát trên đất Quảng Bình
Quán Thế Âm Bồ tát (觀世音菩薩) là danh hiệu bng tiếng Hán - Việt ca Bồ tát Avalokitesvara - biểu tượng ca lòng Bi, một dạng Pht tính. Mặcđược thờ phụng phổ biến khắp vùng Châu Á, song, cho đến nay vn nhiu tranh lun khác nhau về thời điểm khởi phát tín ngưỡng thờ Avalokitesvara.
Riêng với Việt Nam, đặc bit là vùng miền Trung - gồm Quảng Bình, là nơi mà Pht giáo đã bắt r xâu xa suốt c nghìn năm, du nhập bng c đường bin lẫn đường bộ, trc tiếp từ Ấn Độ và gián tiếp qua Trung Hoa, cộng với nhng yếu tố nội sinh của văn hóa bản địa, để đem đến một sc thái riêng cho cho Phật giáo vùng đất này. Tín ngưỡng thờ Quán Thế Âm Bồ bát chính là một biu hin tiêu biu cho sắc thái riêng đó.
Trước khi s hin diện của người Việt, người tiền trú ở Quảng Bình đã thờ phụng Quán Thế Âm Bồ tát dưới nhng ứng thân khác nhau, được thể hin ở các các di chỉ kho c hc khác nhau. Trong số nhng hin vt thời ChampaQung Bình mà các nhà khảo c học người Pháp đã khai quất đượccông bố vào đầu thế kỷ XX, khá nhiều hin vt liên quan đến Quán Thế Âm và các hóa thân của vị B tát này bng các cht liệu đồng, sa thch; trong hình tướng Tara, Quán Thế Âm ngồi trên tòa sen trong tư thế rajasana (vương tọa), Quán Thế Âm bốn tay, Quán Thế Âm đứng trên tòa sen… hay văn bia liên quan đến sự cu kh cu nn ca Bồ tát. Ni bt nht cn phi kể đếnhai bức tượng niên đại ước đoán từ thế kỷ XIX đến thế kỷ X sau Công Nguyên:
- Tượng Bồ tát Quan Thế Âm (Bodhisattva Avalokitesvara) được tìm thấy ở làng Đại Hu (huyện Quảng Ninh). Đây là một tượng Bồ tát Quan Thế Âm trong hình dáng n, được đúc bằng đồng, nặng 35kg, cao 53 cm. Tượng 4 tay cầm 4 pháp khí theo thứ tự trên
- dưới - phải - trái lần lượt là sách pustaka, chuỗi ht aksamala, nụ sen padmatay trái dưới và bình bình nước cam lồ kamandalu. Đặc biệt, trên búi tóc được kết theo kiu jata - mukuta của tượng chạm hình tượng Phật A di đà đang trong tư thế đại định - là chi tiết để xác tín đâytượng Quán Thê Âm.
- Tượng Bồ tát Quan Thế Âm được tìm thấy ở làng Mỹ Đức (Quảng Bình), niên đại khong thế kỷ IX, X sau Công Nguyên. Đây là một tượng mà Bồ tát Quan Thế Âm trong

  • Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế.
 




hình dáng nam - ria mép che kín môi trên, bng sa thạch, cao 1,37 m. Tượng đã mất tay. Tóc cũng búi theo kiu jata - mukuta chạm hình tượng Phật A di đà tương tự như tượng Quán Thê Âm ở Đại Hữu. Hiện đang trưng bày ở hiện trưng bàybo tàng Guimet (Pháp).




                                                      

 
 
Tượng Quán Thế Âm Bồ tát tìm thấy ở Đại Hu
- hiện đang lưu giữ trưng bày tại Bo tàng Lch sử Thành ph H Chí Minh
Nguồn:www.baotanglichsutphcm.com.vn

Tượng Quán Thế Âm Bồ tát tìm thy ở Mỹ Đức hiện trưng bày ở
bo tàng Guimet (Pháp)
Nguồn: https://www.tapatalk.com
 

Không ngạc nhiên với sự hiện diện phổ biến của các tượng Quán Thế Âm vào niên đại IX – X, bởi đây là thời kỳ của triều đại Indrapura (Chămpa) với sự đặc biệt hưng thịnh của Phật giáo mà Quảng Bình là vùng đất cực Bắc của vương quốc này. Hơn thế, Indravarman II còn là một tín đồ thuần thành của Bồ Tát Avalokitesvara, ông tự xem mình đã được đồng nhất với Phật dưới dạng Bồ tát Lokesvara tự đặt cho mình một tên gọi khácLakmindra Bhumisvara Gravasvamin. Ông cũng đã cho xây dựng lên một ngôi đền tráng lệ để thờ phượng Ngài vào năm 875 đặt tên cho ngôi đền là Laksmindralokesvara, bằng
 




cách ghép tên của mình cùng với danh hiệu của Bồ tát Avalokitesvara394. Với sự đồng nht trên đây, thể thấy, B tát Avalokitesvara trong văn hóa Chăm, ít nhất trong triều đại Indravarman II, gn liền với quyền năng của vương triều. Trong khi đó, truyền thống Pht giáo của người Việt từ phía Bc, vốn chu ảnh hưởng trc tiếp từ Trung Hoa, Quán Thế Âm Bồ tát hin din trong vai trò là một “Phật Bà Cứu Kh Cu Nạn”. T Chí Đại Trường đã dn ý kiến của M. Maspero và đưa ra nhận định rằng, đó là một “Phật chưa chịu về yên hưởngmin cc lạc mà cònli với chúng sinh đã đem lại cho Pht giáo một hình nh tôn giáo cu ri hp dn với qun chúng. Một hình nh cu ri càng gn với nhân tính hơn xuất hiện dưới dng nữ thn: Avalokitesvara là một trong hai Bồ tát phụ tá Phật A Di Đà ở Tây phương Tịnh thổ sn sàng cu vớt nhng ai bị tai nn, hỏa hoạn, cướp bóc, thú dữ và cái chết bt ngờ, sau cùng mang tên Quan Âm hay Quan Thế Âm chuyển dạng nữ trên đất Trung Hoa”. Và, cũng như Trung Hoa, Avalokitesvara trong tâm thc của được ngưừi Vit ch yếu dưới dng nữ thân395. Đó được xemkết quả của một quá trình “địa phương hóa” nhằm phù hợp với bối cnhtruyn thống Nho giáo chi phối vương quyền một cách xuyên suốt: Hoàng đề là Thiên tử hơn là một Pht tử. Cho dù đã lúc được xiễn dương mạnh m, thm chí tr thành Quốc giáo, nhưng lẽ Phật giáo chưa bao giờ giữ vị trí độc tôn bởi Nho giáo vn luôn giữ vai trò ch đạo trên phương diện vn hành ca bộ máy nhà nước.
Khi vùng Bố Chính, Lâm Bình (Qung Bình) thuộc về Đại Vit (thế kỷ XI), cũngthời điểm hưng thịnh của Pht giáo Việt Nam dưới thời Lý. Theo đó, không ồ ạt như những giai đoạn về sau, nhưng người Vit từ đất Bắc cũng bắt đầu di đến vùng đất này và mang theo tín ngưỡng ca họ. Pht giáo tri suốt hàng trăm năm tiếp theo, nhất là từ thời k các chúa Nguyn Hoàng từng bước thc hiện ý đồ các c ở xứ Đàng Trong, trở thành “mẫu số tâm linh” chung của những tộc người nguồn gc, xut xứ khác nhau. Không quá khiên cưỡng nếu cho rằng, đây là một trong nhng nhân tố quan trọng để được sự hòa hợp trong cho quá trình cộng cư, xen giữa người ti chngười mới đến.nhiên, với tính cht “biết chúng hội” trên con đường hong pháp của đạo Pht, tùy thuộc vào sinh cnh, sc dân, phong tục, quá trình “địa phương hóa” Phật giáo được tiếp tục thc hiện một cách vi tế ở nhng phm vi hẹp hơn, phù hợp với logic ca bối cnh không gian, thời gian, cộng đồng c


394 Chun Fang Yu (2009), “Từ Avalokitesvara Ðến Quán Thế Âm Bồ Tát”, dẫn theo  https://khanhhoathuynga.wordpress.com, cập nhật ngày 8 tháng 11 năm 2009
395 Về quá trình chuyển hóa này, Tạ Chí Đại Trường (2006) và Chun Fang Yu (2009) đều thống nhất rằng, ở Trung Hoa, Bồ Tát Quán Thế Âm đã được trình bày dưới dạng nam thân. Tuy nhiên bắt đầu từ thời Tống (960-1279) khoảng thế kỷ thứ 11, một số tín đồ đã nhìn Ngài như là một vị nữ thần và hình ảnh về một vị Phật bà Quán Âm đã được các nghệ nhân Trung Hoa sáng tạo. Sự chuyển hoá thành dạng nữ thân của Bồ Tát Quán Thế Âm được xem như hoàn tất dưới thời đại nhà Nguyên (1206-1368). Từ thời đại nhà Minh trở đi, nghĩa là vào khoảng thế kỷ thứ 15, Bồ Tát Quán Thế Âm hoàn toàn xuất hiện dưới dạng nữ thân (Chun Fang Yu (2009), “Từ Avalokitesvara Ðến Quán Thế Âm Bồ Tát”, tlđd; Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần người và đất Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, tr. 181.
 




th. Nhng huyn thoi, cnh quan, hin vtthực hành tín ngưỡng ở các chùa mang tên Quán Âm (huyện Qung Trch, tỉnh Quảng Bình) chính là một trường hợp tiêu biểu cho sự lựa chn lí do, xuất phát từ nhu cu tâm linh của một nhóm dân sinh kể gn liền với bin c.
  1. Chùa Quan Âm trong không gian văn hóa biển
Trong số nhng ngôi cổ tự ở Quảng Bình, hai chùa Quan Âm được xây dựng ở những niên đại khác nhau, nhưng mẫu số chung đều thuộc các làng biển, lần lượt thuộc xã Thanh Trch Bố Trch (Qung Bình). Thực tế, việc thờ PhậtQuan Âm hay những ngôi chùa Quan Âm mặt khắp các vùng đất có sự hiện diện của Phật giáo, thuộc các sinh cảnh khác nhau. Tuy nhiên, những Quan Âm tự thuộc các làng biển người Việt lại mang một nội hàm riêng, mà ở đó, người ta thể nhìn thấy những lớp trầm tích văn hóa xếp chồng lên nhau với những yếu tố ngoại tác và nội sinh đan xen, hòa quyện.
Điểm dễ nhận thấy là các chùa Quan Âm được nhắc đến trên đây đều tọa lạc gần các cửa sông (Lý Hòa, sông Gianh). Đặc biệt, cửa Lý Hòa từ rất sớm được biết đến là một cảng biển (Dã Lý) buôn bán sầm uất từ thời Lý, Trần. Đối với Chùa Quán Âm/Chùa Phật Bà (xã Thanh Trạch, được cho xây dựng vào năm Hồng Đức thứ ba -1473), đặt trong quy chiếu với Chùa Ông (nay chỉ còn tên gọi với các tượng thờ được tập hợp về Chùa Bà), thể thấy đây là cặp thiết chế Chùa Bà - Chùa Ông thường thấy ở những cộng đồng sự hiện diện của người Hoa. Do đó, không loại trừ đây là một ngôi chùa Hoa thương góp công xây dựng bởi với dân đi biển Trung Quc, họ thường kêu cầu Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ tát như một v nữ hi thần khi gp bão tố, hon nạn trên con đường đi xuống phương Nam. Vị Quan Thế Âm Bồ tát này, được cho“Quan Âm của người bình dân” vốn là một “nữ thn gốc, được thờ ở đảo Thú Sơn ngoài khơi tỉnh Triết Giang mà các đền ở đây đều mang danh nghĩa Quan Âm”396. Nói cách khác, Avalokitesvara của đạo Phật, khi gp một n thần địa phương củaTrung Hoa, đã đồng nhất để trở thành một Quan Âm Bồ tát cu khổ cứu nạn dưới dng n thân, bo trợ cho người đi biển. Vị nữ “Bồ tát bình dân” trong dạng hóa thân gần gũi này đã được người Vit tiếp nhn bng tình cm tôn giáo xut phát từ nhu cu được che ch, phù trợ trước sự him nguy ca bin cả, hơn là một Avalokitesvara với biu tượng và triếtsâu xa của Đạo Pht. Khác với vùng Quảng Bình, càng đi xuống phía Nam, chúng ta sẽ còn gặp gỡ hình nh Quan Âm Bồ tát trong hóa thân của vị nữ thn bin mang màu sắc Đạo giáo bình dân của người Hoa - Thiên Hu/Thiên Phi. Sự đồng nht PhtĐạo này đã cho ra thiết chế mang tên “Chùa Bà” - ngôi Chùa Phật nhưng thờ một vị Thánhcủa Đạo giáo. Trong chiều ngược lại, đi lên phía Bắc, tín ngưỡng thờ Quan Âm của người



396 Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần người và đất Việt, tlđd, tr. 181, 182.
 




Việt cũng hưng thịnh dưới triu Mc (thế kỷ XVI), được lý gii xuất phát tnguồn gốc là dân bin ca dòng họ này397. Thm chí còn giả thiết cho rằng đây là họ Mc gốc Phúc Kiến - nơi tục thờ Quan Âm phổ biến398. Trong bối cảnh chung đó, thể thy các ca bin vùng Quảng Bình từ thế kỷ XV là một mảnh đất thu hút sự du nhp ca tục thờ Quan Âm Bồ tát bằng đường bin.
Khác với Chùa Phật Bà (xã Thanh Trạch), Quan Âm tự (xã Đức Trạch) xuất hin muộn hơn, khởi dng vào thời vua Gia Long (thế kỷ XIX), gn với một truyn thuyết liên quan đến ngư nghiệp. Chuyn kể rằng, một ngư dân đánh cá trên biển, một hôm, ông đã kéo lên được một tượng bằng đá, hai hôm sau ông kéo lên được 1 bệ đá và 2 chiếc cối, 2 chiếc chày bằng đá. Cho là điềm lành, nên dân làng đã dựng một lều tranh để thờ phụng. Thực tế, motif phát hiện ngẫu nhiên các tượng thờ và lập miếu chùa để thờ tự dưới các danh xưng mới này khá phổ biến ở miền Trung, và thường liên quan đến các di vật của người Chăm ( thể kể đến trường hợp tượng thờ ở miếu Bà [Chiêm Sơn, Quảng Nam], Bà Đá [Phương Sơn, Quảng Tr], K Thạch phu nhân [Hương Trà, Thừa Thiên Huế], Thai Dương phu nhân [Phú Vang, Thừa Thiên Huế],Giàng [Phong Điền, Tha Thiên Huế]), .v.v. Đáng chú ý là cho dù hin vt dưới dng nào (linga, tympan, b đá…) thì đều được thờ phụng dưới dạng một nữ thần. Điều này cũng lặp lichùa Quan Âm (Đức Trch). Bức tượng dân gian truyn tụng là do người đánh cá vớt được vào đầu triu Nguyễn và định danh là “tượng đá” trên hiện trng là một pho tượng Quan Âm ngồi kiết-già bng gỗ với cốt đá bên trong. Điều đó cho thấy rằng, đây vốn dĩ đây là một tượng đá mà việc tái tạo và định danh “Quan Âm” hoàn toàn xuất phát từ ý muốn ch quan ca cộng đồng. Hẳn nhiên, điều đó phù hợp với “logic của địa phương” - vốn là một cộng đồng hn liền với bin. Ngay c bộ bàn nghin/chày nghin vốn còn chức năng nghiền hương liệu, các loi hạt như vốn của người Chăm, người Việt địa phương đã xem đó là một nghi c gn với năng lực cha bnh ca Quan Âm B tát. Khi cu bình an, cùng với bùa Bình An, họ sẽ ly chày mài nhiều lần vào bàn mài, trong quá trình đó, dội cho nước chy về phía mũi, xong hứng đem về uống như một thứ nước chữa bnh linh thiêng mang màu sắc Đạo giáo. Trong một cách hiểu o đó, thông qua các di vật, đây sự nối tiếp tục thờ Avalokitesvara của người Chăm tiền trú. Đó hẳn nhiên là sự la chn từ các truyn thống khác nhau (Hoa - n), thuộc nhng sc dân khác nhau, ở nhng thời điểm lch sử khác nhau, song cùng gp gỡ ở một nhu cu tâm linh chung trong cảm quan chung trước biển và trong tầng chung ca một tôn giáo: Phật giáo.




397 Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần người và đất Việt, tlđd, tr. 181
398 Trần Quốc Vượng (1983), “Về những nhân tố tự nhiên - số dân - kỹ thuật - ý thức trong văn minh nông nghiệp Việt Nam”, trong Tạp chí Khảo cố học, số 2, tr. 3
















3. Kết luận
Tượng Quan Âm Bồ tát “bì gỗ cốt đá” tại Quan Âm tự (Đức Trạch)

nh: Thọ Quc





T tục thờ Quan Âm của người tiền trú trên đất Quảng Bình thông qua các di vật kho c học và nhng ngôi chùa thờ Quan Âm trong các ngôi làng Việt ở vùng bin Qung Bình, thể thy rằng đây nơi Phật giáo thuộc các truyền thống khác nhau đã bắt rễ một cách sâu xa thông qua đường biển. Là một vùng đất biên viễn, Quảng Bình cũng là nơi thể hin một cáchnét sự gp gỡ ca Pht giáo Ấn ĐộPht giáo Trung Hoa và Phật giáo ca người Vit mang theo từ đất Bắc và c tín ngưỡng dân gian, ở những lớp ct thời gian khác nhau. Trong bối cảnh đó, chúng ta thể nhìn thấy ở hình nh Pht Bà Quan Âm B tát một sự dung hòa, nối kết các truyn thống, các nhu cu tâm linh từ đời sống nhân sinh thường nhật cũng như những chông chênh bởi ln ranh về mt chính trị mà lch s đã thường xuyên lựa chn mảnh đất này.

N.T.T.H

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây