35 - ThS. Đặng Thị Tường Vi - DẤU ẤN KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THẾ KỶ XIX

Thứ hai - 16/12/2019 11:20
DẤU ẤN KIẾN TRÚC PHT GIÁO QUẢNG BÌNH TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THẾ KỶ XIX
 

ThS. Đặng Thị Tường Vi*


vùng đất chịu nhiều biến thiên của lịch sử, tại Quảng Bình, Phật giáo đã mặt từ rất sớm song hành cùng quá trình hình thành phát triển của địa phương. Những di sản Phật giáo được lưu giữ cho tới ngày nàymảnh đất khởi đầu quá trình Nam tiến thế kỷ XVI đã cho thấy tầm quan trọng của Phật giáo đối với Quảng Bình nói riêng Việt Nam nói chung. Dấu ấn Phật giáo của Quảng Bình không chỉ thể hiện thông qua hệ thống chùa làng chùa quan được xây dựng khắp nơi trong tỉnh giai đoạn thế kỷ XVII - XIX còn sự phong phú, đa dạng của hệ thống tượng thờ, các bảo vật, đại hồng chung, các thư tịch cổ với những xuất xứ, chất liệu phong cách nghệ thuật khác nhau. Tất cả đã góp phần làm nên một nét đặc trưng trong đời sống tâm linh của cộng đồng dân Quảng Bình đồng thời thể hiện sức sống bền bỉ của Phật giáo đối với lịch sử vùng đất Quảng Bình.
  1. Về quy tổ chức kiến trúc
Phật giáo Quảng Bình thế kỷ XVII - XIX là dấu ấn đậm nét của Phật giáo Đằng Trong với hệ thống chùa làng trước cách mạng tháng Tám hiện còn phân bố khắp cả địa bàn các làng trong tỉnh, hầu như làng nào cũng có chùa làng; nhưng số chùa làng hiện còn lưu dấu tích chủ yếu ở huyện Bố Trạch, huyện Tuyên Hóa và hệ thống ngôi chùa quan thuộc huyện Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy.
Chùa quan gồm chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc (Mỹ Thủy, Lệ Thủy), chùa Cảnh Tiên (Dinh Mười, Quảng Ninh) được triều đình ban sắc tứ và một số chùa khác mà vì nhiều lý do khác nhau đã bị huỷ hoại chỉ còn truyền khẩu trong dân gian hoặc ghi chép tóm lược ở một số sách, không còn dấu tích nguyên vẹn.
Quy mô chùa quan đồ sộ, mang phong cách kiến trúc cung đình. Hiện nay, trong số hai ngôi chùa quan còn lại dấu tích lịch sử thì chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc được trùng tu khang trang còn chùa Cảnh Tiên chỉ còn lại một nền đất hoang vắng, cây cối mọc um tùm. Trải qua khoảng thời gian dài cùng với sự hủy hoại của thiên nhiên, “Tả Quảng Độ Môn” là dấu tích cổng tam quan còn lại của chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc, là một vòm cổng phía bên trái của ngôi chùa, được xây bằng gạch nhiều loại và kích cỡ khác nhau. Với chiều cao 4,6m, rộng 3,9m, dày 1m, bên ngoài được phủ lớp vôi để tạo các chi tiết văn hoa đồng thời phần trên mái cổng được đắp phù


  • Đại học Huế
 




điêu hình sen hóa dạng rất tinh tế đã cho thấy vẻ uy thế, kiến trúc đồ sộ của ngôi chùa quan có lịch sử lâu đời. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ một loại phù điêu trang trí kiến trúc đắp mặt Lân hóa. Từ đó, có thể thấy rằng, kiến trúc chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc tương tự với tổ chức cấu trúc và trang trí thường thấy trong các công trình kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo ở vùng đất miền Trung và là một biểu tượng đáng tự hào của Phật giáo Quảng Bình.
Chịu sự chi phối của lịch sử, các ngôi quan tự tập trung chủ yếu ở vùng phía Nam Quảng Bình. Trong thế kỷ XVII - XIX, phía Nam sông Gianh là vùng đất nơi chúa Nguyễn gây dựng cơ đồ mới, có sự ổn định nhất định về kinh tế, xã hội; mặt khác, các chúa Nguyễn đã mở rộng cánh cửa với Phật giáo đã tạo điều kiện cho sự phục hồi của Phật giáo Quảng Bình giai đoạn này. Qua thực tế, các chùa quan được thiết lập gần với hành cung của các dinh lỵ Quảng Bình và Lưu Đồn là những sở chỉ huy tiền phương của quân Nguyễn đồng thời cũng là những trung tâm hành chính theo thức quân quản trực thuộc chính quyền các chúa Nguyễn.
Khác với các ngôi quan tự, chùa làng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của tầng lớp cư dân vào lập nghiệp tại vùng đất mới hay trong bối cảnh ác liệt của vùng chiến sự hứng chịu nhiều đau thương, mất mát. Chùa làng được xây dựng bởi sự hưng công của cư dân trong vùng. Trong bối cảnh đó, chùa làng ở Quảng Bình thế kỷ XVII - XIX thường có quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản, mang đậm tính chất dân gian. Bắt đầu từ những ngôi chùa lợp tranh, về sau, để đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân trong vùng, các chùa được trùng tu, sửa chữa với chất liệu chính là gạch và vôi. Mô-típ chủ đạo trong kiến trúc chùa theo hình chữ Đinh, tiền điện hậu tẩm, phần mái được xây dựng theo lối cuốn vòm. Điển hình là chùa Quan Âm (ở Bồ Khê, Thanh Trạch, Bố Trạch), chùa An Quốc (Mai Hóa, Tuyên Hóa). Đa phần các chùa làng ở Quảng Bình kiến trúc của chùa ở đồng bằng Bắc Bộ trừ chùa Thanh Quang (Bố Trạch) và chùa Phổ Minh (Đồng Hới) chịu ảnh hưởng kiến trúc của chùa miền Trung. Mái chùa được thiết kế theo kiểu uốn cong bốn góc và được trang trí bằng những hình ảnh của tứ linh (long, ly, quy, phụng), hoa văn trang trí mang đặc trưng của Phật giáo như: hình hoa sen, hình rồng chầu mặt nguyệt, hình phượng múa, ly vờn… Những hoa văn của kiến trúc chùa Quảng Bình mang phong cách mỹ thuật phù hợp với thiết chế tâm linh Phật giáo. Đây là những thiết chế vật thể hàm chứa tính thiêng mang yếu tố tâm linh tôn giáo nên nó cũng hàm chứa tính chất di sản phi vật thể về phương diện nghệ thuật kiến trúc. Những công trình kiến trúc chùa chiền trên đất Quảng Bình là kết tinh thành quả lao động sáng tạo đáng tự hào của người Quảng 
Bình trong suốt chiều dài lịch sử của mỗi làng quê nói riêng và của cả tỉnh Quảng Bình nói chung.
Chùa được xây dựng thế kỷ XVII - XIX tới nay không còn nhiều, tuy nhiên, hầu hết những ngôi chùa được trùng tu trên nền cũ và giữ lại ít nhiều kiến trúc chùa cổ. Hiện nay dấu tích kiến trúc chùa cổ còn lưu giữ một số hạng mục hiếm hoi như: chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc (Mỹ Thủy, Lệ Thủy) và chùa Quan Âm (ở Bồ Khê, Thanh Trạch, Bố Trạch) là những ngôi chùa còn lưu giữ vòm cổng bên trái với biển hoành là những chữ Hán.
Đa phần chùa được dựng ở gần các khu dân cư như: chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc, chùa Phổ Minh, chùa Linh Quang (Đồng Hới), chùa Thanh Quang, chùa Quan Âm (xã Thanh Trạch, Bố Trạch), chùa Vĩnh Phước (Mai Hóa, Tuyên Hóa), riêng một số chùa như chùa Kim Phong - Thần Đinh (Quảng Ninh) ở vị trí cao (trên núi Thần Đinh); chùa Quan Âm (Đức Trạch, Bố Trạch) nằm ở gần biển.
Chùa Kim Phong – Thần Đinh là ngôi chùa duy nhất ở Quảng Bình tọa lạc trên núi cao, kiến trúc khá kiên cố, đồ sộ. Sau khi tôn tạo hoàn thành năm 1830, chùa Kim Phong - Thần Đinh là một phạm vũ có kiến trúc độc đáo, thu hút sự quan tâm không chỉ thiện tín trong vùng còn được du khách thập phương quan tâm. Một chùa núi dưới chân có bến chùa xây dựng kiên cố 7 bậc, rộng 7,5m, có hai thành vững chắc, có phù điêu long dáng, có tòa miếu thờ Long Vương, chùa Trình dưới chân núi. Trên núi, chùa được xây dựng ba gian, lợp ngói. Nhà tăng xây bên trái 3 gian, miếu thờ Thần Đinh sơn thần 1 tòa, 11 pho tượng, đủ pháp khí và hai trụ biểu xây tròn đỡ búp sen...
Cho dù chùa quan hay chùa làng, mỗi chùa một kiến trúc đặc trưng song hệ thống chùa ở Quảng Bình đều được xây dựng theo kết cấu câu truyền ngôn trong dân gian “đình ngang, chùa dọc”, đa phần là chùa ba gian, kiểu tiền đường hậu tự hay tiền phật hậu tổ. Không gian kiến trúc chùa chủ yếu bao gồm: vườn chùa và nhà chùa. Từ chùa làng đến chùa quan đều có ruộng Tam bảo (ruộng nhà chùa phụng sự Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng) do làng trích lập cho chùa làng và nhà nước phong kiến cắt đất phong cấp cho chùa quan. Riêng chùa Kim Phong - Thần Đinh không thuộc thiết chế chùa quan, cũng không thuộc thiết chế chùa làng nên nhà chùa thông qua công đức, công quả để đặt mua lập ruộng Tam bảo.
Qua khảo sát, vườn chùa là khu vực rộng, nằm ở phía trước hoặc sau nhà chùa. Bước qua cổng tam quan là vườn chùa; cây cối xung quanh xanh tốt, hầu hết các chùa đều đặt tượng Phật cùng với đỉnh hoặc vạc ở phía trước nhà chùa như chùa Quan Âm (Đức Trạch), chùa Quan Âm (Thanh Trạch), chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc (Mỹ 
Thủy). Cũng có chùa tượng Phật được đặt phía bên phải nhà chùa như chùa Thanh Quang (xã Thanh Trạch) để thập phương, thiện tín thắp hương. Cổng chùa hầu hết được cấu tạo cửa tam quan (ba cửa), ghi rõ tên chùa bằng chữ Hán, các trụ đều có những câu đối chữ Hán, trên mái cổng có tạc hình hoa sen, rồng vờn vừa thể hiện sự mạnh mẽ, vừa thể hiện nét tinh tế của kiến trúc Phật giáo. Tam quan của các ngôi chùa ở Quảng Bình có kích thước tương ứng với quy mô ngôi chùa. Tam quan được xây dựng nhằm mục đích phân cách không gian thuộc thế giới tâm linh (cảnh chùa) với không gian đời thường, báo hiệu bước vào cảnh chùa triết lý tu Phật.
Nhà chùa là khu vực trung tâm, nơi có các bàn thờ Phật, lưu giữ các tượng thờ, là nơi hành lễ của Phật tử, là nơi tập trung toàn bộ tinh hoa của nghệ thuật và sáng tạo kiến trúc của con người. Hầu hết các chùa ở Quảng Bình ra đời trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc và nhiều biến động xã hội do sự tranh chấp của các tập đoàn phong kiến trên vùng biên viễn nên kiến trúc chùa rất giản đơn. Cách bày trí hệ thống tượng thờ ở các chùa tại Quảng Bình có sự khác nhau và không theo một phương thức nào. Ví như: chùa Quan Âm (Đức Trạch), chùa Quan Âm (Thanh Trạch) mặc dù diện tích của hai ngôi chùa này không lớn nhưng đều tập trung rất nhiều pho tượng, với nhiều kích cỡ và chất liệu khác nhau.
Tại chùa Quan Âm ở xã Thanh Trạch còn lưu giữ lại kiến trúc ca cổ rất đặc trưng, với kiểu kiến trúc mái vòm, xây dựng hầu hết bằng đá phiến với bề tường dày, được trang trí bằng hoa văn vẽ, vòm chính giữa là chính điện, nơi thờ Phật tổ và chư Phật, được thiết kế cao hơn tạo ra không gian cao rộng, tôn lên sự linh thiêng của bàn thờ Phật. Kiến trúc Phật giáo Quảng Bình thế kỷ XVII – XIX thể hiện nét văn hóa tâm linh của vùng đất mang đầy chất linh thiêng, đáp ứng nhu cầu tâm linh hướng Phật.
Chùa Quan Âm ở xã Đức Trạch được xây dựng theo lối kiến trúc phương Đông, có tiền đường, thượng điện, nhà thờ tổ, có cổng Tam quan, gác chuông và hàng rào xung quanh. Các đường nét kiến trúc, điêu khắc đều mang tính sáng tạo, nghệ thuật tinh xảo, muôn hình muôn vẻ. Chùa được bao quanh bởi vườn hoa, cây trái, tạo nên không gian thoáng đảng, yên tĩnh, là nơi hành hương, đáp ứng nhu cầu tâm linh của dân chúng địa phương.
Chùa Linh Quang ở làng Động Hải (nay là phường Hải Đình, thành phố Đồng Hới) là một ngôi chùa kiến trúc kiểu dọc. Tam quan có ba chữ Hán lớn đề biển “Linh Quang tự”. Vườn chùa khá rộng, hai bên có hàng cây tạo thành tường bao quanh. Tại tiền sảnh của chùa, hệ thống tượng Phật được bày trí hợp lý. Tượng Hộ Pháp trong tư thế quỳ vào trong, thanh gươm gác trên hai cánh tay chắp lại. Hai bên có chuông 
đồng lớn và trống đại. Trong hậu điện, sau lớp cửa bàn khoa bằng lim là khoảng trống khá rộng cho các sư và Phật tử hành lễ. Bậc thờ cao nhất là ba tượng Tam thế, tiếp đến là bậc thờ các tượng Phật khác và PhậtQuan Thế Âm Bồ Tát, tiếp đến là một hương án chạm trỗ uy nghi thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và hai vị Nam Tào và Bắc Đẩu đứng chầu hai bên. Hai bên hành lang thờ Phật là hai dãy thờ “Thập Điện” tức là 10 vị Minh Vương trong kinh Phật và các vị La Hán. Phía sau chính điện là bàn thờ Tổ. Phía trước hậu điện có hai tượng Thiên La (Ông Ác) Địa Thần (Ông Thiện). Sự bày trí hệ thống tượng thờ tại chùa Linh Quang đã cho thấy quy mô kiến trúc của ngôi chùa này trong lịch sử Quảng Bình, đồng thời tạo nên một khung cảnh tĩnh mịch, thanh thoát của chốn Phật tọa.

Chùa Minh Đức tự hay chùa làng Đức Phổ là một quần thể kiến trúc lớn, là chùa Tổ đình sắc tứ gồm ba tòa nhà làm bằng gỗ lim. Ngôi chính điện gồm 5 gian 2 chái rộng 50m2, nhà thiền rộng 30m2. Nhà tăng được cấu trúc theo kiểu 3 gian 2 chái. Chùa Minh Đức được xây dựng theo kiến trúc tiền Phật, hậu Tổ, có các cấu đối, hoành phi tráng lệ, hai bên có lầu chuông, gác trống, phía trước có cổng Tam quan, xung quanh có vườn rộng, hoa cảnh xanh tươi. Chùa gắn liền với lịch sử của 12 dòng họ sáng lập nên làng Đức Phổ trong thế kỷ XVI. Với kiến trúc đồ sộ, ngôi chùa trở thành nơi hoằng dương Phật pháp của các thiền sư bản địa: Đức Ân, Đắc Quang và là hình ảnh sống động của Phật giáo Quảng Bình trong thế kỷ XVII - XIX.
  1. Một số bảo vật tại các chùa ở Quảng Bình.
So với các địa phương khác, Quảng Bình vị trí quan trọng, từng biên viễn phía Bắc của Chăm – pa, nơi địa đầu của quốc gia Đại Việt, là địa bàn chia cắt của chiến tranh phong kiến, nơi từng phải gánh chịu bao cuộc chiến tranh khốc liệt trong lịch sử, do vậy hệ thống chùa chiền, tượng thờ, bảo vật… hầu như bị hư hại. Tuy nhiên, xét trên thực tế, những di sản vô giá của Phật giáo vẫn còn được lưu giữ, đặc biệt là các đại hồng chung và hệ thống tượng thờ đang được bày trí tại các chùa.
Đại hồng chung
Đại hồng chung là một trong những báu vật của nhà chùa, thông qua lạc khoản, bài ký, bài minh trên chuông, có thể biết được niên đại, cân nặng, cung cấp thông tin về các cá nhân, thiện tín hưng công cho việc đúc chuông, đồng thời sự hiện hữu của các đại hồng chung chính là liệu rõ nét cho sự tồn tại lâu đời của các ngôi chùa trên địa bàn Quảng Bình trong thế kỷ XVII – XIX. Hiện nay, trên địa bàn Quảng Bình còn lưu giữ nhiều đại hồng chung được chú đúc trong khoảng thời gian ba thế kỷ XVII – XIX.

- Hoằng Tự linh chung - Đại hồng chung chùa Hoằng Phúc / Kính Thiên: Với lịch sử lâu dài của ngôi quan tự cổ nhất trong lịch sử Phật giáo Quảng Bình nói riêng, lịch sử Quảng Bình nói chung, chùa Kính Thiên – Hoằng Phúc là nơi lưu giữ dấu ấn Phật giáo rõ nét. Trong lịch sử, đã có sự hiện diện của một quả chuông tại chùa Trạm (tên gọi của chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc trong dân gian). Trong tác phẩm “Ô Châu Cận lục” (năm 1555), Dương Văn An viết: “…Chùa đại hồng chung nặng ngàn cân…” (1 ) trong tâm thức người xưa vẫn lưu truyền câu ca dao:
Tạnh trời chuông Trạm ngân xa Ngân vào Hồ Xá ngân qua Truông Hồ.
Đại hồng chung chùa Trạm đã trở thành biểu tượng văn hóa, tâm linh tiêu biểu không chỉ của Quảng Bình mà còn của một vùng dân cư rộng lớn. Dù vậy, trải qua quá trình biến thiên của thời cuộc, tiếng chuông chùa Trạm chỉ còn lại trong tiềm thức. Ngày nay, ngôi chùa này có Đại hồng chung được đúc năm 1839 dưới thời vua Minh Mạng, tới nay còn khá nguyên vẹn. Chuông có tổng chiều cao 110cm (trong đó: thân chuông cao 80cm, bồ lao cao 30cm); đường kính miệng chuông 79cm. Trên thân chuông có đắp các chữ nổi, vành miệng chuông trang trí dải hoa văn liên hóa, khắc bốn chữ Hán “Hoằng Tự linh chung” với bài minh có giá trị lịch sử quan trọng bắt đầu bằng câu “Vô song phúc địa” - trích nguyên văn bốn đại tự do Minh vương Nguyễn Phúc Chu sắc ban chùa Kính Thiên năm 1716. “Bài minh với văn phong cao nhã, tư tưởng uyên thâm, sử dụng nhiều điển tích, điển cố, nhiều thuật ngữ Phật học chuyên sâu, chứng tỏ người chấp bút viết bài minh này phải là người có sở học uyên thâm, đặc biệt là về Phật học” (2). Điều đó, khẳng định, chùa Kính Thiên là một ngôi quan tự linh thiêng, lưu giữ dấu ấn rõ nét của Phật giáo Quảng Bình.
Đại hồng chung chùa Kim Phong - Thần Đinh: Trải qua thời kỳ tàn phá của chiến tranh, sự tàn khốc của thiên nhiên, chùa cổ Kim Phong trên núi Thần Đinh không để lại nhiều dấu tích như những ngôi chùa khác trên địa bàn. Theo Văn bia do Lê Thực soạn năm 1830 khi hoàn công tôn tạo chùa Kim Phong cho biết: Chùa mới trùng tu xong, có nhà buôn ở tấn Nhật Lệ khi nhổ neo thuyền kéo lên qua chuông cổ, trên bia không ghi chữ nghĩa gì, đã dâng lên chùa Kim Phong. Mọi người ai cũng thấy sự linh ứng đến kỳ lạ.. Chuông chùa Thần Đinh hiện còn lưu ở chùa Phổ Minh (Đức Ninh Đông) là một trong số ít những báu vật còn được lưu giữ cho tới ngày nay. Đại hồng chung chùa Kim Phong - Thần Đinh đúc năm Thành Thái cửu niên (1897). Sau một thời gian thất lạc, đã được phát hiện lưu giữ ở chùa Phổ Minh (phường Đức Ninh Đông, thành phố Đồng Hới). Trên thân chuông có khắc bốn chữ Hán “Thần Đinh tự chung” (chuông chùa Thần Đinh). So với các đại hồng chung khác đang hiện 
còn tại Quảng Bình, đại hồng chung Thần Đinh vẫn còn nguyên vẹn và lưu giữ nhiều thông tin quý giá. Chuông có chiều cao tổng thể 99cm (trong đó: thân chuông cao 65cm, bồ lao cao 34cm); đường kính miệng chuông 51cm; đường kính thân trên 41cm. “Có 2 dòng chữ Hán chạm dọc thân chuông. Dòng thứ nhất chạm dọc bên trái chữ Thần là “Thành Thái cửu niên ngũ nguyệt cát nhật chú tạo”. Dịch là: “(Chuông) đúc vào ngày tốt, tháng 5, năm Thành Thái thứ 9 (1897)”. Dòng thứ 2 chạm dọc bên phải chữ Chung là “Bình trọng nhất bách ngũ thập ngũ cân đồng, giá tịnh chú công cộng tiền ngũ bách lục thập tam quán ngũ mạch”. Dịch là: “(Chuông đồng) nặng một trăm năm mươi lăm cân, tiền vật liệu và tiền công đúc là năm trăm sáu mươi ba quan rưỡi”. Chuông không có bài minh và ghi chép công đức hiến cúng” (3). “Nhìn toàn thể, đại hồng chung chùa Kim Phong – Thần Đinh có thể nói là một tác phẩm nghệ thuật với kỹ thuật pha chế, làm khuôn đúc đúc đồng đạt trình độ rất cao” (4) .
Việc đại hồng chung chùa Thần Đinh không có bài minh ghi công đức đóng góp có thể do đây là chuông được đúc từ nguồn kinh phí ban cấp của triều đình khi lập chùa và cũng có thể là một trong những yếu tố tồn nghi Thần Đinh tự là một ngôi quan tự.
Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước: Chùa Vĩnh Phước nằm ở thôn Phúc Tự, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, hình thành cách đây khoảng 500 và được trùng tu vào khoảng thế kỷ XVIII. Nơi đây đang lưu giữ chuông được chú đúc vào ngày 14 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753), “có thể do các thiện tín thập phương đã hưng công góp sức đúc chuông phụng cúng vào nhà chùa” (5). Năm 1767, với lòng mộ đạo của mình, nhân dân trong vùng đã đóng góp tái tạo lại chuông. Chuông tổng chiều cao 114,5cm (trong đó thân chuông cao 90cm, bồ lao cao 24,5cm); đường kính miệng chuông 52cm; đường kính thân trên chuông 33cm. Trải qua nhiều thời kỳ dài chiến tranh tàn phá, bài minh trên chuông chùa bị mài mòn, nhưng ít nhiều vẫn cung cấp thông tin rất giá trị.
Đại hồng chung chùa Lý Hòa (tên gọi khác chùa Vĩnh Phước): Chùa Lý Hòa nằm ở thôn Lý Hòa, Hải Trạch, huyện Bố Trạch. Theo tương truyền, chùa được xây dựng năm 1738. Năm 1802, chùa được trùng tu, tôn tạo khang trang hơn. Năm 1811, đại hồng chung chùa Lý Hòa được chú đúc. Đây là quả chuông do vị Thiền sư tự Đạo Thâm đứng ra làm hội chủ cùng với sự hưng công của hàng trăm thập phương thiện tín. Chuông chùa có chiều cao 144cm (trong đó thân chuông cao 112cm, bồ lao cao 32cm); đường kính miệng chuông 56cm; đường kính thân trên chuông 42cm. Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước - Lý Hòa, trải qua loạn lạc bị thủng từng mảng lớn trên thân chuông, tuy nhiên nội dung bài ký và minh vẫn còn lưu giữ những thông tin 
đáng quý. Bài minh trên thân chuông được viết bằng chữ Hán, ba mặt đề cập tới tên tuổi các quan viên, dân chúng hưng công đúc Đại hồng chung với số lượng 2000 chữ; mặt còn lại khắc bài ký minh với gần 400 chữ, do ông Nguyễn Cảnh Huống giữ chức Lang trung ở Ty Công Trình thuộc Bộ Công, tước Giao Thái nam soạn. Thông qua nội dung bài ký và minh còn lưu lại trên đại hồng chung chùa Lý Hòa, thấy được tấm lòng mộ đạo Phật của nhân dân trong vùng. “…mọi người xuất tiền của gia đình, thiện ý hợp thành; ngày tốt năm Tân Tỵ [1761] nấu đồng để chú đúc một quả đại hồng chung. Kịp đến ngày lành mùa xuân năm Nhâm Ngọ [1762] thì tiến hành khắc tên tuổi của các vị thập phương, làm phước. Việc khắc đã xong, sáng ngời Tượng giáo, chuông đồng vang vọng, một tiếng rền vang mà tuyết tan, lòng trần thanh tịnh, tiếng dùi dóng lại…” (6).

Đại hồng chung chùa Linh Quang tự Động Hải: Chùa Linh Quang tự hay còn gọi là Động Hải tự ở làng Động Hải xưa, nay là phường Hải Đình, thành phố Đồng Hới. Trải qua thời kỳ chiến tranh, dấu tích về chùa hiện nay không còn nữa. Tuy nhiên, đại hồng chung của chùa vẫn còn nguyên vẹn và được lưu giữ tại đình Đồng Hải (phường Hải Thành). Chuông chùa Linh Quang được làm bằng đồng, nặng 70 kg, có khắc 4 chữ “Động Hải tự chung” và các dòng chữ “Mậu Thìn niên Hậu quân trung đồn chính doanh Trung thắng Khâm sai thiết cơ Nhi Hòa hầu Hoàng Văn Trong thất trung Nguyễn Thị Hai tạo mãi thử chung chí Giáp Tuất niên nhị nguyệt thành tâm phụng cúng tại bổn thôn Phật tự. Gia Long thập tam niên (1814) nhuận nhị nguyệt lục nhật” (7). Thông qua bài minh được khắc trên chùa đã cho thấy quả chuông được cúng cho ngôi chùa vào năm 1814.
Tồn tại cùng với thời gian, trên mảnh đất nhiều biến động, bốn đại hồng chung nói trên là minh chứng quan trọng của một thời kỳ Phật giáo Quảng Bình đạt hưng thịnh. Thông qua những quả chuông góp phần lý giải quá trình xây dựng ngôi chùa, đồng thời thể hiện lòng thành của thiện tín, người dân đối với quá trình hưng công chùa cũng như đại hồng chung, lưu giữ những tài liệu quý giá đối với Phật giáo.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây