34 - TS. Võ Vinh Quang - ĐẠI HỒNG CHUNG HIỆN CÒN LƯU GIỮ TRONG CÁC NGÔI CHÙA TẠI BỐ TRẠCH VÀ TUYÊN HÓA

Thứ hai - 16/12/2019 11:17
ĐẠI HỒNG CHUNG HIỆN CÒN LƯU GIỮ
TRONG CÁC NGÔI CHÙA TẠI BỐ TRẠCH VÀ TUYÊN HÓA
 

TS. Võ Vinh Quang*


Đại hồng chung mt trong những pháp khí quan trọng của Phật giáo. Đã từ bao đời, tiếng chuông chùa thanh thoát, vang vng trong mỗi sm hôm giúp thức tnh lòng người, xua tan nim tục lụy đã trở thành thanh âm gần gũi, thân thương lắng sâu trong tâm thức dân tộc Vit.
Trải qua nhiều biến động của thi cuộc, Phật giáo Quảng Bình nói chung và dải đất nằm dọc đôi bờ sông Gianh (phía Bắc Quảng Bình) nói riêng cho đến nay vẫn còn hằn sâu trên mình nhiều “nốt trầm” lặng lẽ. Cũng bởi thế, dường như chúng ta có quá ít thông tin về Phật giáo trên vùng đất này.
Vừa qua, đoàn nghiên cứu của Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán cùng các nhà nghiên cứu thuộc Phân viện Văn hóa Nghệ thut Quốc gia Việt Nam tại Huế đã tiến hành nhiều đợt thực địa điền dã trên một địa bàn khá rộng dọc đôi bờ sông Gianh, bao gồm các huyện B Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa. Qua thâm nhp và tìm hiểu thực tế, chúng tôi đã bước đầu thu thập được một số thông tin, tư liu quan trọng trên nhiều bình diện, trong đó có các quả Đại hồng chung với những thông tin giá tr được lưu lại trên các minh văn của các quả Đại hng chung này.
Trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin cung cấp vài thông tin bản về những qu Đại hồng chung ca các chùa Vĩnh Phước (thôn Phúc Tự, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa), chuông chùa Yên Quốc (thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, huyện Tuyên Hóa), chuông chùa Viên Quang (hiện lưu giữ tại chùa Quan Âm, xã Đức Trạch, huyn Bố Trạch), gii thiệu và lược dch phần nội dung chính yếu minh văn được khc trên chuông chùa Lý Hòa (làng Lý Hòa, xã Hải Trạch, huyện B Trạch).
  1. Vài nét về Đại hồng chung tại các chùa ở phía Bắc tnh Quảng Bình
Trong đợt khảo sát này, chúng tôi gặp được cả thy bốn qu Đại hồng chung. Trong đó, chuông chùa Vĩnh Phước ở thôn Phúc Tự (xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa) được chú đúc sớm nhất, vào năm Cảnh Hưng 14 triều Lê Hiển Tông [1753], được xem là một trong những chuông đồng có niên đại sm nhất Quảng Bình hiện nay. Tiếp đó là chuông chùa Lý Hòa, chú đúc năm Gia Long thứ 10 [1811]; chuông chùa




  • Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
 




Yên Quốc chú đúc năm Khải Định 7 [1922], cuối cùng là chuông chùa Viên Quang, hiện lưu giữ tại chùa Quan Âm (xã Đức Trạch) được đúc năm Kỷ Mão [1939].
S hin diện của những quả Đại hồng chung này (cũng như một s pháp khí, thư tịch Phật giáo) trải suốt 300 năm qua ở vùng Bắc Quảng Bình chứng tỏ Pht giáo xứ s này luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân.
    1. V Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước (thôn Phúc Tự)
Chùa Vĩnh Phước nằm ở thôn Phúc Tự, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Tương truyền, chùa hình thành cách đây khoảng 500 năm và từng được trùng tu vào khoảng thế kỷ XVIII. Cũng có thể sau đợt trùng tu kể trên, các thiện tín thập phương đã hưng công góp sức đúc chuông phụng cúng vào chùa. Sự hin hữu của quả Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước hiện nay chính là tư liệu thực chứng rõ ràng nhất cho sự tồn tại khá lâu đời của ngôi cổ t này. Chuông được chú đúc vào ngày 14 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 14 [1753]. Sau đó, vào tháng tốt năm Đinh Mão [1767], nhân dân trong xã lại tiếp tục đóng góp công đức tái tạo lại chuông chùa389. Chuông có tổng chiều cao 114,5cm (trong đó thân chuông cao 90cm, bồ lao cao 24,5cm [rộng 27,5cm]); đường kính miệng chuông 52cm; đường kính thân chuông [sát bồ lao] 33cm.
Sau nhiều biến thiên, t năm 1995 đến nay, chuông chùa Vĩnh Phước được lưu giữ ti trụ s UBND Văn Hóa. Mặc dù minh văn khắc trên chuông có nhiều chỗ bị bào mòn, song căn cứ vào những dòng chữ còn đọc được, chúng tôi nhận thấy có nhiều thông tin rất giá trị về những thập phương thiện tín hộ trì việc hưng công đúc chuông, trong đó có cả quan viên, binh lính, sắc mục… của các xã, phường thuộc nhiều tổng, huyện như: phường Lộc Điền thượng; phường Lộc Điền hạ; xã Thanh Bào; xã Chân Linh; huyện Thiên Lộc; Lệ Sơn thượng; xã Cảnh Dương; xã Lệ Sơn hạ…
Qua sự liệt kê phương danh của nhân dân các xã phường trong toàn vùng đóng góp công đức để đúc chuông chùa Phúc Tự, chúng tôi cho rằng vào thế kỷ XVIII, ngôi chùa này có v thế khá quan trọng và tầm ảnh hưởng không ch ở Lệ Sơn mà còn tri rộng ở nhiu vùng lân cận xung quanh.
    1. Đại hồng chung chùa Lý Hòa (chùa Vĩnh Phước, thôn Lý Hòa)



389 Chúng tôi suy đoán các thông tin trên căn cứ theo dòng văn chuông ở mặt chữ “PHÚC” () có ghi: “Hoàng thượng vạn vạn niên tuế tại Đinh Mão cốc nguyệt… Đại Việt quốc” (皇 上 萬 萬 年 在 丁 卯 穀 大 越 國…) [tháng tốt năm Đinh Mão [1767] niên hiệu của Hoàng thượng vạn tuế... Nước Đại Việt…].
 




Chùa Lý Hòa còn có tên là chùa Vĩnh Phước390, nằm ở ngôi làng biển Lý Hòa, thuc xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tnh Quảng Bình. Theo dân chúng trong làng truyn tụng, chùa được xây dựng năm Mậu Ngọ, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ tư [1738] thời vua Lê Ý Tông. Đến năm Mậu Tuất [1802] thời vua Gia Long, chùa được trùng tu, tôn tạo khang trang hơn. Hiện nay, chùa hai quả Đại hồng chung, trong đó mt quả chuông cũ (đúc từ năm 1811) và một quả chuông mi (do ông Phan Hải, người làng Hòa sng xa quê tiến cúng vào năm 2012). Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến quả Đại hồng chung được chú đúc vào đầu triu Nguyễn.
Đại hồng chung chùa Lý Hòa (Vĩnh Phước) được chú đúc vào năm Tân Mùi niên hiệu Gia Long [1811]. Đây là quả Đại hồng chung do vị Thiền tự Đạo Thâm, hiu Thanh Tịnh chân nhân đứng ra làm Hội chủ, cùng hợp lực với hàng trăm thập phương thiện tín đóng góp công sức tiền của để chú to.
Chuông có chiều cao tổng thể 144cm (trong đó, thân chuông cao 112cm; bồ lao cao 32cm); đường kính miệng 56cm; đường kính thân trên [sát bồ lao] 42cm. Đây là qu Đại hồng chung quý, tiếc là trải qua thời gian dài (hơn 200 năm), gặp bao chiến
tranh binh lửa, những mảnh đạn tình đã làm thân chuông bị xuyên thủng nhiều chỗ (mng thủng lớn nhất nằm ở phần giữa của hai mặt có khắc ch “TỰ” () và “CHUNG” (). Những mảng thủng này ít nhiều có tác động đến nội dung ca minh
văn khắc trên chuông, khiến văn bản không còn được nguyên vẹn.
Dẫu thế, xét tổng thể chuông chùa Lý Hòa (Vĩnh Phước) vẫn lưu giữ được hầu hết những thông tin quan trọng về nội dung. Minh văn chữ Hán (có một số chữ Nôm) được khắc kín gần như toàn bộ thân chuông, trong đó có ba mặt với hơn 2.000 chữ Hán khắc tên tuổi của quan viên, dân chúng thập phương công đức tín cúng, hộ trì vic chú tạo Đại hồng chung; mặt còn lại khắc bài “ký minh” với gn 400 chữ Hán, do ông Quang tiến Thận lộc đại phu, Công b Công Trình ty Lang trung, tước Giao Thái nam là Nguyễn Cảnh Huống soạn.
Xét thấy đây là một trong những minh văn chuông rất giá trị nên chúng tôi cho dịch toàn văn bài “ký minh” (tại mục II ca bài viết); riêng phương danh của thập





390Ngôi chùa này vốn có hai tên gọi: chùa Hòa hoặc chùa Vĩnh Phước. Căn cứ vào bốn đại tự trên thân chuông ghi “里和寺鍾(chuông chùa Lý Hòa), tức chùa có tên Lý Hòa (tên chùa được gọi theo tên làng); còn nếu căn cứ vào bài “ký minh” được khắc trên quả chuông này lại ghi永福寺鍾(chuông chùa Vĩnh Phước),
tức chùa có tên là Vĩnh Phước. Để tránh nhầm lẫn với ngôi chùa có cùng tên gọi “Vĩnh Phước” ở làng Phúc Tự (xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa), trong bài viết, ngôi chùa Vĩnh Phước thuộc làng Lý Hòa (Bố Trạch) chúng tôi thống nhất gọi là “chùa Lý Hòa” và có mở ngoặc chua thêm (Vĩnh Phước).
 




phương thiện tín vì chiếm số chữ quá lớn (khoảng 2.500 chữ), nên chúng tôi đưa xuống phần chú thích (xin xem chú thích 5 ở cuối bài).
    1. Đại hồng chung chùa Yên Quốc
Chùa Yên Quốc hiện nằm tại thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, huyn Tuyên Hóa, tnh Quảng Bình. Theo bản tư liệu chép tay của ông Cao Đình Đậu, 84 tuổi (người trông hương khói tại chùa hiện nay), được biết thôn Xuân Mai từ đời Trần trở về trước có tên là trang Yên Thế. Đến khoảng đầu thế kỷ XIV, có một người họ Hà ở làng Hoàng Mai (Quỳnh Lưu, Nghệ An) vào đây lập nghiệp, khai canh vùng đất này và đặt tên là thôn Xuân Mai (còn theo Đồng Khánh dư địa chí, dưới đời Đồng Khánh thôn Xuân Mai được gọi là xã Xuân Mai, thuc tổng Thuận Lễ, huyện Minh Chính, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình).
Bản tư liệu chép tay cũng cho biết, vào năm 1533 (có lẽ 1633 thì chính xác hơn)391, Hân Thọ hầu Hà Phúc Chỉnh - cháu nội của vị t khai canh họ Hà đã ra Thanh Hóa thỉnh một vị thiền sư thuộc dòng thiền Trí Bản Đột Không hiệu Chân Quang Đà Lâm (bài vị hiện được thờ tại chùa) vào hướng dẫn đời sống tâm linh cho dân làng. Khi Thiền sư Chân Quang Đà Lâm vào đây có yêu cầu dân làng thực hiện 4 việc, trong đó có việc sửa sang lại ngôi Tam bảo. Điều đó có nghĩa, trước khi Thiền sư Chân Quang Đà Lâm đặt chân đến đây thì chùa Yên Quốc tại thôn Xuân Mai đã có ri.
Chùa Yên Quốc hiện còn lưu giữ mt quả Đại hồng chung, với kích thước và trọng lượng tương đương như quả Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước (làng Phúc Tự, xã Văn Hóa, Tuyên Hóa). Trên thân chuông có khắc các đại tự: “An Quốc tự, Xuân
Mai xã, Khải Định thất niên [1922]” (安國寺春梅社啟定柒年).
    1. Đại hồng chung chùa Viên Quang
Chuông hiện được lưu giữ ti chùa Quan Âm392, xã Đức Trch, huyện B Trạch, tnh Quảng Bình. Chuông có chiều cao tổng thể 77cm (trong đó, thân chuông cao 51cm; bồ lao cao 26cm); đường kính miệng chuông 40cm; đường kính thân trên [sát bồ lao] 25cm. Trên thân chuông có khắc bốn đại tự “VIÊN QUANG TỰ CHUNG”
(圓光寺鍾) ở bốn mặt, cùng dòng lạc khoản ghi “Phật lịch nhị thiên ngũ bách nhị
niên, Kỷ Mão trọng đông, đồng thập phương thiện tín đẳng chú tạo đại hồng chung phụng cúng ( 歷 二 千 五 百 二 年 己 卯 仲 冬仝 十 方 善 信 等 鑄 造 大 洪



391 Tư liệu chép tay ghi năm 1533, nhưng chúng tôi nghĩ rằng năm đó không chính xác, vì trước thế kỷ XVII dòng thiền Trí Bản Đột Không chưa được truyền đến Việt Nam. lẽ 1633 thì đúng hơn.
392 Chùa Quan Âm thuộc xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch, được khởi công xây dựng năm 1843 và khánh thành vào ngày lễ Vu lan năm 1845. Chùa có khuôn viên khá lớn, nằm sát bờ biển Đức Trạch, gần cửa biển Hòa.
 




鍾 奉 ) [Đại hồng chung do thiện nam tín nữ thập phương cùng phối hợp chú đúc, phụng cúng vào tháng 11 năm Kỷ Mão, Phật lịch 2502 [1939].
Chùa Viên Quang tọa lạc ở địa phương nào, có còn hay không hiện không rõ, ch biết rằng đây là quả Đại hồng chung do dân làng mua được và tiến cúng vào chùa Quan Âm nên hiện được lưu giữ tại đây.
  1. Về bài “ký minh” trên Đại hồng chung chùa Lý Hòa (Vĩnh Phước)393


393 Toàn văn phương danh thập phương thiện tín công đức tiền của chú đúc Đại hồng chung chùa Lý Hòa (Vĩnh Phước):
Nguyên văn:
廣 平 鎮 廣 平 府 布 政 縣 河 泊 屬 里 和 村 會 主 全 村 等 永 福 寺 為 造 洪 鍾 記 計 臣 僧 字 道 深 號 清 淨 真 人 勸 集 十 方 諸 人 功 德
: 十 方 信 供 王 世 字 福 盛號 德 妻 金 氏 擇男 子 王 世 科 (社 長) 妻 王 氏 潭王 世 家 妻 艮 氏 𧗱婿 王 登 保 (生 徒社 官) 妻 王 氏 寄 與 顯 考 王 貴 公字 福 號 德 岳妣 王 氏號 慈 彬祖 王 公 字 福 衍妣 馮 氏 號 慈 惠王 丕 建 字 信 善號 紀 仁妣 金 氏 號 慈 心外 祖 金 貴 公 字 福 年號 安 妣 裴 氏 號 慈 寧
: 十 方 信 供 王 富 惠 字 福 春號 德 容妻 艮 氏 敬 號 慈 鳳嫡 孫 王 廷 晏 妻 裴 氏 覃王 氏 玉 婿 阮 光 王 氏 調 婿 裴 廷 鏗外 親 祖 阮 氏 號 慈 寄 與 顯 考 王 貴 公 字 福 號 如 山妻 艮 氏 號 慈 壽祖 王 廷 紳 字 福 進號 純 忠妣 陶 氏 號 慈 恩外 祖 艮 貴 公 字 福 號 德 王 貴 公 字 光 哲號 石 王 氏 號 慈 德
: 十 方 信 供 艮 文 榜 字 福 隆妻 裴 氏 巳 號 慈 男 艮 文 妻 阮 氏 艮 文 達 妻 王 氏 女 子 艮 氏 婿 ( ) 王 公 寄 與 顯 考 艮 貴 公 字 福 期號 仁 勝妣 阮 氏 號 慈 祖 考 艮 貴 公 字 福 道妣 號 慈 德外 顯 考 裴 貴 公 字 福 裔號 德 水妣 艮 氏 號 慈 性艮 貴 公 字 福 德號 純 真妣 艮 氏 號 慈 安外 祖 阮 貴 公 字 福 延妣 艮 氏 號 慈 心艮 文 艮 廷
: 十 方 信 供 裴 廷 長 字 福 來妻 裴 氏 平 號 慈 蘭男 子 (社 吏) 裴 廷 堅 妻 王 氏 碧裴 廷 禮 妻 艮 氏 珍裴 廷 柱 妻 艮 氏 宜裴 廷 忠婿 艮 國 強妻 裴 氏 丹婿 艮 登 壽妻 裴 氏 夭喬 德 寄 與 顯 考 裴 貴 公 字 福 盛號 善 良妣 艮 氏 號 慈 信祖 裴 廷 正 字 福 正妣 喬 氏 號 慈 議外 顯 考 裴 貴 公 字 福 言號 德 澤妣 艮 氏 號 慈 保曾 祖 裴 廷 奎妣 艮 氏 號 慈 延祖 考 喬 貴 公 字 福 原妣 喬 氏 號 美 節喬 貴 公 字 正 幸妣 不 記 號裴 氏 號 春 致 再
: 十 方 信 供 艮 光 直 字 福 增號 德 來 (𠆳 本 甲 知 斯 文)妻 裴 氏 徒 號 慈妻 王 氏 艮 光 宗 (社 長) 妻 艮 氏 弟艮 光 完 (社 長) 妻 艮 氏 弟艮 光 養 妻 艮 氏婿 王 世 家 (社 長) 妻 艮 氏
𧗱 寄 與 顯 考 阮 貴 公 字 福 能 號阮 貴 公 字 福 家號 德 忠妣 金 氏 號 慈 富祖 考 艮 貴 公 字 福 榮號 幸妣 阮 氏 號 慈 良善 心 府 君 姑 美 官 娘 美 春 娘 女 子 娘
: 十 方 信 供 艮 可 知 (阿 丞) 字 福 信妻 王 氏 貌 號 慈 和男 子 艮 登 雲 ( ) 妻 艮 氏 選艮 登 榜 妻 王 氏 論艮 文 艮 登 名艮 登 婿 阮 景 福妻 艮 氏 善 寄 與 顯 考 艮 貴 公 字 福 妣 裴 氏 號 慈 順祖 艮 貴 公 字 福 勝妣 阮 氏 號 慈 廣外 顯 考 王 貴 公 字 福 安號 正
妣 金 氏 號 慈 惠曾 祖 艮 貴 公 字 福 妣 何 氏 號 慈 善
 






: 十 方 信 供 馮 道 字 福 儒 (𠆳 斯 文 社 吏) 妻 王 氏 禮男 子 馮 達 (社 長)女 子 馮 氏 搖婿 阮
萬 世 () 寄 與 顯 考 馮 貴 公 字 福 心妣 王 氏 號 慈 真祖 馮 異 字 福 岩妣 屈 氏 號 慈 美高 祖 馮 染 字 福 妣 江 氏 肆 號 慈 晏艮 氏 號 慈 仁
: 十 方 信 供 艮 登 雲 (社 正) 妻 王 氏 選女 子 牟 氏 忝 (八 貫) 寄 與 外 顯 考 王 貴 公 字 福 幸 號 德 正祖 喬 貴 公 字 福 妣 王 氏 號 慈
: 官 員 阮 景 貺 (工 部 郎 中) 側 室 陶 氏 男 子 阮 景 福 (八 貫)王 相 才 (監 生) 男 子 王 丕 培
(八 貫) 寄 與 正 室 艮 氏王 登 褒 (生 徒 知 社 官) 妻 王 氏 道男 子 王 文 几王 文 紇 (一 貫) 艮 登 朝 (生 徒) 男 子 艮 登 相艮 登 進阮 公 桂 (生 徒) 妻 艮 氏 發妾 艮 氏 𨕭 ()
: 會 老 艮 世 弼 字 福 妻 阮 氏 然 (五 陌)阮 萬 年 字 儒 仙 (五 陌)王 仕 賢 字 福 德男 王 仁 政 () 艮 公 輔 字 福 剛男 子 艮 公 諒 ()艮 壽 字 福 祿妻 裴 氏 農 (五 陌)艮 文 歡 字 福 妻 艮 氏 盆 ( )王 克 遵 字 福 仁 ( )王 文 能 字 福 妻 艮 氏 農艮 仁 俊 字 福 妻 艮 氏 吃 ( )艮 光 正 字 福 妻 王 氏 搖 ( )喬 文妻 阮 氏 義 (五 陌)裴 廷 諍 字 福 妻 艮 氏 詳 (五 陌)裴 仁 厚 字 福 戊 (社 長) 妻 艮 裴 文艮 光 榮 字 福 道妻 艮 氏 述 (五 陌)王 先 政 (社 長) 字 福 興 妻 裴 氏 岳艮 文 儒 字 福 來艮 氏 王 才 職 字 福 正號 德 妻 艮 氏喬 氏 旁艮 光 顯 (祠 丞) 妻 王 氏 乃女 子 艮 氏 艮 氏 本 族 艮 光 太艮 光 政艮 光 金 氏 慢艮 光
: 社 村 長 王 公 擢 (社 吏)妻 艮 氏 勤男 子 王 文 史妻 黃 氏 豪男 子 裴 政 興女 子 裴 氏 潭裴 氏 祿艮 增 王 得 祿裴 廷 實王 得 貴王 登 寧王 世 馮 名 高妻 王 氏 恩王 貴 喬 富 華喬 文 甲 等陶 氏 針裴 廷 梁 妻 王 氏 議王 有 艮 才 識本 村 功 德 裴 仁 孝妻 王 氏 男 子 裴 文 花王 子 王 氏 恉王 克 紹妻 艮 氏 錢艮 登 第 (社 吏)妻 王 氏 王 世 魁 (社 長)妻 王 氏 王 世 平妻 艮 氏 喜艮 登 妻 裴 氏 侵艮 光 宗妻 艮 氏 艮 國 妻 裴 氏艮 仁 道妻 艮 氏 里裴 廷 禮妻 艮 氏 珍王 文 妻 裴 氏 念艮 公 弼王 有 盛妻 阮 氏 金阮 光 妻 王 氏 王 茂 進妻 阮 氏 監艮 名 杏妻 艮 氏 張裴 仁 妻 艮 氏王 廷 妻 艮 氏 逸王 富 妻 王 氏 勤艮 光 太妻 艮 艮 國 富妻 王 氏 唯艮 文 賢妻 阮 氏 順阮 文 行阮 文 妻 王 氏 皮 (五 陌)阮 文 妻 艮 氏 署 (五 陌)艮 登 高信 娓 阮 氏 增號 慈 鸞艮 氏 兵號 慈 茂艮 氏 議 王 氏 門號 慈 阮 氏 庸號 慈 馮 氏 號 慈 庄阮 曰 智 字 法 會號 玄 裴 文 秀 裴 氏 技王 氏 鎊馮 氏 溫男 子 艮 生 財王 富 知 妻 王王 世 盛妻 艮 氏 阮 得 妻 鄧 氏 龍喬 富 強
Lược dịch:
“Bài ký về việc chú đúc đại hồng chung chùa Vĩnh Phước do Hội chủ cùng nhân dân toàn thôn Hòa, thuộc tổng Hà Bạc, huyện Bố Chính, phủ Quảng Bình, Trấn Quảng Bình
Kể: Bề tôi là tăng tự Đạo Thâm, hiệu Thanh Tịnh chân nhân khuyến khích, tập hợp công đức của thập phương tín thí.
- Thập phương tín cúng: Vương Thế Nho tự Phúc Thịnh, hiệu Đức Cường cùng vợ là Kim Thị Trạch, và các con trai Vương Thế Khoa (giữ chức Xã trưởng) cùng vợ là Vương Thị Đàm; Vương Thế Gia cùng vợ Cấn Thị Vệ; Con rể (của ông Vương Thế Nho) Vương Đăng Bảo (sinh đồ, quan viên ở xã) cùng vợ Vương Thị Đạo cúng hồi hướng công đức cho cha (đã mất) là Hiển khảo Vương quý công, tự Phúc Ngoạn hiệu Đức Nhạc, cùng mẹ (đã mất) là bà họ Vương hiệu Từ Bân, ông nội là Vương công, tự Phúc Diễn,nộiPhùng thị, hiệu Từ
 



 
 

Nguyên văn:



里 和 村 永 福 寺 洪 鍾 并 銘 記
 
恭 聞: 道 本 於 心有 心 則 道 同 覺 法 寓明 徵 北 朝 漢 帝 懸 鍾 於 未 矣… [長 樂] 自 我 南 國 貴 賤 而 道 無 貴 賤 世 而 心 無… [廣 平 鎮 廣 平 府] 布 政 縣 河 泊 屬 里 和 村 信 供等 心 發 善 提 力 行 方 便肆 今 否 塢 有 古 那 寺寶 山 壺 括 十 方 勝 概 地 張 羅 帶 全 局 收 萬 里 美 精 魁 立 梵 宮 寂未 聞 法 器因 是 家 貲 發 出 眾 善 集 成以 辛 巳 節 良 時 鎔 就 洪 鍾
壬 午 年 春 天 穀 旦 鐫 刻 作 福 者 名 既 畢 鳩 功 行 象 教 蒲 牢 響 亮 一 敲 而 雪 散 塵 心 華 杵 丁 東 再風 行 美 化 將 見天 厚 平 格佛 度 有 緣 會 主 兼 富 壽 康 一 增信 施 保 福 祥 慶 善 霧 滃 雲 烝 一 團 陶 少 貴 老 全 闔 邑 囿 人 康 物 阜因 勒 為 記 以 壽 其 傳 云銘 曰:
邑 名 里 和 寺 號 永 福



Huệ. Vương Phi Kiến tự Tín Thiện hiệu Kỷ Nhân cùng vợ là Kim thị, hiệu Từ Tâm; Ông ngoại là Kim quý công, tự Phúc Niên hiệu An Tiên, bà ngoại là Bùi thị hiệu Từ Ninh.
  • Thập phương tín cúng: Vương Phú Huệ tự Phúc Xuân, hiệu Đức Dung cùng vợ Cấn Thị Kính, hiệu Từ Phượng; cháu đích tôn Vương Đình Yến cùng vợ Bùi Thị Đàm; Vương Thị Ngọc cùng rể Nguyễn Quang Thịnh; Vương Thị Điều cùng rể Bùi Đình Khanh cùng bà ngoại là Nguyễn Thị Tầng hiệu Từ Loan cúng hồi hướng công đức cho các vong linh thân thuộc quá cố: cha Vương quý công, tự Phúc Điền hiệu Như Sơn mẹ là Cấn thị, hiệu Từ Thọ; ông nội Vương Đình Thân, tự Phúc Tiến hiệu Thuần Trung và bà nội Đào thị, hiệu Từ An; ông ngoại Cấn quý công, tự Phúc Nhạc hiệu Đức Thạch; Vương quý công, tự Quang Triết, hiệu Thạch Nham và bà Vương thị, hiệu Từ Đức.
  • Thập phương tín cúng: Cấn Văn Bảng, tự Phúc Long cùng vợ Bùi Thị Tỵ, hiệu Từ Viên; con trai Cấn Văn Hiềnvợ Nguyễn Thị Thuận; Cấn Văn Đạt cùng vợ Vương Thị Đạm; con gái Cấn Thị Cần, con rể là xã trưởng Vương Công Trạc tiến cúng hồi hướng công đức cho các vong linh thân thuộc quá cố: chaCấn quý công, tự Phúc Kỳ, hiệu Nhân Thắng; mẹ là Nguyễn thị hiệu Từ Niệm; ông nội Cấn quý công, tự Phúc Đạo, bà nội hiệu Từ Đức; cha vợ Bùi quý công, tự Phúc Duệ, hiệu Đức Thủy, mẹ vợ Cấn thị, hiệu Từ Tánh; Cấn quý công, tự Phúc Đức, hiệu Thuần Chân cùng vợ Cấn thị, hiệu Từ An; ông ngoại Nguyễn quý công, tự Phúc Duyên, bà ngoại Cấn thị, hiệu Từ Tâm; Cấn Văn Triều, Cấn Đình Hoa.
  • Thập phương tín cúng: Bùi Đình Trường, tự Phúc Lai cùng vợ Bùi Thị Bình, hiệu Từ Lan; con trai (làm viên lại ở xã) là Bùi Đình Kiên cùng vợ Vương Thị Bích; Bùi Đình Lễ cùng vợ Cấn Thị Trân; Bùi Đình Trụ cùng vợ Cấn Thị Nghi; Bùi Đình Trung cùng rể Cấn Quốc Cường con gái Bùi Thị Đan; rể Cấn Đăng Thọ cùng vợ Bùi Thị Eo, Kiều Đức tiến cúng hồi hướng công đức cho các vong linh thân thuộc quá cố: cha là Bùi quý công, tự Phúc Thịnh hiệu Thiện Lươngmẹ Cấn thị hiệu Từ Tín; ông nội Bùi Đình Chính, tự Phúc Chính, bà nội Kiều thị hiệu Từ Nghị; ông ngoại Bùi quý công, tự Phúc Ngôn hiệu Đức Trạch cùng ngoại Cấn thị hiệu Từ Bảo; ông cố nội Bùi Đình Khuê và bà cố nội Cấn thị, hiệu Từ Duyên; ông nội Kiều quý công, tự Phúc Nguyên và bà nội Kiều thị hiệu Mỹ Tiết; Kiều quý công tự Chính Hạnh cùng vợ (khôngtên, hiệu); Bùi thị hiệu Xuân Trí…”.
(6) Về niên hiệu can chi ở văn chuông, chúng tôi thấyđiều chưa được rõ ràng. Văn chuông viết là năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long thì Dương lịch phải là năm 1811. Nhưng văn chuông lại viết là “Nguyễn triều Gia Long vạn vạn niên chi thập bát” tức năm Gia Long thứ 18 – năm này phải là 1819. Tạm thời, chúng tôi chọn năm 1811 (Tân Mùi).
 




地 融 仙 跡 景 迥 凡 間 奇 峰 矗 矗 秀 嶺 潺 潺 梵 宮 自 有 清 器 尚 慳 羨 諸 善 仕 集 作 福 團 財 相 發 出 鍾 鑄 圓 完 福 滋 河 海 壽 等 岡 巒 老 全 少 貴 物 阜 民 安 億 年 有 永 萬 世 不 刊 銘 于 鍾 鼎
炳 若 青 丹
: 阮 朝 嘉 隆 萬 萬 年 之 十 八 辛 未 銀 花 佳 日
本 村 官 員 光 進 慎 祿 大 夫 工 部 工 程 司 郎 中 交 泰 男 阮 景 貺
Dịch nghĩa:

Bài minh trên chuông chùa Vĩnh Phước, làng Lý Hòa

“Kính nghe: đạo vốn ở lòng người, người tâm tất đạo theo đó mà thông tỏ, chánh pháp nhờ đó [... mà xiển dương], điều y rõ ràng bao quát tt thảy.
Vua nhà Hán của Bắc triều, treo chuông [...]. Từ nước Nam ta, người đời có sang có hèn, nhưng đạo lý thì không h [phân biệt] hèn sang. Ở đời, [kẻ có tâm thì đạo tất ứng], mà tâm thì không [bị ràng buộc bởi thói đời]. Nay, dân chúng ở thôn Hòa, thuộc tổng Hà Bạc, huyện B Chính, phủ Quảng Bình, trấn Quảng Bình cung kính phát thiện tâm, hợp lực thi hành “phương tiện”, bèn với mong muốn có ngôi chùa Phật trên núi báu […] đệ t thập phương rất muốn vùng đất này được rỡ ràng khắp chn, thu về trăm dặm điều tốt đẹp tinh anh. Tuy vững lập Phạm cung nhưng chưa từng được nghe tiếng của pháp khí [vang vọng]. Bèn nhân đó, mọi người xuất tin của gia đình, thiện ý hợp thành; ngày tốt năm Tân Tỵ [1761] nấu đồng để chú đúc một quả đại hồng chung. Kịp đến ngày lành mùa xuân năm Nhâm Ngọ [1762] thì tiến hành khắc tên tuổi của những vị thập phương “làm phước”.
 




Vic khắc đã xong, sáng ngời Tượng giáo, chuông đồng vang vọng, một tiếng rền vang mà tuyết tan, lòng trần thanh tịnh, tiếng dùi dóng gõ lại […] thấy phong khí tốt lành, [đó là nhờ] trời đất sâu dày, Phật độ kẻ có duyên. Hội chủ được thêm phần may mắn vui tươi, Tăng chúng [thêm phần hòa ca đạo nghiệp…]. [Đấy là] phước báu ca thập phương thiện tín, đem lại điềm lành với việc thiện dài lâu; để mọi người cùng hội tụ khắp nơi, bọn già trẻ ở trong ấp, trong làng đều được vui vầy, hưởng thi thái bình phồn thịnh. Nhân đó, [tôi] khắc vào chuông đồng bài ký để truyn lại muôn đời.
Minh rằng:
Ấp danh Lý Hòa
Tự hiệu Vĩnh Phước Địa dung tiên tích; Cảnh huýnh phàm gian Kỳ phong súc súc
lĩnh sàn sàn Phạm cung tự hữu
Thanh khí thượng khan Tiện chư thiện sĩ
Tập tác phúc đoàn Tài tương phát xuất Chung chú viên hoàn Phúc tư hà hải
Thọ đẳng cương loan Lão toàn thiểu quý Vật phụ dân an
Ức niên hữu vĩnh Vạn thế bất khan
Minh vu chung đỉnh Bỉnh nhược thanh đan. (Ấp tên Lý Hòa
Chùa hiu Vĩnh Phước Đất ngi tiên tích Cnh sáng cõi phàm Non k sừng sững Đỉnh đẹp nước tràn 
Phm cung từ có Khí tt miên man Quý bao thiện sĩ Hp sức, phước lan Ca tin cùng xuất
Chuông đúc thành toàn Phước đầy sông biển Thọ vững núi non
Trẻ già mến quý Vật thnh dân an
Ngàn năm trường cửu Vạn kiếp không tàn Khắc vào chuông đỉnh rệt lòng son).
Ngày tốt tháng Ngân hoa (tháng 5) năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long [1811](6). Quan viên của bổn thôn là Nguyễn Cảnh Huống [hàm] Quang tiến Thận Lộc đại phu, giữ chức Lang trung ở Ty Công Trình thuộc B Công, tước Giao Thái nam soạn”.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây