33 - NNC. Phạm Đức Thành Dũng - “TÂN SOẠN TIỂU THỪA SÁM PHÁP PHẬT MÔN CÔNG VĂN” MỘT TƯ LIỆU QUÝ VỪA ĐƯỢC TÌM THẤY TẠI QUẢNG BÌNH

Thứ hai - 16/12/2019 04:22
 
“TÂN SOẠN TIỂU THỪA SÁM PHÁP PHẬT MÔN CÔNG VĂN” MỘT TƯ LIỆU QUÝ VỪA ĐƯỢC TÌM THY TI QUẢNG BÌNH “


NNC. Phạm Đức Thành Dũng*


Trong những chuyến khảo sát Phật giáo ở dọc bờ Nam sông Gianh tnh Quảng Bình từ min xuôi lên miền ngược trong năm 2015, qua những di ch, di vật phát hiện được, chúng tôi ngày càng b cuốn hút, càng nhận chân được vùng đất trải qua bao binh lửa và biến động này đã từng là một trung tâm Phật giáo tầm c của cả nước. Từ tm vóc của các ngôi chùa qua những di ch rất khiêm tốn còn sót lại, từ những pháp khí may mắn còn được người dân lưu giữ, từ s đa dạng độc đáo có giá trị vô vàn ca những pho tượng còn được bảo lưu một s nơi… những dấu tích này, cùng với nhiều chứng cớ tuy không c th lắm, chưa cài được hoàn toàn với nhau, đã đưa chúng tôi miên man trong dòng tâm tưởng, suy luận lập luận về những luận điểm hình thành hết sức t nhiên dựa trên tính lô-gích của các luận chứng qua các cứ liệu thu được tthực tế. Đặc bit nht, ấn tượng nhất đối với chúng tôi là chùa Quan Âm ở Đức Trạch đang như là một bảo tàng đa phong cách về tượng Phật mà theo các nguồn tin cho biết là từ nhiều nơi quy tụ về. Cũng ở đây, chúng tôi được tiếp cận vi một hòm kinh sách còn được bảo tồn qua bao biến loạn của chiến tranh, thiên tai và khí hu quá hà khắc của miền đất này. Nhìn những trang kinh ố vàng, giấy đã bắt đầu mủn nát… những mảnh vụn đã bắt đầu rời ra… trong chúng tôi dâng lên những cảm xúc mạnh mẽ nhiu chiều, và đặc biệt thật ngạc nhiên vì trong hòm kinh sách chun b vô phương cứu vãn ấy, lại hàm chứa những cuốn sách Phật thật lạ lùng được tạo ra bằng nhiều loại công nghệ như khắc in, viết tay, vẽ minh họa…, khiến người ta có thể hình dung một không khí tu tập thật nghiêm trang, những công án hoằng pháp thật công phu của các Tăng nhân và những niềm tin tối thượng đối với đạo pháp của con người nơi đây. Có nhiều điều để nói, để bàn, để phân tích, để bình luận về hòm kinh sách khoảng trên 50 cun này, tất nhiên cần một sự gia công lớn để tìm hiểu nghiên cứu cho rốt ráo. Điều đáng nói nữa là trong điều kiện bảo quản như hiện nay, có thể trong một thời gian ngn nữa chúng ta sẽ vĩnh viễn mất đi một kho tư liệu văn hóa độc đáo mang tính duy nht của kho tàng văn hóa dân tộc.
Phm vi chuyên đề nhỏ này, chúng tôi chỉ giới thiệu một tập sách trong hòm sách ở ngôi chùa nói trên mà ch vừa đọc nhan đề đã khiến mọi người vừa ngạc


  • Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
 




nhiên, vừa hoang mang lạ lẫm: “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn”. Một điều rất đặc biệt na là càng khảo sát các địa phương từ đó lên các huyện miền núi Tuyên Hóa, Minh Hóa li thấy còn nhiều nơi có những cứ liệu, con người, truyền thuyết, tập quán… có nhiều điểm liên quan, khiến có thể suy luận nhiều vấn đề rất thú vị, đặc biệt là con đường truyền thừa của Phật giáo ở đây, cũng như khắc họa mt bức tranh v đời sống tâm linh tín ngưỡng của cư dân miền ngược ngày xưa…
    1. Khảo sát văn bản
Hình thức: Tập sách ch gồm 82 trang, khổ 26,5cm x 16cm. Đọc nội dung kỹ mi thấy sách gồm 2 quyển khá riêng nhưng được gọi là Quyển thượng và Quyển hạ.
Từ trang thứ nhất đến trang 47 tên là “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn - Quyển thượng” [新撰小乘懺法佛門攻文卷上]; từ trang 48 đến trang 82 có tên là “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn - Quyển hạ” [新撰小乘 懺法佛門攻文卷下]. Sách viết tay trên giấy dó, mực xạ truyền thống, nét chữ sắc sảo
theo mt phong cách rt riêng, kiểu chữ khá tương đồng với kiểu chkhá đặc thù mà chúng tôi thường gặp thời Gia Long khi khảo sát “Châu bản triều Nguyễn”. Sách bị hoen ố, nhàu nát, bị mất khá nhiều chữ, song đặc biệt những chữ còn lại gần như đều khá sắc nét.
Nội dung: Bao gồm các bài Sớ, Điệp, Thiếp, Biểu, Dẫn, Phan, Bùa, đặc biệt có cả th Hch.
  • V Sớ: Cũng không khác gì cấu trúc của một bài sớ thường gặp trong sớ điệp công văn của Phật giáo Đại thừa, cũng bao gồm các phần như Phục dĩ, Ngôn niệm, Phc duy, Phụng thượng, Phục nguyện, Ngưỡng phục… Nội dung khá phong phú, gặp các loại như sớ Nghênh Phật, sớ Khai thỉnh, sớ Hiến cúng, s Khai kinh, sớ Hoàn kinh, sớ Khánh tán, sớ Khánh trạch tth thần kỳ an… Ở Quyn hạ, còn gặp các loại Đô sớ, Sám s, Khánh tán tỉnh sớ…
  • Về Thiếp: Thể loại văn cúng này hiện nay không còn phổ biến nữa, trong công văn Đại thừa nghe đâu hãn hữu còn lưu giữ được một số loại như Cấp thủy thiếp, Tịnh trù thiếp. Ở tập sách đang khảo xét, loại hình này lại khá phổ biến và khá phong phú, ngoài hai loại hiếm hoi hiện nay một số nơi ở Huế còn lưu giữ như trên đã nói là Cấp thủy thiếp, Tịnh trù thiếp, sách này còn ghi rõ các loại thiếp rất đặc biệt như An kiểm thừa thiếp, Thụ phan thiếp, Thành hoàng thiếp, Tiền hiền thiếp, Cô hồn thiếp
  • Về Điệp: Thông thường các loại điệp của Đại thừa là viết cho chủ thể là người được cúng nên cùng phong phú và có th ngày càng phát triển nhiều hơn do nhân thân của những người được dâng cúng có những điểm khác nhau mà tùy theo ý người cúng muốn kể l trong điệp. Do vậy, con cúng cho cha, cúng cho mẹ, vợ cúng cho
 




chng, cháu cúng cho ông, trò cúng cho thầy… đều có những điệp cúng riêng; hơn thế, trong mỗi trường hp, những người hay chữ có thể viết riêng cho từng trường hp nếu thấy có những nét quá đặc thù… nên chủng loại điệp vô cùng nhiều. Trong cuốn sách đang xét có vài loại rất chung như Nghênh thỉnh điệp, Biệt nghênh thỉnh điệp…;chỉ chú giản đơn: "Dùng điệp này cho vic cung thỉnh ở các miếu nói chung…".
Đặc biệt, nội dung sách này còn có một bài Hịch (Khai đàn Thiên vương hịch), mt bài Biểu (Thỉnh Phật biu), một bài Dẫn (Thỉnh Pht biểu dẫn):
  • Hch: Loại văn thể này thông thường do người trên nói với người dưới, như trường hp Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương. Ở đây, bản văn tên là Khai đàn Thiên vương hịch, cũng đứng tên một Hội ch và toàn thể xã thôn, thiết đạo tràng để cầu an sám hối… Yếu tố “hịch” ở đây là dẫn một đạo bùa của Phật để cung thnh các vị Thiên vương là Thanh đế tướng quân, Xích đế tướng quân, Bạch đế tướng quân, Hắc đế tướng quân, Hoàng đế tướng quân ở các phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương để bảo hộ đạo tràng.
  • Biểu: Thông thường là loại văn của người dưới dâng lên người trên để chúc tụng nhân ngày vui, như đình thần dâng biểu chúc thọ vua, vua chúc thọ Thái hậu, hoc những bản văn mang tính trần tình của các quan lên vua, như những án văn phổ biến: Tiền xuất sư biểu Hậu xuất sư biểu của Gia Cát Lượng… Trong sách đang xét có bài Thỉnh Phật biểu, về cấu trúc không khác các bài biểu trong công văn Phật giáo, nội dung trừ các phần tất yếu phải có, nêu việc xây dựng tinh xá đạo tràng, trùng tu giàlam phước địa để dâng hương hỏa cho nghiêm khiết đạo tràng. Đặc biệt để cung thỉnh các ngài là: Đạo tràng giáo ch Thíchca Như Lai Mâuni Văn Phật, Tam bo t tôn, Lục độ Btát, rồi các vị là Lahán, Duyên giác, Thanh văn, Hộ pháp, Long thiên, Ngũ thông tiên chúng, Tam nguyên đại đế, Tứ phủ xương quan.
  • Dẫn: có bài Thỉnh Phật biểu dẫn, là một bài dẫn trước khi đọc biểu dâng lên chư Phật.
    1. Gii thiệu mt bn Sớ tương đối đặc trưng
Tuy đây là một loại văn quá đặc thù, không nhiều người lắm quan tâm, nhưng cũng xin dẫn ra một bản sớ (và tạm dịch, xem ở phần chú thích) trong tư liệu trên cho độc gi tin theo dõi d dàng bàn luận thêm những điều gợi m thông qua tư liệu đang bàn. Đó là bản Khai thỉnh sớ, một loại s để cung thỉnh chư Phật và Thánh hiền giáng lâm đàn tế:
“Khai thỉnh sớ
(Thnh Phật lâm đàn đông ta Thánh)
 




Phục
Thiên hoa luyến thể, Cu hữu thim linh thụy chi quang Diu giới triêm ân, bách tính ngưỡng trinh tường chi phước Duy kin duy cách
Tái bái tái trần
Ngưỡng khấu hồng từ cảm tư dịch độc cẩn tấu vị Đại Nam quốc (mỗ) thôn, cung tựu bổn đẳng… trú. Phụng Phật sùng tu sám pháp, thực nhập phước điền. Kim Hội chủ (mỗ) toàn thôn thượng hạ đại tiểu đẳng phủ lịch vi thành, ngưỡng vu Đại giác. Hữu Hi chủ (mỗ) đẳng phục vị pháp giới hữu tình viên khai tân tế.
Ngôn nim
Thức tòng thượng cổ, khải kiến tinh xá đạo tràng, cẩn hiệu đương kim sùng tu già-lam phước địa, dục sùng hương hỏa, nghiêm khiết Phạm đường. Thượng nghênh Tam bảo vạn linh, hạ tư Tứ ân Tam hữu, quân triêm thiện li cộng chứng chân thường, đồng phục lương duyên, hàm mông Phật huệ chứng minh. Do thị (tam, ngũ) niên tải chí bàn bàn phẩm vật cụ trn, vạn phước thu đồng cá cá hoạch triêm huệ nhật chi hoàng hoàng.
Phc duy
Chư Phật chứng minh đổng giám nhất thành thượng đạt, dục sùng khánh tán, tu phục sám công, thiết lập phước chi Tiểu thừa, nhạ trinh tường ư hữu vĩnh.
Kính thực (mỗ) thiên… tiết… nguyệt… lương thần, viên thỉnh Tăng-già cập môn đạo đẳng tựu vu bảo sát, sách dĩ kim nguyệt… nhật… tu thiết an tự, khai quang khánh tán, sám hối kỳ an đạo tràng nhất diên lễ Pht hồng danh doanh chư công đức nhi tán. Bằng tư cự thiện thượng tư Tứ ân Tam hữu, hạ li Lục đạo hữu tình, ngưỡng kỳ hạp cảnh an ninh, thứ dân lạc nghiệp. Kiến văn tùy hỷ, cộng chứng Bồ-đề. Kim tắc kính khải chí thành hạnh mông lâm giáng dĩ hoạch chiêm y cm minh từ quang dung thân kin khẩn. Cẩn cụ s.
Phng thượng
  • Nguy nguy vạn đức Phậtđàda chúng, kim liên toà hạ
  • Hạo hạo Tam thừa Đạtma-da chúng, thanh liên tòa hạ
  • Minh minh Lục thông Tănggià-da chúng, bạch liên tòa hạ
  • Thập địa Tam hiền chư Bồtát chúng, liên tòa hạ
  • Thất thp thất trí Bíchchi-ca chúng, tòa hạ
  • Tứ quả Tứ hướng Ala-hán chúng, tòa hạ
  • Ngũ minh thần thông Hiện ứng Tiên chúng, tòa hạ
  • Bát b uy nghiêm Hộ pháp Long thiên chúng,
 




Cung duy Đại từ chủ minh, tu phụng hữu phục, dĩ cụ lc thần thông vị chúng sinh chi từ phụ, dĩ Tam-muội lực tác khổ hải chi từ hàng. Duy vạn xả ư bổn tâm, tư ch phó ư tố khổn. Từ quang phổ chiếu biến thập phương tố khốn chi trung, pháp vũ quân triêm bổn thiên tâm từ bi chi lực.
Phc nguyện
Quang minh điện thượng huy ngọc tướng thư quang, B-đề trường trung hin kim dung nhi tác chứng.
Sinh sinh thường phùng Phật pháp, Thế thế đạo quả viên thành.
Ngưỡng phục
Như Lai mật thùy từ tế, đản đệ t (mỗ) hạ tình vô dụng kích công bình doanh chi chí. Cn s.
Thiên vận (phong bì thức)… niên… nguyệt… nhật, phụng Phật thiết cúng, Hội ch (mỗ) bách bái thượng s.
(Cn phong)Thập phương Tam bảo, bát vị Thánh (sớ thượng) hiền kim liên tòa hạ. Phng hành pháp giới, Sa môn (m) cẩn phong”387.



387 Dịch nghĩa:
Sớ Khai thỉnh
(Cung thỉnh Phật lâm đàn cùng chư Thánh)
Cúi nghĩ: Thiên hoa rực rỡ, Cửu hữu [chỉ Tam giới Cửu địa mà chúng sanh luân hồi, gồm Tứ thiền và Tứ định là tám, hợp cùng với cõi Dục giới tạo thành Cửu hữu] đủ cấp ánh sáng linh thiêng tốt đẹp; Sa giới thấm ân, bách tính ngưỡng trông phước đức cát tường.
Duy bền chặt quy cách; Lại rõ ràng trần thiết.
Khấu đầu lạy bề trên: Đức từ lớn lao nay nào dám quấy quả, kính cẩn tâu bày nhằm cho thôn… xã… huyện… tỉnh… nước Đại Nam, kính cẩn tề tựu… tôn kính Phật, sùng tu pháp sám hối, trồng cây lành nơi ruộng phước. Nay, Hội chủ là… cùng toàn thể già trẻ lớn trong thôn, phủ phục chân thành trông lên bậc đại giác. Hội chủ và mọi người nói trên đã quy y pháp giới hữu tình, đã thấy ra bến bờ giải thoát.
Kính nghĩ:
Theo cách thức từ cổ, khi bắt đầu xây dựng đạo tràng Phật môn, phải kính cẩn phát huy ngay hiệu lực, lập tức trùng tu phước địa chốn già-lam; muốn tôn sùng hương hỏa, phải tinh khiết nghiêm trang chốn Phật đường.
Trên xin nghênh Tam bảo vạn linh, dưới xin nương nhờ Tứ ân [ân cha mẹ, ân của pháp truyền pháp, ân quốc gia, ân xã hội (đàn việt)], Tam hữu [chỉ ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới], để đều thấm chung lợi lạc, cùng nhau chứng được đạochân thường; cùng gặp được duyên lành, cùng đội ân trí huệ của Đức Phật chứng minh. Do vậy, năm… bày biện phẩm vật đủ đầy, thu cùng vạn phước, nơi nơi đều được ân huệ thấm đầy, kính cúng huệ nhật lớn lao.
Cúi nghĩ:
Chư Phật chứng minh soi xét, một lòng thành kính dâng lên. Muốn tôn vinh xưng tụng tốt lành, cần phải ra sức sám hối, xây dựng pháp Tiểu thừa để tập phước, đón rước điều cát tường mãi mãi.
Kính chọn: … mùa… tiết… tháng… ngày lành, cung thỉnh Tăng-già cùng môn đạo tề tựu nơi bảo tự, xin chọn lấy ngày… tháng… , tổ chức một lễ đạo tràng cho an bình bảo tự, tụng mừng khai sáng, sám hối cầu an, đảnh lễ hồng danh Đức Phật, mưu cầu công đức mà tụng niệm. Dựa vào những việc thiện lớn nay làm, trên nương nhờ tứ ân tam hữu, dưới lợi lạc cho cả lục đạo hữu tình, ngưỡng lên cầu cảnh giới an ninh, để dân lành lạc nghiệp, kiến văn tùy hỷ cùng chứng được Bồ-đề.
 



 
    1. Một s nhn xét
Từ vic khảo sát toàn bộ nội dung sách, cũng như đơn cử một lòng sớ như trên, chúng tôi có một s nhận xét như sau:
[1] Sách được biên soạn rất công phu, văn chương chữ nghĩa đắt đỏ chun mực, th hin sở học của người biên soạn hết sức thâm uyên. Đặc biệt đôi chỗ nghe như những bản văn mang tính giáo hóa hành chính: “Để nước nhà được giáo hóa, Nam giao, Xã tắc trường tồn, đạo của vua được lớn lao trường cửu, tc phải xây dựng
Thành Hoàng để bảo v bình yên sung túc cho dân ta” ( 封 郊 社 長 帝 道 以 綿
洪 即 建 城 隍 保 黎 民 之 富 庶); hoặc như mở đầu Quyển hạ ghi niên hiệu: “Đại Nam quc Thánh hoàng diên thành vạn vạn niên” (大 南 國 聖 皇 延 成 萬 萬 年), làm người đọc có thể nhận định bản văn là do một vị Tăng nhân nhưng trước khi xuất gia đã là một quan chức hàn lâm của triều đình viết nên.
[2] Một số điểm khá chung trong toàn b các bản văn khác vi các loại s điệp công văn của Phật giáo Đại thừa lưu hành từ xưa đến nay:
  • Hầu như không có bản văn nào cúng tại gia cư, tất thảy đều do Hội chủ và toàn th già trẻ lớn bé trong thôn đứng ra cúng Phật tại một đạo tràng.





Nay giãi bày với lòng chí thành, kính mong được Ngài giáng lâm, để được nương nhờ, dựa ánh từ quang, khẩn khoản! Kính cẩn dâng sớ lên:
    • Nguy nguy vạn đức Phật-đà-da chúng, ở trên tòa sen vàng.
    • Hạo hạo tam thừa Đạt-ma-da chúng, ở trên tòa sen xanh.
    • Minh minh lục thông Tăng-già-da chúng, ở trên tòa sen trắng.
    • Thập địa tam hiền chư Bồ-tát chúng, ở trên tòa sen.
    • Thất thập thất trí Bích-chi ca chúng, ở trên tòa.
    • Tứ quả tứ hướng A-la-hán chúng, ở trên tòa.
    • Ngũ minh thần thông Hiện ứng Tiên chúng, ở trên tòa.
    • Bát bộ uy nghiêm Hộ pháp long thiên chúng, ở trên tòa.
Cung kính lòng đại từ sáng thông, kính cẩn chư vị lấy cụ lục thần thông làm cha hiền cho chúng sanh, đem lực tam muội làm thuyền từ qua bể khổ. Chỉ khi xả bỏ mọi điều trong tâm khảm, thì ánh sáng của đạo mới rọi thấu lòng trong.
Ánh sáng từ quang chiếu khắp trong mười phương thế giới, Dòng mưa pháp tưới đều bằng lực từ bi của thiên tâm.
Nép mình mong nguyện: Trên điện Quang Minh rực rỡ ánh sáng đẹp của ngọc tướng [tướng cao quý như ngọc, ẩn dụ cho tướng quý của đức Phật]; trong đạo tràng Bồ-đề hiển lộ kim dung [dung mạo sáng đẹp như vàng, cũng ẩn dụ cho dung mạo đức Phật] để chứng ngộ chúng sanh; để muôn loài đều thường gặp được Phật pháp, đời đời đạo quả viên thành.
Nép mình trông lên:
Đạo của Như Lai bao phủ khắp bến bờ giác ngộ, nhưng bọn đệ tử chúng con… tình thường thấp kém, không đủ làm nên những chở che, nên kính cẩn dâng sớ.
Thiên vận (kiểu thức ở phong bì), năm… tháng… ngày…, kính Phật thiết cúng, Hội chủ (nào đó) trăm lạy dâng sớ lên. (Kính cẩn) Thập phương Tam bảo Bát vị Thánh hiềntrên tòa sen vàng. Phụng hành pháp sự, Sa-môn (tên tuổi) kính cẩn phong kín”.
 



 
  • Người đứng cúng thường dùng thuật ngữ “bỉnh giáo thừa hành”, “phụng Như Lai Thíchca di giáo”
  • Tất cả các bản văn, dù mục đích cúng là gì thì trước hết cũng phải sám hối cầu an trước đã.
  • Đa phần những thuật ngữ thường gặp trong các bản văn thường mang ý nghĩa sùng tu pháp sám hối, gieo niềm tin nơi ruộng phước (phụng Phật sùng tu sám pháp,
thực tín phước điền 奉 佛 崇 修 懺 法, 植 信 福 田); hoặc xây dng nên pháp sám
hi cho Tiểu thừa, để cúng dường, trên là báo T ân, dưới nương cậy Tam hữu (Tu thiết Tiểu thừa sám pháp, thiểu biện cung dưỡng, thượng báo Tứ ân, hạ tư Tam hữu [
修 設 小 乘 懺 , 少 辨 供 養, 上 報 四 恩, 下 資 三 有]…
[3] Một số hồng danh bị ép khiên cưỡng vào hệ thng thuật ngữ Tiểu thừa, cố nói khác đi công văn Đại thừa nhưng thực chất không khác gì; như thay vì niệm “Nam-mô thập phương thường trú Tam bảo nhất thiết chư Phật, tôn Pháp, Hiền thánh Tăng tác đại chứng minh”, thì ở đây lại thay ba ngôi Tam bảo bằng các thuật ngữ Pht-đà-da chúng, Đạt-ma-da chúng, Tăng-già-da chúng… Đồng thời, rất nhiều danh hiu tụng niệm chỉ có trong công văn của Phật giáo Đại thừa mà thôi, như Thập địa Tam hiền chư Bồ-tát chúng, Tứ quả Tứ hướng A-la-hán chúng…
[4] Nhiều thuật ngữ ảnh hưởng nhiều của Đạo giáo, đặc biệt là chức danh của các bậc Đế quân, Tinh quân…
[5] Trong bài "Tiền hiền thiếp" của sách li xut hin kinh Bát-nhã, bản kinh cốt ty của Phật giáo Đại thừa.
Từ những nhận xét như vậy, yếu tố “Tiểu thừa” nằm ở đâu trong sách này, thật khó biện luận. Tất nhiên, để làm rõ điều này, có lẽ chúng ta nên đặt lại vấn đề: phải hiểu “Tiểu thừa” với nghĩa như thế nào? Có lẽ nên bàn thêm một s ý về các thuật ngữ, và chúng ta đang xét trên quan điểm nào về cách gi tên.
Theo chúng tôi biết, xưa nay các vị cao tăng khi nghe bàn thảo về vấn đề này, đều cùng một ý rằng, Phật giáo chủ trương vô phân biệt, nên Nguyên thủy, Tiểu thừa, Đại thừa đều là con đường để đi đến bến bờ giác ngộ, giải thoát, tự độ, độ tha, chỉ nên tp trung tu tập, đừng vướng mc vào những kiến giải không đáng388.


388 Thế nhưng, để kiến giải về mặt hình thức, chúng tôi cũng xin lựa chọn một cách hiểu thông thường nhất, cụ thể ở đây là "Đại từ điển Phật Quang":
Tiểu thừa Hina-yàna, còn gọi là Thanh văn thừa, một trong Nhị thừa, đối xưng với Đại thừa, Bồ-tát thừa. Ý là cỗ xe nhỏ hẹp; chỉ căn cơ vận chuyển nhỏ bé để đạt đến giáo lý tiểu quả; tức giáo, lý, hành, quả sở tu và căn cơ có thể tu đều là pháp môn nhỏ hẹp. Tên gọi Tiểu thừa vốn là cách gọi hàm ý coi thường của những người theo Đại thừa Phật giáo đối với Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Bộ phái. Về sau giới nghiên cứu cứ vin đó mà dùng, đồng thời không mang ý xem nhẹ. Ý nghĩa chính của Tiểu thừa là lấy tự cầu giải thoát làm mục tiêu, cho nên là đạo của Thanh văn, Duyên giác tự điều tự độ (tức diệt trừ phiền não, chứng quả khai ngộ),
 




Từ mt số phân biệt trên sơ sở của cái hiểu thông thường của thc tế và từ điển học, khảo sát kỹ cuốn sách đang xét, chúng tôi lại có cảm giác hoang mang vì yếu tố “Tiểu thừa” ở nội dung sách quá mờ nhạt, nhiều chỗ li thấy gần như vô lý, từ đó lại hình thành trong chúng tôi vấn đề ti sao lại xuất hiện một cuốn sách với nội dung kỳ bí như vậy? Với một cách biên soạn công phu tri thức uyên bác như vậy, cuốn sách phải phục v cho một mục đích hết sức cao cả, cụ th ở đây là đời sống tâm linh của một cộng đồng dân cư lớn, không thể chỉ là một loại thư tịch được biên son không có cơ sở khoa học.
Từ vấn đề đặt ra như vậy, chúng tôi không hy vọng có thể gii quyết ngay được, song như hội tụ duyên lành, trong quá trình khảo sát ven bờ Nam sông Gianh trong những chuyến đi ngắn ngủi, lại bỗng có những điều trùng khớp khiến chúng tôi đặt ra được như giả định hết sc hp lý.
    1. Nhận định v xuất xứ ca cuốn sách
Từ khảo sát hình thức và nội dung của tập tư liệu tiếp cận được, cùng nghiên cứu lch sử truyn thừa của nhiều dòng thiền Phật giáo, cũng như nhân thân một số nhân vật lch sử xuất hiện ở tư liệu sách v tư liệu lưu giữ trong dân qua kết quả điền dã trên một số địa danh vùng núi của b Nam sông Gianh, chúng tôi xin trình bày một số cứ liu cần lưu ý để bin giải cho thời gian và không gian xuất hiện của cuốn sách, đồng thời qua đó để bin giải cho nguồn gốc ý nghĩa, cũng như nguyên nhân xuất hiện cuốn sách này:
  • Th nhất: Phong cách chữ viết của cuốn sách gần như hoàn toàn tương đồng vi phong cách chữ viết trong công văn của cuối thời vua Gia Long mà chúng tôi đã từng khảo sát ở “Châu bản triều Nguyễn”. Tuy đây chỉ là nhận định chủ quan, chỉ mang tính gợi ý, song có thể bổ sung thêm mt số dữ liu có thể hướng đến thời điểm
xuất hiện: Quốc hiệu s dụng trong toàn b văn cúng ở sách là “Đại Nam quốc” [
南國], và với quốc hiệu này, khiến ta suy đoán mốc thời gian phải từ thi Minh Mạng tr về sau. Nhưng bên cạnh đó, những chữ húy quan trọng thi vua Thiệu Trị và Tự Đức không thấy kiêng kỵ gì trong văn bản này (như chữ Tông [], Hoa [], Thì [



khác với đạo của Bồ-tát kiêm cả hai: Tự lợi và lợi tha của Đại thừa. Đại thừa Maha- yàna còn gọi là Thượng diễn, Thượng thừa, Thắng thừa, Đệ nhất thừa; ngụ ý là giáo pháp thể mang chúng sanh từ bờ phiền não sang bến giác ngộ…
Thật ra, Đại thừa, Tiểu thừa liên quan đến thời kỳ sau khi Đức Phật Thích-ca đã nhập diệt, khi Phật giáo hưng khởi, do sự đối lập của Đại thừa và Tiểu thừa mới hình thành hai danh từ đó…
Tiểu thừa tôn vinh Phật Thích-ca là giáo chủ, trong khi Đại thừa đề xướng vô số Phật trong tam thế, thập phương. Tiểu thừa chỉ phủ định tính thực tại của nhân ngã, Đại thừa lại phủ định tính thực tại của pháp ngã…
 




] …). Tất nhiên, một văn bản ngoài dân gian có thể không cần kiêng kỵ, song qua văn phong người biên soạn, đặc biệt trong bản “Phó ý” của Quyển hạ, văn phong của người viết mang phong cách của một nho sĩ triều đình từng soạn thảo (hoặc đã đọc quá nhiều) những công văn, chiếu, biểu… của triều đình (như phần trên đã trích dẫn). Qua đó, chúng tôi dự đoán ban đầu, sách được biên soạn dưới thi vua Minh Mạng.
  • Thứ hai: Trong bản “Phó ý” vào sách của Quyển hạ, người biên soạn ghi niên hiu mang tính tán tụng cường điệu là “Đại Nam quốc Thánh hoàng vạn vạn niên” [
大南國聖皇萬萬年], chính dòng niên hiệu này khơi gợi hai điều: một là, người biên
son có nhiều khả năng là một văn quan của triều đình sau đó mới xuất gia đầu Phật; hai là niên hiệu như vậy khiến người ta thể khu trú lại sự phiếm ch cường điệu kia nhm vào vua Minh Mạng, vì trong triều Nguyễn, thuật ngữ “Thánh hoàng” thường dùng cho vua Minh Mạng với ý tôn vinh, nên sau khi vua băng hà, triều đình cũng dâng miếu hiệu là Thánh tổ.
  • Thứ ba: Cuối bài “Thụ phan thiếp” trong liệu, ở cuối trang 24, chỗ tên của vị Samôn “bỉnh giáo phụng hành” thông thường để trng, riêng ở bài này ghi chú thêm vào (nét chữ khác, mực khác) để lưu tâm cho người thừa lệnh viết vào thiếp để đi cúng, là một vị Tăng thuộc Dugià bộ, pháp danh Thông Tánh. T mt cứ liu nhỏ này, lại m ra cho chúng tôi một đường hướng tích cực để giải quyết vấn đề nêu ở trên.
Tra cứu pháp danh ch “Thông” của vị sư ở các dòng truyền thừa Phật giáo, chúng tôi phát hiện được chữ này nằm trong bài kệ truyn thừa ca Thiền phái Trí Bản Đột Không, một phái Lâm Tế do Thiền Viên Văn Chuyết Chuyết truyền qua Đàng Trong của Đại Việt khoảng đầu thế k XVII. Đến năm 1633, Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết ra Thăng Long lưu lại ở chùa Khán Sơn hoằng pháp; sau đó về chùa Phật Tích ở Tiên Du (Bắc Ninh); cuối cùng ngài về tr trì ở chùa Ninh Phúc (chùa Bút Tháp) và viên tịch ở đó năm 1644.
Thiền sư Chuyết Chuyết có 2 đệ t lỗi lạc là Thiền sư Minh Hành người Trung Hoa và Thiền sư Minh Lương người Việt. Thiền sư Minh Lương có thời gian hoằng đạo ở Thanh Hóa đã đào tạo được nhiều đệ txuất sắc, được các tông đồ tôn xưng một vị t chân truyền của Thiền sư Chuyết Chuyết.
Dòng Trí Bản Đột Không (hệ của Thiền sư Minh Lương) được truyền thừa theo bài k 12 câu, xin dn một số câu như sau:
Trí Tu Thanh Tnh Đạo Đức Viên Minh Chân Như Tính Hải 
Tch Chiếu Phổ Thông Tâm Nguyên Quảng Tc Bổn Giác Xương Long…
Từ bài kệ này, có thể thy vị sư Thông Tánh xuất hiện trong bản tư liệu là đệ t đời thứ 10 của Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết. Bên cạnh đó, trên tấm bia chùa Bảo Quang (chùa Bụt Mọc) tnh Bắc Ninh, dựng thời Lê Cảnh Hưng năm thứ 24 [1763] được lưu thác bản tại viện Hán Nôm, ký hiệu 22161, có ghi rõ những pháp danh của dòng Trí Bản Đột Không xuất hiện cho đến thời điểm dựng bia: “Chuyết Chuyết truyền thụ cho Minh Lương, Minh Lương truyền thụ cho Chân Nguyên, Chân Nguyên truyền th cho… Chiếu Nhượng, Chiếu Hải… Tịch Quảng, Tch Hải…”.
Từ bài kệ và tấm bia năm 1763 lại xác định thêm một lần nữa về thời điểm xuất hiện của cuốn sách. Ni dung tấm bia đã nhắc đến những pháp danh chữ Tịch, chữ Chiếu, mà pháp danh chữ Thông lại sau chữ Chiếu 2 đời, nên th sau thời điểm 1763 khoảng năm bảy chục năm là hợp lý. Từ đây, kết hợp với những điểm mang tính gi ý ở mc Thứ nhất Thứ hai trong phần này, có lẽ cũng khá đủ cứ liệu để nhận định cuốn sách được biên soạn dưới thời Minh Mạng, và hẳn được sử dụng rộng rãi nhiều đời vua sau đó. Tất nhiên, đến đây tuy đã yên tâm về kết luận, song kết quả trên cũng chưa hẳn là kết quả duy nhất như đáp số của một bài toán, vì có th có sự nhầm lẫn trong cách đặt tên, hay có thể chăng một dòng nào đó có pháp danh chữ Thông mà ta chưa khảo cứu được? Hoặc giả, một pháp danh ch Thông được đặt một cách bột phát khi mà những dòng thiền đã trở nên suy vi? Những điều này, kết quả điền dã như một duyên may dẫn dắt chúng tôi đến những địa chỉ đặc biệt, khiến có th xâu chuỗi thêm những cứ liu thực tế có thể có thêm chứng cứ bổ sung cho nhận định về thi gian xuất hiện của cuốn sách, cũng như biện luận về không gian xuất hiện và tn tại của nó. Ta lại thêm:
  • Th tư: Đúng là một duyên lành, chúng tôi tìm đến chùa An Quc ở thôn Xuân Mai thuộc huyện Tuyên Hóa và được tiếp xúc với ông Cao Đình Đậu năm nay 84 tuổi, là người lưu giữ mi dữ liệu liên quan đến lch sử của thôn làng và của ngôi chùa An Quốc. Ông Đậu cho biết, thôn Xuân Mai được tạo dựng vào đầu thế kỷ XIV, do một sĩ phu họ Hà ở thôn Hoàng Mai thuc Quỳnh Lưu Ngh An vào thành lập; vị này có một người con được triều đình phong đến tước Hầu; và đến đời cháu nội của vị khai canh họ này cũng được tập tước Hầu là ông Hân Th hầu Hà Phúc Chnh rất mộ đạo Phật, năm 1533 đã thân hành ra Thanh Hóa thỉnh được một vị Tăng pháp hiệu là Chân Quang Đà Lâm (chữ Chân sau chữ Viên 2 đời xin xem bài kệ) về trú ở chùa An Quốc để lo nghi lễ Pht giáo cho dân làng.

Những thông tin nhận được từ ghi chép của ông Đậu có đôi chỗ chúng tôi còn nghi vấn, ch chưa hợp lý về mt thời gian. Thứ nhất, năm 1533 thì Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết chưa sang Đại Việt nên không thể có những đệ tpháp danh chữ "Chân" truyền đạo ở Thanh Hóa; thứ hai, vị h Hà thành lập làng đầu thế kỷ XIV mà đến năm 1533 (hơn 200 năm sau) có vị cháu nội đi thỉnh sư ở Thanh Hóa thì cũng không hp lý. Thế nhưng, điều khiến chúng tôi thấy trùng hợp khiến tính hệ thng ca vấn đề đang suy ngẫm càng trở nên chặt chẽ, đó là có một vị pháp danh chữ "Chân" từ Thanh Hóa vào chùa An Quốc hoằng pháp, điều đó khớp vi hành trạng ca Thiền sư Minh Lương đã có thời gian hoằng pháp ở Thanh Hóa, và căn cứ bài kệ truyn thừa pháp danh, Thiền sư Chân Quang Đà Lâm rất có thể là đệ tcủa Thiền sư Minh Lương.
Đến đây, cộng thêm việc đọc các bài vị th các thiền sư ở chùa An Quốc phát hin sự truyn thừa chính xác theo đúng bài kệ vừa dẫn ở trên, không chỉ đến chữ Thông mà đã đến tận chữ Quảng (trong câu Tâm Nguyên Quảng Tục), chúng tôi càng yên tâm về nhận định dòng thiền Trí Bản Đột Không từ chữ Chân đến chữ Quảng (10 đời, có thể hơn thế nữa) đã xuất hiện ở Quảng Bình từ Tuyên Hóa xuống đến Bố Trạch, và cuốn sách đang khảo cứu kia chính sn phẩm độc đáo của dòng thiền này (nhánh của Thiền sư Chân Quang Đà Lâm ở Quảng Bình) dùng để hoằng pháp ở những địa phương này.
Thêm một dữ liu nữa càng làm vững vàng thêm giả định cuốn sách chắc hẳn là mt cẩm nang hoằng pháp của các thiền sư chùa An Quốc: Chúng tôi có thêm một cứ liu từ ông Cao Đình Đậu cung cấp: một bản viết tay ghi rõ những văn cúng còn lại ở chùa An Quốc, đặc biệt là "Nghi cúng Thiền sư" và "Nghi cúng Tiền hiền", có rất nhiu hồng danh chư Phật được tụng trong nghi thức hoàn toàn trùng hợp vi những hồng danh chư Phật ghi rõ trong cuốn sách đang bàn.
    1. Bàn thêm qua những thu thập điền
Vấn đề rất quan trọng còn lại: Tại sao các thiền sư của dòng thiền Trí Bản Đột Không lại soạn một cuốn sách có tên “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Pht môn công văn”? Tại sao xuất hiện thuật ngữ Tiu thừa ở đây? Tại sao lại phải soạn sách này? Soạn sách để dùng cho tầng lớp nào, địa phương nào?...
Quá trình điền dã ở 2 huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa thuộc Quảng Bình, chúng tôi còn có thêm một s cứ liu thực tế khiến có th bàn thêm về những giả định rất thú v.
 
  • Ở người Khùa huyện Minh Hóa và người Khùa ở bên kia biên giới Lào xưa nay vẫn bang giao rất mật thiết, từ xưa đến sau năm 1975, vẫn có người từ Vit sang Lào học Phật, về li Việt mở chùa, dựng lp dạy dỗ về nhân văn, về Phật…
  • Người Khùa còn đem từ Lào về những cuốn sách làm bằng lá thốtnốt khắc kinh Phật bằng tiếng Pali Thái, hoặc Pali Lào… mà chúng tôi đã tiếp cận được.
  • Đa phần các dân tộc ở vùng núi Quảng Bình không thờ Pht ở trong nhà, chỉ thmt số nơi quy định cho toàn thôn bản; cúng Phật cũng cúng chung cả cộng đồng của họ.
  • Mt số dân tộc rất sùng Phật nhưng luôn luôn để Pht ở trên ông Pụt của họ, và cả quyết rằng ông Pt là của h chứ hoàn toàn không phải là ông Phật; họ còn có nhiều bài s cúng có những thuật ngữ như trong cuốn sách đang khảo, đặc biệt thường có câu “Tuân phụng Thíchca Như Lai di giáo”, và họ cho rằng họ chỉ tuân theo li dạy của Phật Thíchca, còn cúng cho Pụt của h riêng của họ.
  • Đầu thế kỷ XIV mi lập làng Xuân Mai, hẳn đây một ngôi làng thuộc vào loi sớm của người Việt ở Tuyên Hóa, vì ở đây chưa có Phật giáo Đại thừa truyền bá. Điều đó cho thấy thời gian ấy đa phần những vùng đất vừa khảo sát chủ yếu là các tộc người thiểu s định cư.
Cng thêm một s thu thập ở thực tế như vậy, cũng như phần trên chúng tôi đã nhận xét nội dung tư liệu này hầu như không liên quan gì đến từ “Tiểu thừa” với nội hàm thường gặp, chúng tôi có những nhận định gần như thống nhất vi nhau:
+ Khi nhân sĩ họ Hà lp nên làng Xuân Mai, hẳn đây là một ngôi làng hiếm hoi bấy giờ của người Kinh ở vùng này. Trải đến đời cháu, ông Hà Phúc Chỉnh là người có tri thức uyên thâm, hẳn đã thấy được cư dân miền núi phía Tây này thiếu một nghi l Pht giáo bài bản, nên mới đi tận Thanh Hóa để thỉnh cho được cao Tăng dòng thin Trí Bản Đột Không, cụ th là Thiền sư Chân Quang Đà Lâm về hoằng pháp ở chùa An Quốc ở thôn Xuân Mai. Điều đó cũng nói lên vùng núi Quảng Bình bấy giờ chưa hề có Pht giáo Bắc truyền.
+ Thiền sư Chân Quang Đà Lâm cùng môn đệ hoằng pháp vùng này hẳn là có một số vướng mắc, và có lẽ không khó lắm để nhận ra ở đây đã có một tôn giáo rất gần gũi với Phật giáo của mình, mà nói chính xác là những lp Pht giáo ở những thi kỳ rất sm, truyền đến bằng nhiều con đường khác nhau, nên dân tộc thì Phật giáo còn rõ nét, có dân tc thì Phật trong lòng họ cũng đã mơ hồ thành ông Pụt của riêng họ… Bên cạnh đó, chính nơi đây lại bảo lưu kiên cố những nghi lễ th Pht thi kỳ sớm, như cách thờ, cách cúng Phật của riêng họ…, tất nhiên, cũng có cả những nghi thức đã biến th qua thời gian quá dài…

+ Vào thi ấy, khi từ phía Tây, Phật giáo cùng những kinh sách trên lá thốt-nốt khc bằng tiếng Pali đã truyền đến một số dân tộc miền núi này cũng là một vướng mc, ngôn ngữ bất đồng, khó để dung hợp những nét bất đồng trong đời sống nghi l tâm linh…
“Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” theo chúng tôi nhận định, đã phải ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Các thiền sư trong dòng thiền Trí Bản Đột Không phải dung hợp tập quán nghi lễ Pht giáo của địa phương đã bám rễ lâu đời, đôi khi có những biến tướng, bằng cách soạn mi những nghi lễ cho phù hợp để phục vụ mục đích hoằng pháp. Cụ th chúng ta có th thy rõ qua nội dung sách, trong việc truyn bá tinh hoa nghi l của Phật giáo Bc truyền, các thiền phải giải quyết những tập quán đặc thù của cư dân, như việc không thờ Phật trong nhà, hoặc khi cúng Pht là cả đạo tràng cùng cúng, hay trong bt kỳ nghi lễ cúng nào đều phải sám hối trước, rồi đến cầu an, tiếp theo mới vào lễ chính…
Từ “Tiểu thừa” ở đây hẳn là không liên quan đến cách nghĩ thông thường hoặc cách hiểu của các loại Từ điển, chỉ là do những người soạn sách, những người hoằng pháp mong mỏi dung hợp một số tp quán tâm linh của cư dân bản địa, nhưng trong tư thế của người khai sáng về tôn giáo, và thể cả về văn minh, đã gọi tên cho những nghi lễ của một lp Phật giáo đã quá lâu đời còn lại của những cư dân mà nền văn minh còn quá lạc hậu so với họ. Tâm “đại, tiểu” theo chúng tôi chỉ thoát thai từ tâm của người khai sáng khi đặt tên cho tác phẩm trên mà thôi.
    1. Do điểm đáo diện
Từ mt cuốn sách tìm được vi một nhan đề quá lạ, khiến chúng tôi để tâm tìm kiếm nguyên nhân, giả định bao nhiêu vấn đề dựa trên những suy luận, về “ý cảnh” trong nghệ thut gọi là “do điểm đáo diện” (từ một điểm để nhìn ra một diện ln) và có lẽ bàn như những phần trên đã đến mức lạm bàn. Thế nhưng, vẫn chưa hết, chúng tôi vẫn cứ miên man v những bức tranh toàn cảnh về đời sống tâm linh, v những con đường truyền thừa Phật giáo đến nơi này, để dâng lên trong lòng những niềm tự hào thú vị… Phải chăng, những điều chúng tôi tìm thấy có đôi phần bổ sung cho những sử gia Phật giáo khi nhận định Phật giáo đến Việt Nam rất sớm, căn cứ vào nhiu cứ liệu, trong đó có nhiều dữ kin rất xác đáng: Một là, khoảng từ năm 247-232 trước dương lịch, vua A Dục đã lệnh cho bao nhiêu phái đoàn Tăng lữ đi khắp thế gii truyền đạo; hai là: theo “Sử ký”, “Tiền Hán thư”, “Hậu Hán thư”, cũng như căn cứ vào các di chỉ khảo cổ của Óc Eo, thì vào những thế kỷ đầu Dương lịch, các thương thuyền của Ấn Độ, thậm chí cả La Mã đều đã nhộn nhp ở bờ biển nước ta; nữa là, Trung tâm Luy Lâu đã phát triển Pht giáo thịnh vượng khi mà Trung Hoa chưa có… Phải chăng Phật giáo Đại thừa đã đến rất sm ấy đã truyền đi khắp nơi ở nước ta, rồi tùy duyên mà phát triển. Có nơi, ở đồng bằng, Đức Phật đến sm vi tên gọi Buddha, đã dần thành ông Bụt trong những truyện cổ tích khi mà không có điều kiện phát triển; có nơi, chủ yếu là vùng núi, đức Buddha lại biến thành ông Pt của riêng một số cư dân miền núi, để rồi dần dà trong lòng h li biến thành của riêng họ; có nơi, Đức Phật truyền sang từ phía Tây lại thành Pá Pụt (Buddha) cũng mang nhiều nét đặc thù rất riêng của từng tộc người…
Trở li vi vùng núi Quảng Bình, chắc hẳn phải có dòng Phật giáo đến miền núi này vô cùng sớm, sớm đến mức nhiều tộc người đã mơ màng thấy Pụt là của riêng họ, và có th đoán định đây là lớp Phật giáo từ thi Luy Lâu hoặc sớm hơn (có thể lan tỏa từ Luy Lâu lên các mạn sơn cước t Hòa Bình truyền đến Quảng Bình, hoặc…); tiếp theo đó là một lp Phật giáo t phía Tây truyền sang mà những tộc người như người Khùa thì tiếp thu trực tiếp nên họ phân biện rất rõ, nhưng cũng khó phát triển mạnh vì nhiều điều, trong đó có vấn đề về ngôn ngữ, vì hiện nay khi tìm ra những cun kinh trên lá thốt-nốt, chúng tôi vẫn không tìm ra được chuyên gia nào đọc được…; sau đó, như đã khảo cứu, là dòng thiền Trí Bản Đột Không đã một thời truyền bá tư tưởng Đại thừa Phật giáo ở miền đất này rất thịnh vượng, đến mức có những ngôi chùa như An Quốc lại có thể truyền thừa liên tục 10 đời Tăng trong một dòng thiền (từ chữ Chân của ngài Chân Quang Đà Lâm cho đến chữ Quảng)… Tất cả nói thêm ở phần này, cũng chỉ là “phải chăng”, “có thể”, song thật không thể nhận định khác hơn qua những điều đã thấy, đã nghe, đã để tâm suy nghĩ…
Từ mt cuốn sách chuẩn bị mục rữa, tìm thy trong một hòm sách đã mối mọt trong một ngôi chùa tiều tụy bên bờ bin, cộng những dữ liệu thu thập được qua những chuyến điền dã, đã gợi cho chúng tôi quá nhiều điều, khắc họa được một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống tâm linh vi những nghi lễ Phật giáo độc đáo của cư dân miền núi, cho đến hình dung những con đường truyền thừa Phật giáo, cùng việc hoằng đạo thật gian nan thật công phu mà thật đẹp của bao thế h Tăng nhân của những dòng thiền, đặc biệt là xác tín niềm tin và lòng kính m của người dân sơn cước từ bao nhiêu đời, để đến hôm nay, Phật giáo luôn được bảo tồn trong lòng người và luôn song hành cùng với dân tộc… Còn bao nhiêu cuốn sách như vậy nữa…, còn bao nhiêu những dữ liệu có thể thu thập được từ cuốn sách đời sống động đang mở qua những chuyến tìm hiểu khảo sát…? Kho tàng văn hóa Phật giáo của chúng ta chắc hẳn còn nhiều lắm, ngay cả thư tịch tiếp cận và sưu tầm được trong những chuyến khảo sát ở Quảng Bình vừa rồi, chúng tôi cũng chỉ mới nghiên cứu một phần nhỏ mà thôi, hy vọng sẽ được nhiều đạo hu chung sức tiếp tục tìm hiểu, tiếp tục nghiên cứu, và hy vọng sẽ có cơ duyên giới thiệu trong một dp khác nữa.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây