29 - NNC. Nguyễn Phúc Vĩnh Ba - KHẢO SÁT MỘT SỐ VĂN BẢN HÁN NÔM GHI CHÉP VỀ CỔ TỰ KIM PHONG Ở NÚI THẦN ĐINH

Thứ hai - 16/12/2019 04:00
KHẢO SÁT MỘT SỐ VĂN BẢN HÁN NÔM
GHI CHÉP VỀ C TỰ KIM PHONG Ở NÚI THẦN ĐINH
 

NNC. Nguyễn Phúc Vĩnh Ba*

 
  1. Lời dẫn
Theo sử sách và văn bia ghi lại, từ xưa trên núi Thần Đinh (Quảng Ninh, Quảng Bình) có ngôi cổ t Kim Phong, về sau được sư Trần Gia Hội trùng tu và đổi tên là chùa Thần Đinh, dân gian quen gọi là chùa Non.
Sách Ô châu cận lục [1553] của Dương Văn An và Phủ biên tạp lục [1776] của Lê Quý Đôn ghi rằng: vua Lê Thánh Tông năm 1470 khi kinh vào Nam, đến núi Thần Đinh, thấy ngọn núi này chầu khác hướng (so vi những ngọn núi khác) nên cho quần thần đánh tượng trưng vào chân núi để phạt tội “bất nghĩa”. Theo mô tả của văn bia núi Thần Đinh, ngọn núi này có phong cảnh đẹp nổi tiếng gần đế đô (Huế?) và đã có chùa trên núi.
Đường lên chùa có 1.225 bậc cấp đá dẫn đến gần giếng Tiên và cửa động núi Thần Đinh. Chùa có kè đá cao hơn 2m. Các đá còn nguyên nhưng đang bị che phủ bi cây cối, dây leo chằng chịt chưa được tu to lại. Chùa có từ bao giờ không ai biết. Tương truyền văn bia có ghi từ trước thế kỷ XVII. Hoàng Phủ Chân Quân, một vị tu sĩ đắc đạo đã tu ở chùa này, tu luyện và viết binh thư. Đầu thế kỷ XVII, khi Đào Duy T vào Nam có ghé đến núi này, được Hoàng Phủ Chân Quân truyền cho binh thư. Cui thế kỷ XVII, sư An Khả tr trì trên núi; năm 1701, cho lập ruộng Tam Bảo để m mang chùa. Nhưng sau đó chùa bị hỏa hoạn thiêu ri.
Đến năm 1807, hội thiện chùa Cảnh Tiên (ở Dinh 10) lên tôn to lại nhưng không thành. Năm 1825, đại sư Trần Gia Hội, quê ở Đức Phổ (Đức Ninh, Đồng Hi) t chùa Thiên Mụ ra, đã cho dựng chùa tranh trên núi và tu luyện ở đây. Năm 1829, hưu quan Lê Văn Trúc cùng cựu xã trưởng C Hin và nhiều thiện nam tín nữ quyên góp hưng công xây dựng chùa, đồng thời cho xây dựng nhà Tăng cho các sư tăng ở chân núi ở thôn Rào Đá, sau gọi là nhà thiền sơ; cho đúc chuông, rước 11 pho tượng lên núi.
Chùa Non nay không còn na dẫu đường lên chùa cả ngàn bậc cấp đá vẫn còn đó. Các thông tin về chùa Non có được đều căn cứ vào văn bia núi Thần Đinh thì nay bia đã không còn. Trong quá trình khảo sát điền dã, tìm hiểu về chùa Non, chúng tôi


  • Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán - Huế
 




may mắn tiếp cận được một bản tư liệu chữ Hán (chép tay) hiện được lưu giữ trong hòm bộ nhà thờ họ Trần ở làng Đức Phổ (Diêm Điền), được cho là sao chép lại văn bia chùa núi Thần Đinh, hành trạng của đại Trần Gia Hội và một số sinh hoạt tín ngưỡng của ngôi cổ t này kể t năm Minh Mạng thứ 11 [1830] đến năm Khải Định th 10 [1925].
  1. Nội dung các văn bản
Bản tư liệu này chứa 05 văn bản có nội dung khác nhau, tng cộng gồm 09 trang, số trang được đánh bằng chữ s Latin liên tục từ 01 đến 09, trong đó một số trang đã nhàu nát, mất góc, mất chữ, hoặc viết sai chữ, được bồi giấy và đóng chung tp với các văn bản ghi chép về m chí. Chúng tôi đã cho chụp ảnh lại toàn bộ bản tư liệu này và đưa vào phần phụ bản ở cuối bài để độc gi tiện theo dõi.
Vi tình trạng văn bản như thế, trong bài viết này, vi mong muốn cung cấp một số thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu Phật giáo Quảng Bình sau này, chúng tôi vi nhiều nỗ lực nhưng cũng chỉ cố gắng phỏng dch toàn bộ 05 văn bản của tư liệu này trong khả năng có thể. Những chữ nào trong văn bản đã bị mt (do giấy mục nát), hoặc không thể đọc được (vì nét chữ quá mờ), chúng tôi đánh dấu […].

Văn bản 1: Nói về chùa Non trên đỉnh núi Thần Đinh

福 地 多 在 奇 山 秀 水 間, 其 顯 晦 興 癈 輒 與 世 運 相 向. 今 乃 於
金 峰 寺 . 廣 平 鎮 之 老 神 丁 山 居 豐 禄 之 上 斿, 安 代 泉 抱 其 前, 與 右 臂 之 石 溪 合 流 南 大 于 海 , 廻 爲 畿 輔 大 名 勝.
山 有 三 峰, 左 麒 麟 峰, 右 神 丁 , 老 山 巍 然 中 立. 之 中, 級 經 始 之 已 庚 世 傳 逸 考. 正 祿 溪 候 南 歸 之 始, 常 登 山 寺, 受 兵 書 於 皇 甫 眞 君. 正 和 二 十 壹 年, 寺 儈 置 三 宝 田 曾 以
... 現 存 簡 牒 之 靈 秀, 奎 藻 之 焜 煌, 與 華 山 之 筆 洞 文 書 爲 禪 林 勝 . 及 運 遭 雲 雷, 寺 燬 於 火 劫, 灰 荒 洽 會 哉! 咨 嗟! 嘉 隆 柒 年 仝 縣 境 仙 寺 善 會 修 山 寺, … 耕 寺 田 而 修 造 之 功, 若 有 所 待 而 未 就.
明 命 陸 年, 天 姥 寺 大 師 嘉 會 矢 愿 山 修, 遍 求 名 勝, … 建 江 之 香 火, 陟 神 丁 之 , 流 覧 殘 磚 癈 址, 間 於 會 同 師 其 地 構 草 庵 爲 朝 夕 楚 修
之 所 闔 境. 善 信 往 然 香 供 養 之 僟 於 是 乎 在 矣. 拾 年 春 在 會 潘 舍
…, 古 賢 首 社 張 天 視, 洞 思 目 陳 志 嘉 謀 於 住 持 捐 貲 鳩 工 修 曲 磴, 洽 老 山 之 皆 轉 登 山 左, 計 程 三 百 餘 尋, 一 千 十 五 級. 得 其 門 而 入 者 咸 稱 便 焉! 夏 五 月 住 偕 諸 善 侶 以 重 修 山 寺, 諸 於 鎭 堂 砌 石 ,
日 計 , 同 善 十 , 樂 于 侶 信 施 寺. 凡 三 間 像 十 一尊, 左 僧 房 三 間, 右 山 神 廟 一 座, 法 器 物 件 以 次 充 仍 以 三 宝 原 田 之 在 高 春 者 林 莽多 荒,
再 買 麗 水 之 章 程, 秧 田 拾 畝 並 秧 土 畝 陸 高 增 置 爲 寳 田, 合 費
 



千 餘 . 是 年 柒 月, 布 政 啇 郞 文 織 自 日 麗 海 門, 開 船 出 泊, 拽 椗 而 得 , … 淨 無 文, 規 製 占 模, 得 請 奉 佛 於 丁 山. 自 此, 山 之 開 設 顯 於
…, 之 世 而 大 顯 於 今.
字 之 昌 辰 山 灵 , 海 藏 献 珍, 今 古 同 侍 咸 稱 希 有 其 有 開 於 世 運 如 是 夫. 拾 壹 年 柒 月 寺 工 告 黎 該 官 之 子 植 徴 文 於 縣, … 弗 獲 畧 述 梗 概 勒 貞 珉. 若 夫 厺豆 之 因 果, 福 社 之 宗 成, 備 載 於 見
筆 舌 爲 也.
: 明 命 拾 壹 年 庚 寅 秋 初 吉.
Phiên âm:
Già-lam phước địa đa tại kỳ sơn tú thuỷ gian, kỳ hin hối hưng phế triếp dữ thế vận tương hướng. Kim nãi ư Kim Phong tựh. Quảng Bình trấn chi lão thần sơn cư Phong Lộc chi thượng du, An Đại tuyền … bão kỳ tiền, dữ hữu tí chi thạch khê hợp lưu nam đại vu hải lưu, trĩ oanh hồi vi kì phụ đại danh thắng.
Sơn hữu tam phong, t Kỳ Lân phong, hữu Thần Đinh phong, Lão Sơn nguy nhiên trung lập. Tự … chi trung cấp, kinh thuỷ chi dĩ canh thế truyn dật khảo. Tiên chính … Lộc Khê hầu nam qui chi thuỷ, thường đăng sơn tự, thụ binh thư ư Hoàng Ph Chân Quân. Chính Hoà nhị thập nhất niên, tự quái … khả … trí tam bảo điền … tng dĩ …
... hiện tồn giản điệp … chi linh tú, khuê tảo chi côn hoàng, d Hoa Sơn chi bút
… động văn thư … vi thiền lâm thắng tích. Cập vận tao vân lôi, t huỷ ư hoả kiếp, hôi hoang hiệp hội tai! Tư ta! Gia Long thất niên, đồng huyện Cảnh Tiên tự thin hội
… tu sơn tự, … canh t điền nhi tu tạo chi công, nhược hữu s đãi nhi vị tựu.
Minh Mạng lục niên, Thiên M t đại sư Gia Hội thỉ nguyện sơn tu, biến cầu danh thắng, … Kiến Giang chi hương hoả, trắc Thần Đinh chi … điên, lưu lãm tàn chuyên phế chỉ, gian ư hội đồng sư kỳ địa cấu thảo am, vi triêu tịch sở tu chi sở hạp cảnh. Thiện tín vãng nhiên hương cúng dường … chi ky ư thị hồ tại h.
Thập niên xuân tại hội Phan Xá,… Cổ Hiền thủ xã Trương Thiên Thị, Động Tư hương mục Trần Chí Gia mưu ư tr trì quyên ti cưu công, tu khúc đặng, hiệp Lão Sơn chi giai chuyển đăng sơn tả, kế trình tam bách dư tầm, nhất thiên nh bách nhị thp ngũ cấp. Đắc k môn nhi nhập giả hàm xưng tiện yên! Hạ ngũ nguyệt trú giai chư thin lữ dĩ trùng tu sơn tự, chư ư trấn đường, thế thch … ngoã, lượng nhật kế công, đồng thiện thập phương, lạc vu lữ tín thi tự. Phàm tam gian tượng thập nhất tôn, tả ng phòng tam gian, hữu sơn thần miếu nhất toà, pháp khí vật kiện dĩ thứ nguy nhưng dĩ Tam Bảo nguyên điền chi tại Cao Xuân giả, lâm mãng đa hoang, tái mãi Lệ Thu chi chương trình, ương điền thập tam mẫu, tịnh ương thổ nhị mu lục cao tăng 
trí vi Tam Bảo đin, hợp phí nhị thiên dư quan. Thị niên thất nguyệt, Bố chánh thương hộ lang văn chức tự Nhật Lệ hải môn, khai thuyền xuất bạc, duệ đính nhi đắc chung, … tịnh vô văn, quy chế chiếm mô, đắc thnh phụng Phật ư Đinh Sơn …. Tự thử, sơn chi khai thiết hiển ư … chi thế nhi đại hiển ư kim. Thượng … tự chi xương thần sơn linh … xã, hải tạng hiến trân, kim cổ đồng thị hàm xưng hy hữu kỳ hữu, khai ư thế vận như thị phù.
Thập nhất niên thất nguyệt tự công cáo chính … Lê cai quan chi Tử Thực trưng văn ư huyện … phất hoạch, lược thuật ngạnh khái … chi trinh mân. Nhược phù khứ đậu chi nhân quả, phước xã chi tông thành, bị tải ư kiến … vô … bút thiệt vi dã.
Thi: Minh Mạng thập nhất niên, Canh Dần, thu sơ cát.
Phỏng dịch:
Chùa chiền đất Phật phần lớn thường được xây nơi chốn núi rừng, khe suối tươi đẹp, tuy nhiên cảnh chùa cũng theo thế vận hưng phế. Nay chùa Kim Phong cũng thế. Núi Thần Đinh ở trn Quảng Bình nằm ở thượng du huyện Phong Lộc, phía trước có rào An Đại cùng với các khe nước ở phía tay trái hợp lưu chảy xuôi về Nam ra biển, ngọn núi chơ vơ giữa dòng chảy quanh co tạo thành một thắng cảnh quan trng của vùng đất gần với Kinh kỳ.
Núi có 3 đỉnh, trái là đỉnh Kỳ Lân, phải là đỉnh Thần Đinh, đỉnh Lão Sơn cao nhất ở giữa. Chùa ở giữa …. Trước khi Lộc Khê hầu (Đào Duy Từ) vào Nam, thường lên chùa trên núi, và được Hoàng Phủ Chân Quân trao binh thư. Năm Chính Hoà thứ 21 [1701], sư thầy trú trì … ruộng Tam Bảo để
Hin còn sách sớ ghi chép, (cảnh chùa và núi) xán lạn huy hoàng cùng với Hoa Sơn là những thắng tích trong giới thiền lâm. Đến khi bị sấm sét đánh, chùa bị hoả hoạn huỷ hoại thành tro tàn hoang phế. Đáng buồn thay! Năm Gia Long thứ 7 [1808], đạo tràng chùa Cảnh Tiên cùng huyện có ước nguyện trùng tu chùa trên núi, cho canh tác ruộng nhà chùa để ly tiền tu tạo, song việc không thành. Năm Minh Mạng thứ 6 [1825] đại sư Gia Hội tại chùa Linh Mụ có ý nguyện lên tu trên núi, tìm kiếm khắp chốn danh thắng, … trèo lên đỉnh núi Thần Đinh, thấy nền hư gạch bể, xin phép các thy tại địa phương này dựng thảo am làm chỗ tu hành sáng tối. Thiện nam tín nữ đến hương đèn cúng dường ….
Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 10 [1829], ti hội Phan Xá, lý trưởng làng Cổ Hiền Trương Thiên Thị, hương mục làng Động Tư Trần Chí Gia bàn bạc vi thầy trụ trì quyên góp công của tu bổ đường bậc cấp lên núi theo bên trái núi Lão Sơn, đường đi dài đến 300 tầm, gồm 1.225 bậc cấp. Người lên chùa được bằng lối đi này đều cho rằng rất thuận tiện. Tháng 5, tháng trời hè, các thiện nam tín nữ ở lại để tu b chùa 
trên núi, xếp đá lợp ngói, tính ngày tính công, mọi người khắp nơi đều vui vẻ làm chùa. Chùa gồm ba gian, có 11 pho tượng; phía trái xây nhà Tăng ba gian, phía phải miếu Sơn thần một toà, đồ th t khá đầy đủ. Lại thấy ruộng chùa trước đây ở vùng Cao Xuân thì cỏ mọc đầy nên mua thêm 13 mu ruộng, 2 mẫu 6 sào đất ở Nhật Lệ để làm rung chùa, tốn hơn 2.000 quan tiền.
Năm ấy tháng 7, quan Bố chánh và tuỳ tùng đi thuyền ra cửa biển Nhật Lệ kéo lưới thì vớt được quả chuông, không ghi chữ nghĩa gì, nên đem về thờ Pht tại chùa Thần Đinh. Từ đấy, núi được thờ cúng linh hiển …. đến nay. Chúa Thượng cho rng gặp thi thịnh vượng, núi hiển linh nên biển dâng của báu để thờ. Việc xưa nay ai cũng cho là hy hữu đã xảy ra như thế.
Năm Minh Mạng thứ 11 [1830], việc trùng tu chùa hoàn thành. Con của quan họ Lê tên Thực xin bản văn ở huyện nhưng không có, bèn tóm tắt công việc và kể li để viết lên bia….
Ngày tốt, mùa thu năm Canh Dần - Minh Mạng thứ 11 [1830].

Văn bản 2: Hành trạng của Đại sư Gia Hội

金 峰 寺 住 持 嘉 會 大 師 功 行 記
師 法 名 先 遇, 俗 姓 陳, 豐 禄 之 德 溥 人, 童 年 出 家 境 仙 寺, 長 受 戒
於 天 姥, 密 弘 和 尚 爲 大 師. 明 命 陸 年 結 草 庵 于 神 丁 山 寺 故 址. 戒 律 堅 , 不 履 市 城. 見 之 者 咸 推 爲 善 知 識. 十 年 之 夏 ... 善 侶 鸿 工 崇 修 開 ... 春 正 月 十 三 日 奄 然 示 寂, 涉 塵 四 十 四 , 爲 塔 於 寺 之 左 坡.
松 枝 破 尾 月 影 常 圓 隻 履 歸 西 鐘 聲 連 響.
敬 述 功 行, 用 垂 示 於 来 ...
: 明 命 拾 壹 年 五 月 既 望
信 弟 子 法 名 明 道, 性 明 善 和 南 謹 記.
Phiên âm:

Kim Phong tự trú trì Gia Hội đại sư công hạnh

Sư pháp danh Tiên Ngộ, tục tính Trần, Phong Lộc chi Đức Phổ nhân, đồng niên xut gia Cảnh Tiên tự, ký trưởng thụ giới ư Thiên Mụ, Mật Hoằng Hoà thượng vi đại sư. Minh Mạng lục niên kết thảo am vu Thần Đinh sơn tự cố ch. Gii luật kiên nhược, bất thị thành, kiến chi giả hàm suy vi thiện tri thức. Thập niên chi hạ ... thin lữ hồng công sùng tu khai ... Chính nguyt thập tam nhật ym nhiên thị tịch, thip trần t thập tứ tuế, vi tháp ư tự chi t pha.
 




Tùng chi phả vĩ
Nguyt ảnh thường viên Chích lý qui Tây
Chung thanh liên hưởng.
Kính thut công hạnh, dụng thu th ư lai tư.
Thi: Minh Mạng thập nhất niên ngũ nguyệt vọng.
Tín đệ t pháp danh Minh Đạo, tính Minh Thiện hoà nam cẩn ký.
Phỏng dịch:

Ghi chép công hạnh của Đại sư Gia Hội, trú trì chùa Kim Phong

Sư pháp danh là Tiên Ngộ, họ Trần, người làng Đức Phổ, Phong Lộc, Quảng Bình. Khi còn nh đi tu tại chùa Cảnh Tiên, lớn lên sư thụ giới với đại sư Mật Hoằng chùa Thiên Mụ (Huế). Năm Minh Mạng thứ 6 [1825], sư lập thảo am trên nền cũ của chùa Thần Đinh. Sư giữ gii luật kiên thâm, không hề biết đến thị thành, ai biết đến đều tôn xưng là bậc thiện tri thức. Năm Minh Mạng thứ 10 [1829], thiện nam tín nữ góp công trùng tu chùa. Ngày 13 tháng Giêng, sư hoát nhiên thị tịch, hưởng dương 44 tuổi. Tháp được xây ở sườn núi bên trái chùa.
Cành tùng rũ ngọn Bóng nguyệt sáng tròn Ci dép v Tây Chuông còn ngân mãi.
Kính thut công hạnh của sư để người đời sau noi theo. Ngày rằm tháng 5, năm Minh Mạng th 11 [1830].
Đệ t thâm tín pháp danh Minh Đạo, tính Minh Thiện, kính bái ghi chép.

Văn bản 3: Về l rước tượng Pht Di Lặc

彌 勒 尊 佛 赤 金 大 法 相 記
自 旃 檀 佛 東 來 像 教 之 尚 矣. … 城 普 光 寺 妙 振 禅 師 家 母
受 記 師 也. 明 命 己 丑 家 父 偕 諸 僧 侶, 重 修 神 丁 山 . 家 母 實 克 相 . 禪 師 聞 之 曰, 吾 門 有 人 矣, 乃 奉 所 鑄 弥 勒 像 憑 海 運 南 來 登 諸 山 寺 侍 (?) 妙 俊 奉 所 (?) 弥 勒 像 附 焉. 家 父 家 母 皆 曰, 凡 此 功 德 爲 於 吾 師, 弟 子 何 能 受 玆 介 福 顧 語 子 植 勤 諸 貞 珉.
: 明 命 拾 壹 年 陸 月 朔 日
信 弟 子 豊 祿 舍 黎 植 和 南 謹 記
Phiên âm:

Di Lặc Tôn Pht xích kim đại pháp tướng ký


Tự Chiên Đàn Phật đông lai, tượng giáo chi … thượng hĩ. … thành Phổ Quang tDiu Chấn thiền sư gia mẫu Ngô thị th sư dã. Minh Mạng Kỷ Sửu gia ph giai chư tăng lữ, trùng tu Thần Đinh sơn tự. Gia mẫu thực khắc tướng chi. Thiền sư văn chi viết: “Ngô môn hữu nhân hĩ”, nãi phụng sở chú Di Lặc tượng bằng hải vận nam lai đăng chư sơn tự th ... Diệu Tuấn phụng s ... Di Lặc tượng phụ yên. Gia phụ gia mu giai viết: “Phàm thử công đức vị ư ngô sư, đệ t hà năng thụ tư giới phước”, cố ng t Thực cần chư trinh mân.
Thi: Minh Mạng thập nhất niên, lục nguyệt sóc nht. Tín đệ t Phong Lộc Lê Thực hoà nam cẩn chí.
Lược dịch:

Ghi chép về tượng Phật Di Lc bằng vàng ròng

Kể t lúc Phật Chiên Đàn từ phương đông đến, đạo Phật được mọi người tôn th. Mẹ ta họ Ngô, đã thụ ký vi Thiền sư Diệu Chấn ở chùa Phổ Quang. Năm Kỷ Sửu triều Minh Mạng, thân phụ ta cùng chư Tăng trùng tu chùa Thần Đinh. Mẹ ta cũng góp phần. Thiền nghe vậy bèn nói: “Nhà ta có người, hãy thỉnh pho tượng Di Lc đã đúc chuyên chở bằng đường biển lên núi dâng cúng cho chùa”. Đệ t là Diệu Tun lo công việc ấy. Bố m ta đều nói: “Việc công đức này quy cho thầy ta cả thì đệ t sao hưởng được chút phước đức”. Bèn bảo con là Thực ghi vào bia.
Ngày mồng một tháng 6 năm Minh Mạng thứ 11 [1830].
Đệ t thâm tín người Phong Lộc là Lê Thực kính bái cẩn thận ghi chép.

Văn bản 4: Về các người góp ca trùng tu chùa Thần Đinh

明 命 拾 壹 年 柒 月 吉 日. 神 丁 山 金 峰 寺 善 會 潘 舍 社 休 致 該 官 潘 德 佰, 黎 文 竹 並 善 侶 古 賢 首 社 張 天 視, 洞 思 目 陳 志 嘉 ... 登 記. 由 去
年 五 月 ... 願 捐 貲 崇 修 寺 宇 間. 有 十 方 善 信 供 錢 銀 著 于 謹 將 姓 氏, 錢 數 一 ... 勤 諸 貞 珉 ... 凡 同 人 共 享 無 量 無 邊 福 德 之 利 六 耳. 潘 舍 社 休 致 該 官 黎 文 竹 法 名 明 道 , 正 配 吴 氏 奔 號 妙 德 供 錢 一 千 百 餘 貫, 秧 田 十 三 , 秧 土 二 畝 六 高, 並 在 章 程 社, 古 賢 社, 首 社 張 天 視, 正 配 法 阮 氏 蓮 名 明 花 供 錢 一 千, 秧 土 二 畝 在 石 溪 處.
Phiên âm:
Minh Mạng thập nhất niên thất nguyệt cát nhật, Thần Đinh sơn Kim Phong tự thin hội Phan Xá xã, hưu trí cai quan Phan Đức Bá, Lê Văn Trúc tịnh thiện lữ C Hin thủ xã Trương Thiên Thị, Động Tư hương mục Trần Chí Gia ... đăng ký. Do kh niên ngũ nguyệt ... nguyện quyên ti sùng tu t vũ gian. Hữu thập phương thiện tín cung tiền ngân, trước vu cẩn tương tính thị, tiền s nhất ... cần chư trinh mân, ... phàm đồng nhân cộng hưởng vô lượng vô biên phước đức chi li lục nhĩ. Phan Xá xã 
hưu trí cai quan Lê Văn Trúc pháp danh Minh Đạo, chính phối Ngô Thị Bn hiệu Diệu Đức cúng tiền nhất thiên bách dư quan, ương điền thập tam mẫu, ương thổ nhị mẫu lục cao, tịnh tại Chương Trình xã, Cổ Hin xã, thủ xã Trương Thiên Thị pháp danh Minh Thiện, chính phối Nguyễn Thị Liên pháp danh Minh Hoa cúng tiền nhất thiên, ương thổ nhị mẫu tại Thch Khê xứ.
Phỏng dịch:
Ngày tốt tháng 7 năm Minh Mạng thứ 11 [1830] tại chùa Kim Phong núi Thn Đinh, hưu trí cai quan Phan Đức Bá, Lê Văn Trúc trong hội thiện làng Phan Xá và lý trưởng làng C Hiền Trương Thiên Thị, hương mục làng Động Tư Trần Chí Gia hội họp. Lý do là tháng 5 năm ngoái họ đã nguyện góp công của để trùng tu chùa chin. Có thiện nam tín nữ đóng góp tiền bạc nên cần đem tên họ và số tiền cẩn thận khắc vào bia … Mọi người cùng hưởng lợi lộc của công đức vô lượng vô biên này. Cai quan hưu trí làng Phan Xá là Lê Văn Trúc, pháp danh Minh Đạov chính Ngô Th Bốn, pháp danh Diệu Đức cúng 1.100 quan tiền, ruộng 13 mẫu, đất khô 2 mẫu 6 sào. Lý trưởng làng C Hiền Trương Thiên Thị pháp danh Minh Thiện, vợ chính phối Nguyễn Thị Liên pháp danh Minh Hoa cúng 1.000 quan tiền, 2 mẫu đất khô ở vùng Thạch Khê.

Văn bản 5: Tờ Bẩm

忠 鑵 總, 右 潘 社, 僧 陳 文 叩 禀:
爲 乞 審 恤 下 情 事 緣.
: 自 維 新 八 年 構 立 芼 家 在 石 江 處, 耕 柞 生 理, 心 誠 事 祀 在 神 丁 寺. 至 啓 定 六 年 承 於 會 主 休 官 黄 相 公 認 寔, 及 伊 春 育 社 里 押 認
, 僧 恭 奉 認 這 寺 修 補 並 田 土 耕 供. 至 於 ... 十 二 年 餘, 均 得 無 何 阻 止, 誠 事 心 憂 ... 於 當 日 當 柔 願 約. 僧 乞 親 子 名 闋, 心 應 所 願, 乞 供 奉 ,
幸 得 餘 露, ... 此 佛.
乞 本 轄 領 兵 官 大 人 閣 下 恤 及 下 情 轉 咨 部 文 及. () 親 子 名 闋 幸 蒙 小 惠 ...
.
定 拾 年 七 月 拾 日.
Phiên âm:
Trung Quán tổng, Hữu Phan xã, (Tăng) Trần Văn Duyệt khấu bẩm vi khất thẩm tut hạ tình sự duyên. Tăng: Tự Duy Tân bát niên cấu lập mao gia tại Thạch Giang xứ, canh tác sinh lí, tâm thành st ti Thần Đinh tự. Chí Khải Định lục niên, thừa ư hội chủ hưu quan Hoàng tướng công nhận thực, cập y Xuân Dục xã hương lý áp nhận thun ứng tăng cung phụng nhận thử t tu bổ tịnh điền thổ canh cung. Chí ư ... kinh 
thp nhị niên dư, quân đắc vô hà trở ch, thành sự tâm ưu ... ư đương nhật đương nhu nguyện ước. (Tăng) khất thân tử danh Khuê, tâm ưng sở nguyện, khất cung phụng kế hậu, hạnh đắc dư lộ ... thử Pht.
Khất bản hạt Lãnh binh quan đại nhân các h tut cập hạ tình chuyển tư bộ văn cập.


(Tăng) thân tử danh Khuê hạnh mông tiểu huệ ... Khấu bẩm
Khải Định thập niên thất nguyt thập nht.
Phỏng dịch:
Tổng Trung Quán, xã Hữu Phan, sư thầy tên là Trần Văn Duyệt khấu đầu bẩm 
báo thượng cấp, xin rủ lòng thương, xét cho sự việc dưới đây: Từ năm Duy Tân thứ 8 [1914], sư tôi đã dựng một căn nhà tranh tại Thạch Giang, cày cấy làm ăn, thành tâm phng thờ Pht Tổ ti chùa Thần Đinh. Đến năm Khải Định thứ 6 [1921], sư tôi được hi chủ là quan hưu trí họ Hoàng nhận thực, cùng với hương lý làng Xuân Dục đồng xác nhận bằng lòng để sư tôi nhận việc tu b chùa này và cày cấy đất ruộng chùa. Trải qua hơn 12 năm nay không có điều gì tr ngại, chỉ thành khẩn ưu lo công việc cho tới ngày nay. Sư tôi xin cho con trai là Khuê, đúng như lòng sở nguyện, được tiếp tc th phụng Phật Tổ, hầu được hưởng ơn mưa móc tại ngôi chùa này.
Kính xin đại nhân, quan Lãnh binh bản hạt, r lòng thương chuyển bộ kp thi tư văn này hầu đứa con của tôi, tên Khuê, mi may mắn được chút ơn nho nhỏ.
Nay khu bẩm.
Ngày 10 tháng 7 năm Khải Định thứ 10 [1925].
  1. Nhn xét
Chúng tôi nhận thấy rằng đây có lẽ là văn bản cổ nhất và căn bản nhất viết về chùa cổ Kim Phong (chùa Thần Đinh, chùa Non). Ngôn từ được s dụng trong các văn bản trên rất sắc sảo, chứng tỏ người soạn bia mt bậc túc Nho, có am hiểu sâu xa về đạo Phật. Ví dụ, dùng từ “khuê tảo” để chỉ thơ văn của bậc đế vương, từ “mân trinh” để chỉ vic khắc bia, từ “hoà nam” để chỉ vic chp tay (bái Phật),…
Thật đáng tiếc, do vấn đề bảo quản còn hn chế nên bản tư liệu này bị rách một s chỗ và mất đi một số từ. Bên cạnh đó, một số t khác có lẽ viết nhầm, viết thừa nét khiến việc đọc văn bản khó chính xác. Ví dụ, cụm từ chúng tôi phiên âm là “Lộc Khê hầu”, tức là cụ Đào Duy Từ thì trên tự dạng lại giống như là “Duyên Khê hầu” hơn. Song đối vi thời điểm lch sử thì nhân vật Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (1572-1634) lại rất phù hợp.

Ri rác ở vài chỗ khác có những lỗi sai nhỏ như: “thỉnh Phật” (trang 3) thì trong chữ “thỉnh” lại có chữ bối; “tam gian” (trang 3) khii chùa có ba gian, nhưng trong chữ “gian” thay vì chữ “nhật” lại viết thành chữ “nhĩ”; “tăng lữ” (trang 6) thì chữ “tăng” lại thiếu b nhân đứng; chữ “tổng xã” (trang 9) là đơn vị hành chính thì chữ “tổng” lại viết bộ sách. Về địa danh, chúng tôi cũng thấy chỗ không chính xác. Ví dụ, xã Hữu Phan thuộc tổng Trung Quán thì li ghi là tổng Trung Gia (忠 鎵),… Một số chữ khác chúng tôi lại không tìm ra được trong từ điển. Phần lớn chữ Hán ghi lại ở gia phả được viết một cách dễ dãi khiến văn bản không nét nghiêm túc. Với những
hạn chế như thế, việc đọc bản văn chép tay này khá khó khăn, đôi khi phải dự đoán để thấy nghĩa.
Nhìn chung, mặc dù còn tồn tại một số hạn chế và sai sót như vừa nêu, văn bản này cũng giúp chúng ta có được một số thông tin khả dĩ về cổ t Kim Phong (chùa Thần Đinh, chùa Non), dẫu rằng đó không phải là những thông tin chính thống. Chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Phố, anh Võ Vinh Quang đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong công tác này.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây