26 - TT. Thích Không Nhiên – NNC. Bình Nguyên - TỪ “TIẾNG CHUÔNG CHÙA TRẠM” ĐẾN ĐẠI HỒNG CHUNG CHÙA HOẰNG PHÚC

Thứ hai - 16/12/2019 03:53
TỪ “TIẾNG CHUÔNG CHÙA TRẠM”
ĐẾN ĐẠI HỒNG CHUNG CHÙA HOẰNG PHÚC
 

TT. Thích Không Nhiên* NNC. Bình Nguyên

 
  1. “Tạnh trời chuông Trạm ngân xa”...
Chùa Hoằng Phúc (chùa Kính Thiên/chùa Quan/chùa Trạm) là mt trong những ngôi cổ tmt sớm nhất trên đất Quảng Bình kể t khi 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính chính thức được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt329 năm 1069 dưới thi vua Lý Thánh Tông. Thánh Đăng lục cho biết, vào đầu thế kỷ XIV (năm 1301) trong chuyến vân du hóa đạo kéo dài 9 tháng trên đất Chiêm Thành, Phật hoàng Trần Nhân Tông từng lưu dấu bước chân hành hóa tại am Tri Kiến ở B Chính330. Rất có thể am Tri Kiến chính là tiền thân của ngôi cổ t Kính Thiên sau này.
Theo ghi chép của Dương Văn An trong Ô châu cận lục, kể t năm 1553 trở v trước ngôi c t này từng có tên là chùa Kính Thiên, là mt ngôi quan tự vi kiến trúc quy mô, có quả đại hồng chung nặng hàng ngàn cân, sinh hoạt “theo quy chế Tăng quan và có sái phu quét dọn hàng ngày”. Điều đó có nghĩa, trước thời điểm sách Ô châu cận lục được san định (năm 1553), Kính Thiên đã là mt ngôi quan tự [chùa công] nằm trong sự bảo hộ của các vương triều, và tên gọi đó đã tồn tại lâu đời trong lch sử. Đại Nam thực lục tiền biên cũng xác nhận, vào năm 1609, Tiên chúa Nguyễn Hoàng đã cho kiến tạo chùa Kính Thiên trên nền cũ của ngôi cổ t đãtrước đó331. Dưới thời Minh vương Nguyễn Phúc Chu, chùa Kính Thiên một lần nữa được đại trùng tu (năm Bính Thân - 1716), được chúa sắc ban biển hiệu “Kính Thiên tự” cùng bức hoành phi “Vô song phúc địa” và năm cặp đối liễn treo ở chùa332. Tên gọi “Kính

  • Phó Chủ biên kiêm Thư ký tập san Liễu Quán
329 Năm 1069, vua Thánh Tông cùng Thường Kiệt cất quân chinh phạt Chiêm Thành, đánh vào tận thành Đồ Bàn (Bình Định) và bắt được vua Chiêm là Chế Củ đưa về Thăng Long. Sau khi cho thả Chế Củ, Chiêm Thành đã dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính cho Đại Việt làm lễ chuộc. Đó vùng đất kéo dài từ phía nam đèo Ngang vào tận một phần đất phía bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay.
330 Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, Phật hoàng Trần Nhân Tông chuyến công du Chiêm Thành năm 1301 kéo dài 9 tháng, khởi hành từ tháng 3 đến tháng 11 mới trở về. Mặc dù sử liệu này không ghi việc Phật hoàng có dừng chân ở am Tri Kiến (Quảng Bình), nhưng về thời gian Ngài công du Chiêm Thành, những ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư hoàn toàn thống nhất với Thánh đăng lục.
331 Đại Nam thực lục cho biết, Tiên chúa Nguyễn Hoàng kể từ khi vào trấn nhậm Thuận Hóa đã cho phục dựng tại Đàng Trong bốn ngôi chùa, trong đó có 2 ngôi ở Thuận Hóa: Thiên Mụ (phục dựng năm 1601) Sùng Hóa (phục dựng năm 1602); một ngôi ở Quảng Nam: chùa Bảo Châu (dựng năm 1607); một ngôi ở Quảng Bình: chính là chùa Kính Thiên, phục dựng năm 1609
332 Theo Ngự chế thi của vua Thiệu Trị (khắc in năm 1844) Đại Nam nhất thống chí (biên soạn thời Tự Đức) xác nhận, trong chuyến Bắc tuần năm Thiệu Trị thứ 2 [1842], khi vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương ghé
 




Thiên tự” vẫn tiếp tục tồn tại mãi đến đầu triều Minh Mạng mới được sắc chuẩn đổi thành “Hoằng Phúc tự” như hiện nay333.
Qua thi gian, ngôi cổ t này cùng vi tiếng đại hồng chung sm tối đã tr thành biểu tượng văn hóa, tâm linh tiêu biểu của một vùng cư dân rộng ln, kéo dài t phía nam đèo Ngang đến phần đất phía bắc tnh Quảng Tr. Dân gian Quảng Bình hin vẫn còn lưu truyền câu ca dao:
“Tạnh tri chuông Trạm ngân xa Ngân vào Hồ Xá ngân qua Truông Hồ”.
“Chuông Trạm” tức chuông chùa Trạm, còn gọi là chùa Quan - tên gọi dân gian ch cho chùa Kính Thiên hay chùa Hoằng Phúc hiện nay. Câu ca dao không ch nêu rõ vị thế, uy danh của tiếng chuông chùa Trạm một thi, mà qua đó còn giúp ta giải mã, kết nối một số thông tin có giá tr xung quanh ngôi c t này từ những ghi chép ri rạc trong các thư tịch cổ. Tuy chỉ là cách nói khoa trương nhưng ràng, qua câu ca dao ấy, trong tâm thc của cư dân Quảng Bình tiếng chuông chùa Trạm không chỉ đơn thuần mang tính biểu cảm tâm linh mà còn hàm chứa nhiều ẩn ý sâu xa, rất cần được chú ý, giải mã.
Vì sao tiếng chuông chùa Trạm chỉ “ngân vào Hồ Xá” và “ngân qua Truông Hồ” mà không thể “vượt tuyến” vang vào tận các vùng miền phía trong? Câu hỏi tưởng như mơ hồ ấy lại chạm vào một ranh gii lch sử có thực: Hồ Xá và Truông Hồ. Đó là hai địa danh thuộc châu Ma Linh334 - vùng đất cực Nam của nước ta kể t năm 1069 đến trước năm 1306. Vượt qua Ma Linh tc vào đến hai châu Ô, Rí của Chiêm Thành, mà trước năm 1306 chưa được sáp nhập vào bản đồ Đại Vit.
Rt thể, câu ca dao trên ra đời trước năm 1306, và theo đó, tiếng chuông chùa Trạm phải chăng cũng đã xuất hiện tnăm 1306 trở về trước? Tiếng chuông ấy nhằm chuyn tải thông điệp gì? Có liên hệ gì với “đại hồng chung chùa Kính Thiên nặng hàng ngàn cân” được Dương Văn An nhắc đến trong Ô châu cận lục? Giải mã các nghi vấn ấy không chỉ giúp ta tìm thấy giá trị, vị trí tâm linh của tiếng chuông chùa Trạm trong tâm thc cộng đồng cư dân Quảng Bình, mà qua đó còn góp phần xác định rõ bề dày lch sử của cổ t Kính Thiên qua tham chiếu với thư tịch cổ. Mặc dù


thăm chùa Hoằng Phúc vẫn còn nhìn thấy các bút tích này của chúa Nguyễn Phúc Chu bấy giờ vẫn được treo ở chùa.
333Về năm cải đổi tên chùa, Đại Nam thực lục ghi xảy ra vào năm Minh Mạng thứ 7 [1826], còn Đại Nam nhất thống chí lại cho rằng tên chùa chính thức được cải đổi thành “Hoằng Phúc” vào năm Minh Mạng thứ 2 [1821]. 334 Ma Linh: Một trong 3 châu (Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính) trước thuộc Chiêm Thành, được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt năm 1069. Đến năm 1074, nhà Lý đổi thành châu Minh Linh, bao gồm các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh Cam Lộ của Quảng Trị ngày nay.
 




đây chỉ là những nghi vấn mang tính giả định, nhưng rất có th, chúng vẫn có mt mối liên hệ nào đó mà chúng ta cần quan tâm tìm hiểu.
  1. Đại hồng chung chùa Hoằng Phúc
Trải qua bao biến thiên của thi cuộc, cứ ngỡ chùa cổ Kính Thiên/Hoằng Phúc cũng như các ngôi cổ t khác trên đất Quảng Bình không còn để lại dấu vết gì, nhưng tht may mắn, chính nhờ tm lòng sắt son của người dân Quảng Bình mà nhiều bảo vật quý giá của ngôi c tự này vẫn được bảo tồn đến tận hôm nay (nhờ được gìn giữ cẩn mt ti trụ s Ủy ban Nhân dân xã M Thủy, huyện Lệ Thủy).
Vi những gì còn lại, qua khảo sát cho thấy, bên cạnh một số bảo vật có niên đại tiền Nguyễn như a Cửu Long, bộ tượng Ngọc Hoàng..., còn có khá nhiều các bảo vật thi Nguyễn rất giá trị335, đặc biệt là quả đại hồng chung được chú đúc năm Minh Mạng thứ 20 [1839].
Về tng thể, quả đại hồng chung còn khá nguyên vẹn (mặc dù trên thân chuông vẫn còn lưu lại một số vết rạn nứt đã được hàn gắn). Chuông có chiều cao tổng thể 1,10m, trong đó bồ-lao cao 0,30m, thân chuông cao 0,80m; đường kính miệng chuông rộng 0,79m. Thân chuông gần như thẳng đứng, có vóc dáng khỏe khoắn, mạnh mẽ, trang trí hệ hoa văn đơn giản336: bồ-lao được tạo hình khỏe khoắn; trên thân chuông có đắp các chỉ nổi - chia thân chuông thành các ô ln nhỏ không đều nhau, được trang trí phù điêu đầu ngọc như ý - bảo châu, rồng chầu mặt nguyệt, dây lá; các núm chuông có trang trí vòng cầu lửa; vành miệng chuông trang trí dải hoa văn liên hóa (sen hóa dạng).
Minh văn được khắc trên chuông gm có: vòng quanh phía trên thân chuông có khắc bốn đại tự “Hoằng Phúc linh chung” (弘 福 靈 鍾); phía dưới chữ “Hoằng” có khắc bài minh “Hoằng Phúc hồng chung minh ký” ( 福 洪 鍾 銘 ); phía dưới chữ “Phúc” khắc dòng lạc khoản ghi thời gian chú đúc đại hồng chung.
Bài minh khắc trên chuông chùa Hoằng Phúcmột tư liệu chữ Hán rất có giá tr, không chỉ về nội dung tư tưởng mà qua đó còn giúp ta luận giải nhiều vấn đề về lch sử cũng như số phn của quả chuông này. Chúng tôi xin chép lại nguyên văn bài minh và phiên âm, dch nghĩa như sau:
Nguyên văn:



335 Xem thêm: “Bảo vật hiện còn của cổ tự Hoằng Phúc” của tác giả Nguyễn Hữu Thông Lê Thọ Quốc trong số chuyên đề này.
336 Đó những dấu hiệu mỹ thuật đặc trưng của đại hồng chung đúc thời Minh Mạng, như trường hợp chuông chùa Thánh Duyên ở Phú Lộc - Huế, chú đúc năm Minh Mạng thứ 17 [1836] chúng ta đã gặp ở chuyên đề Liễu Quán số 3.
 



 
 

無 雙 福 地 第 一 梵 宮 四 民 順 宅 萬 法 歸 宗 茲 會 淨 土 再 鑄 洪 鍾 蒲 聲 一 吼 象 法 四 通 豁 開 道 牖 醒 起 迷 聾 三 明 茂 達 六 入 銷 融 仰 祈 三 寶 俯 鑒 丹 衷 三 緣 了 脫 五 福 來 崇 法 音 長 響 佛 日 常 中 而 今 而 後
傳 之 無 窮恭 賀 拜 銘

 

弘 福 洪 鍾 銘 記

 
: 明 命 二 十 年 歲 次 己 亥 六 月 二 十 七 日 鑄
Phiên âm:

Hong Phúc hồng chung minh ký

Vô song phúc địa337 Đệ nhất Phạm cung338 Tứ dân339 thun trạch



337 Phúc địa (福 地): Theo Phật Quang đại từ điển, “Phúc địa” có hai nghĩa: [1] Chỉ cho chùa, viện; là nơi có năng lực sinh ra phước đức; [2] Chỉ cho khu vực tạm đình chiến với chu vi rộng khoảng 200 dặm, thuộc vùng cổ chiến trường của quốc gia Tát-tha-ni-thấp-phạt-la miền Trung Ấn Độ cổ xưa.
lẽ khi sắc ban tấm biển “Vô song phúc địa” (Đất phướcsong) cho chùa Kính Thiên năm 1716, Minh vương Nguyễn Phúc Chu đã có ngụ ý bao hàm cả hai nghĩa trên: chùa Kính Thiên vừa là chốn phạm năng lực sinh ra phước đức; đó cũng là ngôi chùa nằm trên vùng đất tạm đình chiến giữa hai thế lực Đàng Trong Đàng Ngoài. Câu đầu tiên của bài minh nói trên đã dẫn nguyên văn bốn đại tự “Vô song phúc địa” do Minh vương Nguyễn Phúc Chu sắc ban chùa Kính Thiên năm xưa vậy.
338 Phạm cung (梵 宮): Vốn chỉ cung điện của Phạm Thiên, sau dùng để chỉ chùa Phật.
 




Vạn pháp quy tông Tư hội340 tnh thổ
Tái chú hồng chung341 B thanh342 nhất hng
Tượng pháp343 t thông344 Khoát khai đạo dũ
Tnh khi mê lung Tam minh345 mậu đạt Lục nhập346 tiêu dung



339 Tứ dân (四 民): Bốn hạng dân. Chỉ cho bốn tầng lớp: (), Nông (), Công (), Thương () trong cơ
cấu đời sống xã hội thời Trung đại.
340 Ở đây, chúng tôi nghĩ lẽ là chữ “hồi” () thì hợp lý hơn, theo đó “Tư hồi tịnh thổ” (茲 回 淨 土 - Nay về đất Phật).
341 Tái chú hồng chung (再 鑄 洪 鍾): Sách Ô châu cận lục của Dương Văn An cho biết, chùa Kính Thiên vốn
một ngôi phạm vũ có từ lâu đời, sinh hoạt theo quy chế chùa quan, có sái phu quét dọn, có đại hồng chung nặng hàng ngàn cân. Trước thời điểm năm 1553, tức trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm Thuận Hóa (1558) cho phục dựng chùa Kính Thiên (1609) hơn nửa thế kỷ, ngôi chùa này đã sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn trơ nền móng. Phải chăng khi cho đúc chuông chùa Hoằng Phúc (năm 1839), người viết bài minh này đã liên tưởng đến quả đại hồng chung Dương Văn An đề cập trước đó, nên mới nhấn mạnh: “Tái chú hồng chung” (Đúc lại hồng chung) (?).
342 Bồ thanh (蒲 聲): Âm thanh, tiếng vọng của con Bồ lao ( ), còn gọiđồ lao (). Bồ lao là một
trong số 9 phiên tử do rồng sinh ra (Long sinh cửu tử). Theo truyền thuyết, bồ lao thích âm thanh lớn và thích “gầm rống”, vì thế từ xa xưa người ta sử dụng hình tượng bồ lao để đúc trên quai chuông (như một cái móc treo chuông), với ngụ ý tiếng chuông vang vọng như tiếng bồ lao vậy.
343 Tượng pháp (象 法): Còn gọi “Tượng giáo” (象 教 - giáo lý tương tự với chánh pháp do Đức Phật
thuyết), chỉ cho một trong ba thời trụ thế của giáo pháp sau khi Đức Phật nhập diệt, đó là Chánh pháp (có người tu, người chứng); Tượng pháp (có người tu nhưng ít người chứng ngộ); Mạt pháp (hiếm người tucũng hiếm người chứng ngộ). Tượng pháp (象 法) ở đây chúng tôi tạm dịch là Phật pháp vậy.
344 Tứ thông (四 通): Xuất phát từ thành ngữ “Tứ thông bát đạt” (四 通 八 達 - thông bốn hướng, rõ tám
phương). Câu này hàm ý: một khi tiếng chuông vang lên, giáo pháp của Đức Phật theo đó được lan truyền khắp nơi vậy.

345 Tam minh (三 明): Tiếng PhạnTri-vidya, theo Phật Quang đại từ điển, Tam minh gồm 2 nhóm nghĩa:
    1. Tam Minh: Cũng gọiTam đạt, Tam chứng pháp, chỉ cho trí tuệ sáng tỏ, thông đạt ngại, trừ hết ngu muội, chứng được vị Vô học. Tam minh gồm có: [1] Túc mạng minh: Trí tuệ biết rõ tướng trạng của mình và chúng sinh từ một đời cho đến trăm nghìn vạn ức đời; [2] Thiên nhãn minh: Trí tuệ biết rõ tướng trạng sống chết của chúng sinh lúc tử lúc sinh, sắc thiện sắc ác, hoặc do nhân duyên tà pháp thành tựu ác hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường ác; hoặc do nhân duyên chính pháp thành tựu thiện hạnh, khi mệnh chung sinh vào đường thiện; [3] Lậu tận minh: Trí tuệ biết rõ như thực đã chứng được lý Tứ đế, giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất cả phiền não.
Theo luận Đại Tỳ-bà-sa (quyển 102): Túc mạng minh thấy được các việc quá khứ nên sinh tâm chán lìa; Thiên nhãn minh thấy được các việc vị lai mà sinh tâm chán lìa; Lậu tận minh thì đã chán lìa rồi bèn ưa thích Niết-bàn. Ngoài ra, Túc mạng minh có thể đoạn trừ thường kiến; Thiên nhãn minh có thể dứt trừ được đoạn kiến; còn Lậu tận minh thì xa lìa cả hai bên thường, đoạn mà an trụtrung đạo.
    1. Tam Minh: Chỉ cho Bồ-tát minh, Chư Phật minh minh minh. Theo kinh Đại bát Niết-bàn (quyển 18): Bồ-tát minh chỉ cho Bát-nhã Ba-la-mật, Chư Phật minh chỉ cho Phật nhãn, Vô minh minh chính Tất cánh không.
 



 
 












chú.

Ngưỡng kỳ Tam Bảo Ph giám đan trung347
Tam duyên348 liu thoát349 Ngũ phúc350 lai sùng  Pháp âm trường hưởng
Pht nhật351 thường trung352 Nhi kim nhi hậu
Truyền chi vô cùng. Cung hạ bái minh.
Thi: Minh Mạng nhị thp niên, tuế th K Hi lục nguyệt nhị thập thất nhật

Dịch nghĩa:

Bài minh [ghi lại vic chú đúc] chuông chùa Hoằng Phúc

Đất phước vô song Phm vũ bậc nhất
 


346 Lục nhập (六 入): Còn gọi là Lục xứ. Theo Phật Quang đại từ điển, 6 căn được gọi là “Nội lục nhập”; 6 trần được gọi là “Ngoại lục nhập”, gọi chung là “Thập nhị nhập” hoặc “Thập nhị xứ”. Theo đó, 6 căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) duyên với 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà sinh ra 6 sự nhận biết, hay 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) nên gọi là “nhập”; vả lại, 6 căn cùng 6 trần là chỗ nương của 6 thức, nên gọi là “xứ”.
347 Đan trung (丹 衷): Tấm lòng thành kính, kính cẩn, như nói “Xích thành chi tâm” (之 心).
348 Tam duyên (三 緣): Cũng gọi Nhiếp thủ tam duyên. Theo Phật Quang đại từ điển, Tam duyên chỉ cho Thân duyên, Cận duyên Tăng thượng duyên. Từ ngữ này có xuất xứ từ Quán kinh sớ định thiện nghĩa (quyển 3) của ngài Thiện Đạo đời Đường, nói về duyên do mà những hành giả tu Tịnh độ được ánh sáng của đức Phật A- di-đà nhiếp thủ. Ngoài ra, Tam duyên cũng chỉ cho Từ bi duyên (tức Chúng sinh duyên), Pháp duyên Vô duyên duyên.
349 Căn cứ vào ý nghĩa của từ “Tam duyên” (三 緣) như vừa giải thích ở trên, trong câu này, nếu đọc “Tam
duyên liễu thoát” (三 緣 了 - tức “hoàn toàn thoát khỏi ba duyên” [Thân duyên, Cận duyên Tăng thượng
duyên]) thì thật tối nghĩa. lẽ ở đây có sự khắc nhầm giữa chữ “Duyệt” () chữ “Thoát” (), vì tự dạng
của hai chữ này khá giống nhau. Theo đó, chúng tôi nghĩ rằng, câu trên phải được đọc là “Tam duyên liễu duyệt” (三 緣 了 悅 - tức “nhiếp thủ trọn vẹn ba duyên”, hoặc “có niềm vui rốt ráo với ba duyên”) thì lẽ hợp lý hơn.
350 Ngũ phúc (五 福): Chỉ năm chủng loại của cội phúc. Thiên Hồng Phạm (洪 范) trong Kinh Thư (書 經) nói: “Ngũ phúc bao gồm: [1] Thọ; [2] Giàu sang; [3] Khỏe mạnh, bình an; [4] Tu dưỡng đức hạnh tốt lành; [5] Chẳng gặp tai ương họa kiếp cho đến cuối đời” (五 福: 一 曰 寿; 二 曰 富; 三 曰 康 寧; 四 曰 攸 好 德; 五 曰
).
351 Phật nhật (佛 日): Ý nói mặt trời Phật, tức chỉ cho ánh sáng Phật pháp vậy.
352 Thường trung (常 中): Luôn luôn ở chính giữa, hoặc chính Ngọ. Cả câu này (佛 日 常 中 - Phật nhật
thường trung) có hàm ý rằng: Mặt trời Phật pháp luôn luôn ở chính giữa, chính Ngọ, tức ở vị trí cao nhất trong ngày, soi sáng khắp mọi nơi. Ở đây chúng tôi dịch “Phật nhật thường trong” cũng với hàm nghĩa đó, chỉ vì bị gò bó bởi âm luật nên tạm dịch vậy.
 




Bn dân hòa thuận Vạn pháp một dòng Nay v đất Phật Đúc li hồng chung
Mt tiếng chuông ngân Pht pháp cùng thông Đạo lành rộng m
Tnh ng lầm Ba minh sáng tỏ
Sáu nhp dung thông Ngưỡng cầu Tam Bảo Rũ xét thành tâm
Ba duyên hội đủ Năm phúc hợp cùng Pháp âm vang mãi
Pht nht thường quang Từ nay về sau
Truyền đến vô cùng.
Cung kính bái dâng bài minh.
Chú đúc ngày 27 tháng 6 năm Kỷ Hi, niên hiệu Minh Mạng th 20 [1839].
  1. Nhận định và lời kết
Bài minh khắc trên chuông chùa Hoằng Phúc là một tư liệu quý, lưu giữ nhiu thông tin có giá tr liên quan đến ngôi cổ t được xếp vào hàng xưa nhất của Quảng Bình. Bài minh với văn phong cao nhã, tư tưởng uyên thâm, sử dụng nhiều điển tích, điển cố, nhiều thuật ngữ Pht học chuyên sâu, chứng tỏ người chấp bút viết bài minh này phải là người có s học uyên thâm, đặc biệt là về Phật học.
Lạc khoản khắc trên chuông cho biết quả đại hồng chung được chú đúc năm Minh Mạng thứ 20 [1839]. Không rõ vào năm này vua Minh Mạng có cho trùng tu chùa kết hợp chú đúc đại hồng chung hay không, vì trong chính sử triu Nguyễn không thấy nhắc đến mà chỉ cho biết nhà vua có ba lần ban cấp tiền trùng tu [và đổi tên chùa từ Kính Thiên thành Hoằng Phúc] xảy ra vào các năm Minh Mạng thứ 2 [1821], Minh Mạng th 4 [1823] và Minh Mạng thứ 7 [1826]. Rõ ràng đến cuối triều Minh Mạng, ngôi cổ t này vẫn nằm trong sự quản lý của vương triều; và kể cả dưới thi Thiệu Tr, chùa Hoằng Phúc còn được triều đình ban cấp tiền trùng tu hai lần vào các năm Thiệu Trị th 2 [1842] và Thiu Trị thứ 6 [1846]. Từ đó cho thấy, rất có khả 
năng việc chú đúc quả chuông này, vào thời điểm đó, vẫn nằm trong biên chế của triều đình, như trường hợp đại hồng chung chùa Thánh Duyên ở Thuận Hóa vy.
Vả li, xét về ngôn từ, ý chỉ được thể hin trong bài minh cũng phần nào cho thấy, đó chỉ có th là văn từ được phát xuất t thánh ý của bậc đế vương hoặc mệnh quan triều đình, hàng hạ quan hay thứ dân chắc chắn không dám lạm ngôn bng những từ ngữ như vậy. Chẳng hạn câu “Vô song phúc địa” ở đầu bài minh vốn được dẫn lại nguyên văn bốn đại tự của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu ngự ban cho chùa vào năm 1716 (xem chú thích (9) ở cuối bài); hoặc những lời ước nguyện được thể hin trong bài minh như: “Tứ dân thuận trạch” (bốn hạng dân [sĩ, nông, công, thương] vui sống, quy thuận); “Pháp âm trường hưởng” (Pháp âm vang mãi); “Phật nhật thường trung” (Mặt tri Phật pháp luôn chiếu soi lồng lng giữa tri)... Phải chăng, những lời ước nguyện thống thiết trong bài minh chính là tâm nguyện của các bậc tiên vương nhà Nguyễn mà về sau, khi vua Thiệu Trị ghé thăm chùa năm 1842 đã đọc được những dòng này mi chạnh lòng tương cảm và ghi lại bài thơ “Đề Hoằng Phúc tự” rằng: “Vạn hóa diêu nguyên hoàng giác diệu/ Thiên thu kim bích quốc ân hng/ Nguyện hoằng phước quả chúng sinh toại/ Phật nhật tăng huy đế đạo long” (Việc giáo hóa muôn đời của các bậc tiên đế tht diệu kỳ/ Đến ngàn sau chùa Phật vẫn ghi dấu ân trạch lớn của nước nhà/ Nguyện rộng gieo quả phước để chúng sinh khp cõi cùng chung hưởng/ Mặt tri Phật pháp càng sáng tỏ thì đạo của vua càng hưng thịnh vậy).
Trong quá trình khảo sát, giải mã bài minh khắc trên quả chuông, chúng tôi đã gặp không ít khó khăn khi phải tiếp xúc với một văn bản có quá nhiều sự biến thiên về mt tự dạng, do sự tác động của thi gian cùng những di chứng mà lch s để li.
Bài minh gm 20 câu, mỗi câu 4 chữ, tổng cộng có 80 chữ, nhưng trong đó chỉ có 24 chữ được khắc bằng nét đậm, có đến 56 chữ được khắc bằng nét mảnh, đấy là chưa kể tiêu đề, lời kết bài minh và lc khoản trên chuông (tng cộng 17 chữ) cũng đều được khắc bằng nét mảnh. Qua quan sát cho thấy, những chữ nét đậm của bài minh được khắc khá sc sảo, nét bút mạnh mẽ, dứt khoát và rất có uy lực; trong khi đó những chữ nét mảnh (chiếm đa số) lại được khc khá vụng về, thiếu tinh tế và kém uy lực, chưa kể một số chữ tn nghi là khắc thiếu chính xác.
Vì sao trong mt bài minh, xét về nội dung và âm luật chúng khá thng nht, nhưng về hình thức thể hin lại được khắc bằng hai loại tự dạng như thế? Qua nhiều ln khảo sát, cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được câu trả li khả dĩ về hiện tượng bất thường này, dù vẫn còn nhiều phân vân, rằng những suy luận ấy chưa hẳn đã chính xác. Khi phóng ln hình ảnh chụp trọn vẹn bài minh trên màn hình vi tính, 
chúng tôi tình cờ phát hiện trên thân chuông có khá nhiu vết rạn nứt đã được hàn gắn lại. Những vết rạn nứt này có nơi lan rộng thành từng mảng, và tất cả những mảng ấy, nếu quan sát kỹ s thy chúng được bồi đắp, trám vá bằng chất liệu đồng có màu sắc khác hẳn so với màu đồng nguyên thủy của toàn thân chuông. Đáng chú ý hơn, toàn bộ các chữ được khắc bằng nét đơn hầu như nằm trọn trong những mảng trámnày.
Từ đó chúng tôi cho rằng, 24 chữ Hán được khắc bằng nét đậm là t dạng nguyên thủy của bài minh còn sót lại (bởi nó đòi hỏi người thợ khắc chữ phải có tay nghề cao), và 56 chữ Hán nét mảnh với k thuật khắc vụng v là do người sau khắc li. Vì sao xảy ra hiện tượng này? Rất có th, quả chuông đã bị vỡ mt số mng (do lực tác động từ bên ngoài, hoặc do bom đạn chiến tranh), và một trong những mảng vỡ ấy lại rơi đúng vào vị trí có khắc bài minh chuông.
Toàn bộ bài minh chỉ có 80 chữ, tức không quá dài, nội dung lại hàm súc, âm vận hài hòa, dễ đọc dễ nh..., do vậy nếu trong trường hp quả chuông bị vỡ mt số mảng tại vị trí có khắc bài minh, người ta vẫn có th s dụng phương pháp thủ công để hàn gắn, trám vá lại, rồi sau đó cho khắc các dòng chữ của bài minh đã mt theo trí nhớ của mình (hoặc từ một văn bản được sao chép trước đó), và tt nhiên chỉ có th khắc bằng chữ nét mảnh353. Đó là lý do vì sao bài minh trên chuông chùa Hoằng Phúc, xét về nội dung và âm luật chúng hoàn toàn thống nhất, nhưng về mặt hình thức lại được th hin bằng hai loại tự dạng như hiện ti.
Để củng cố cho các suy luận nói trên, trong những lần quay lại chùa Hoằng Phúc sau này, ngoài việc thăm dò thông tin từ những vị cao niên tại địa phương, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, ghi hình bề mt phía trong lòng chuông để thẩm xét kỹ hơn. Những giả định mà chúng tôi đặt ra ban đầu đã dần sáng tỏ: các vết rạn nứt, các mảng trám vá bên trong lòng chuông đã hinmn một. Thêm vào đó, các vị cao niên tại địa phương cũng cho biết quả đại hồng chung này đã mất tiếng từ lâu, bi theo họ, suốt thời gian dài, với quyết tâm bảo quản quả chuông khỏi các biến cố làm hư hại, dân làng đã dấu nó dưới lòng giếng chùa, đến khi vt lên thì quả chuông đã hoàn toàn mất tiếng. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng, chính những vết rạn nứt, trám vá mi là nguyên nhân chính khiến quả chuông không còn ngân vang như xưa.


353 Về kỹ thuật hàn gắn, trám các mảng vỡ của đại hồng chung bằng phương pháp thủ công, chúng tôi đã trực tiếp gặp ông Nguyễn Văn Minh - chủ sở đúc đồng Nguyễn Văn Minh (49 Huyền Trân Công Chúa - Huế), ông khẳng định điều đó hoàn toàn thể thực hiện được mà không cần đến thợ tay nghề cao, kể cả việc khắc chữ nét đơn lên thân chuông. Tuy nhiên, đối với kỹ thuật khắc chữ nét đôi thì hoàn toàn ngược lại, chỉ người có tay nghề cao mới khắc được các chữ nét đôi sắc sảo như thế.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây