25 - NNC. Nguyễn Hữu Thông & ThS. Lê Thọ Quốc - BẢO VẬT HIỆN CÒN CỦA CỔ TỰ HOẰNG PHÚC

Thứ hai - 16/12/2019 03:50
 
BO VẬT HIỆN CÒN CỦA CỔ TỰ HOẰNG PHÚC
 

NNC. Nguyễn Hữu Thông* ThS. Lê Thọ Quốc**

 
  1. Mở đầu
Lần tìm v những ngôi cổ t trên đất Quảng Bình, chúng tôi cứ trăn trở chắc hn không còn gì, dù trong các thư tịch cổ như Thánh đăng lục, Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Đồng Khánh địa chí… đã nhắc đến rất nhiều các ngôi cổ t t thu ban đầu khi vùng đất này sáp nhập vào Đại Việt cho đến các triều đại sau này. Bởi rằng, trong lịch sử vùng đất này phải chu nhiều chính biến khi nó đã từng là vùng biên viễn, nơi địa đầu của quốc gia Đại Việt về phía nam, nơi từng trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt trong lịch sử, đặc biệt qua hai cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và Mỹ, nên hệ thng chùa chiền, các tự khí, pháp khí… phần nhiều đã bị hư hại theo thời gian, chiến tranh binh lửa cũng như những tác động chủ quan của con người.
Qua nhiều đợt khảo sát thực địa (tại vị trí 3 ngôi cổ t Hoằng Phúc, Cảnh Tiên và Kim Phong trên địa bàn huyện Lệ Thủy Quảng Ninh), quả thật các ngôi c tự, quan tự danh tiếng một thời của vùng đất này hầu hết đã lụi tàn. Tuy vậy, vi những hiện vật còn lại, ít ỏi nhưng cũng cho thấy dấu ấn một thời hưng thịnh, huy hoàng của Phật giáo trên quê hương Quảng Bình. Trong bài viết này, chúng tôi ch tp trung khảo tả và đưa ra những nhận định, đánh giá bước đầu về các di vật hiện còn bảo lưu được của cổ t Hoằng Phúc (tọa lạc tại xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), qua đó có thể giúp ta có được một cái nhìn tương đối về tình trạng Phật giáo trên vùng đất này với bao cung bậc thăng trầm trong lch sử.
Chùa Hoằng Phúc, có thể nói là ngôi cổ t có mặt sm nhất trên vùng đất Quảng Bình kể t khi mảnh đất này sáp nhập vào bản đồ Đại Vit. Thánh đăng lục Ô châu cận lục cho biết, từ nguyên ủy nó chính là am Tri Kiến, từng là nơi dừng chân của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong chuyến Nam du năm 1301. Về sau, năm 1609, chúa Nguyễn Hoàng cho dựng chùa Kính Thiên ngay trên nềncủa ngôi thảo am này; năm 1716, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho trùng tu sửa chữa, sắc ban biển hiu

  • Nhà nghiên cứu Văn hóa, nguyên Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế
** Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế
 




và 5 cặp đối liễn treo ở chùa; đến đầu triều Minh Mạng, nhà vua cho trùng tu chùa và đặt tên là Hoằng Phúc tự. Ngôi cổ t này bị tàn phá nhiều lần trong các cuộc chiến tranh, hệ thống tượng thờ, pháp khí hầu như bị hư hại, mất mát khá nhiều. Những còn lưu giữ được đến tận hôm nay là nhờ người dân bảo quản, bằng cách chôn xuống đất. Cũng nhờ đó chúng ta mới có cơ duyên còn gặp được các bảo vật của chùa Hoằng Phúc như các pho tượng Phật, tượng Thánh, đại hồng chung, tòa Cửu long, các pháp khí và đối, liễn… (phần lớn các hiện vật khia đoàn chúng tôi khảo sát đều được bo quản cẩn mật tại tr s Uỷ ban Nhân dân xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy).
Qua nghiên cứu, khảo sát các hiện vật còn lại, chúng tôi nhận thấy mỗi hiện vật đều có những đặc trưng khác nhau về phong cách chế tác, nghệ thuật tạo hình lẫn ý nghĩa biểu trưng văn hóa tín ngưỡng tâm linh Phật giáo, tương ng trong những khong thời gian nhất định khi hiện vật đó ra đời.
  1. Các di vật hiện còn ca cổ tự Hoằng Phúc
    1. Dấu tích cổng tam quan chùa
Tam quan chùa Hoằng Phúc hầu như đã bị sp hoàn toàn. Dấu tích còn lại chỉ là mt vòm cổng phía bên trái (từ trong nhìn ra), có tên “Tả Quảng Độ Môn”, là một bộ phn trong tổng thể cổng tam quan chùa Hoằng Phúc còn lưu lại khá nguyên vẹn. Những vị cao niên có nhiều năm gắn bó với chùa cho biết, đến sau năm 1975, cổng tam quan và tường rào bao quanh chùa vẫn còn khá nguyên vẹn, nhưng về sau khuôn viên chùa một thời được trưng dụng làm hp tác xã, lấy đất sản xuất nông nghiệp, cng với sự ln chiếm của dân cư nên tam quan chùa cùng các hng mục khác dần dần bị xâm hại và đi đến tàn lụi như hiện nay.
Trên tổng thể, cổng được thiết kế có các bậc tam cấp đi lên nhưng nay đã bị đất cát bồi lấp. Qua khảo sát, đo đạc thực tế cho thấy, phần cổng còn li này có chiều cao tng thể 4,60m (tính t chân lên đến đỉnh), rộng 3,90m và dày 1,0m, cốt được xây bằng gạch, bên ngoài ph lp vôi, xi-măng vừa để to các chi tiết hoa văn, vừa bảo v ct gạch. Vòm cổng cao 1,80m; rộng 1,50m; dày 0,35m, phần phía sau cổng hiện vẫn còn du tích của hệ thống chốt cửa gồm hai mở vào trong.
Cổng được xây cốt bằng gạch. Qua quan sát cho thấy, gạch được sử dụng ở đây có nhiều loại và kích cỡ khác nhau, chiều dài các viên gạch dao động từ 24cm đến 30cm; rộng từ 12,5cm đến 13,5cm, độ dày các viên gạch không đồng nhất: 0,25cm, 0,32cm, 0,35cm và 0,5cm. Điều này cho thấy, cổng được xây dựng lại sau này bằng vic tn dụng tất cả những nguồn nguyên liệu khác nhau hiện có trên đất chùa.
Phn mái cổng được đắp phù điêu tạo hình sen hóa dạng rất khéo léo, xung quanh viền trang trí dây cuốn tạo nên v mềm mại của lá sen trên mái cổng khô cứng; 
đồng thời vừa tôn lên nét uy dũng của mặt rồng, vừa tạo nên sự cân xứng hài hòa trong việc phối trí giữa mái cổng và cấu trúc tổng thể của vòm cổng. Mô-típ “Long hàm thọ” trang trí trên mái cổng được xem mô-típ khá đặc trưng và phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, thường thấy xuất hiện trên các công trình kiến trúc lăng tẩm, tín ngưỡng tôn giáo ở vùng đất miền Trung.
Ngay trên vòm cổng, ở chính giữa, có đắp một biển hoành với bốn đại tự “Tả Quảng Độ Môn”. Biển hoành có chiều dài 1,75m, chiều rộng 0,26m; bốn đại tự có cỡ chữ 20cm x 20cm, giãn cách giữa các chữ là 22cm. Hai bên vòm cổng có đắp hai trụ nổi, đầu và đế tr có ô hộc trang trí, thân trụ khắc hai câu đối (qua thời gian bị phong hóa bào mòn, các ch trên hai câu đối này đã mất hẳn dấu vết, không còn thấy chữ). Như vậy, dựa vào vị trí và thông tin được ghi lại trên cổng (Tả Quảng Độ Môn) cho biết, đây là vòm cổng nằm ở phía tả hin còn trong tổng th tam quan của chùa, bao gồm vòm cổng chính ở giữa và đối xứng bên kia chính là “hữu môn”. Chắc chắn rằng sẽ có cổng phía hữu làm nơi ra vào sinh hoạt trong chùa bên cạnh hệ thng cổng tam quan chính giữa.
    1. Vt liệu, cấu kin xây dng
    • Mt Lân hóa (hay còn gọi là mặt Nã): Một loại phù điêu trang trí đắp hình Lân hóa, được làm bằng ximăng, dài 52cm, cao 33cm và dày 14cm. thể đây là một phần cấu kiện được sử dụng trang trí trong h thng kiến trúc chùa (có th trang trí trên bình phong hoặc trên cổng) bị bong tróc. Hiện vật này khi chúng tôi khảo sát đang được lưu giữ ti phòng bảo quản của UBND xã Mỹ Thủy.
    • Các loại ngói, gạch có nhiều kích cỡ dài ngắn, chủng loại lẫn chức năng sử dụng khác nhau, được người dân và chính quyền địa phương trong lần trùng tu xây dựng lại chùa quy tập, lưu giữ ti kho UBND xã Mỹ Thủy. Gồm có: [1] Loại gạch hình chữ nhật ln, có chiều dài 26cm, rộng 12,5cm và dày 5cm; [2] Loại gạch nhỏ có chiều dài 13cm, rộng 10cm và dày 3cm; [3] Ngói liệt có chiều dài 19,5cm, dày 1cm và rộng từ 15,2cm đến 15,5cm; [4] Ngói âm dương có chiều dài 17,5cm, rng 15cm và dày 1cm.
    1. H thống tượng th
Các vị cao niên tại địa phương cho biết, hệ thống tượng thờ ti chùa Hoằng Phúc trước đây có số lượng khá lớn, được thiết trí trên 7 cấp thờ vi nhiều tượng ln, nhỏ khác nhau. Trải qua những thăng trầm của lch sử, đa số tượng Phật, tượng Thánh của ngôi ct này phần lớn đã bị hư hại, mục nát hoặc thất tán. Hiện chùa chỉ còn lưu lại được 7 pho tượng các loại, vi chất liệu tạo tượng, kỹ thut chế tác, kiểu dáng và mỹ thuật trang trí khác nhau. Trong đó có 5 pho tượng bằng đồng (1 tượng Phật Thích Ca, 1 tượng Bồ-tát Địa Tạng, và 3 pho tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Cả 5 pho tượng đồng này, vào thời điểm đoàn chúng tôi khảo sát, đang được bảo quản tại UBND Mỹ Thủy) và 2 pho tượng bằng gỗ (1 tượng Hộ Pháp 1 tượng [nghi là] Giám Trai Sứ Gi, cả hai pho tượng gỗ này tại thời điểm đoàn chúng tôi khảo sát đang được phụng thờ ti nhà tạm trong khuôn viên chùa Hoằng Phúc).
Riêng 5 pho tượng đồng, người dân địa phương cho biết, để gìn giữ được đến tn hôm nay nhờ s quyết tâm bảo quản của dân làng. Sau năm 1975, người dân đã s dụng đá ong có sẵn tại chùa xây một bệ vuông trước sân chùa đặt các pho tượng vào đó, dùng đất xỉ than đổ vào chèn lại và lấp kín các pho tượng, rồi phía trên người ta cho đổ bê-tông lấp kín, biến nơi cất giấu tượng trở thành một bàn thờ trời. Đến cuối năm 2014, khi khởi công xây dựng chùa, người ta khai quật và đưa các pho tượng về bảo quản tại trụ s UBND xã Mỹ Thủy như hiện nay.
      1. Tượng Phật Thích-ca
Cht liệu đồng, hiện đã bị gãy mất phần đầu. Tượng ngồi kiết-già tọa thiền, khoác áo ca-sa phủ toàn thân, một tay bắt quyết ấn chú với ngón tay trỏ chụm vào ngón tay cái và ba ngón tay còn li duỗi thẳng, đặt ngửa ở trên chân và một tay đưa lên đến giữa ngực khum lại như đang cầm [đóa sen]. Tượng nặng khoảng 5kg, từ vai xung cao 15cm [mất phần đầu], vai rộng 10cm, vòng chân xếp bằng rộng 13,5cm, thân tượng dày 5cm, phần đế cao 10cm.
Đây là kiểu tượng ngồi tọa thin theo thể loại Hàng Ma324, một hệ tượng rất hiếm thấy trong hệ thống tượng cổ của các chùa ở nước ta325. Hoặc căn cứ vào kiểu tay ấn quyết và cầm [hoa sen], cũng có thể định danh đây là thể loại tượng “Niêm hoa vi tiếu” – mt hệ tượng khá phổ biến ở các chùa326 t Bc chí Nam. Tuy b mt phần đầu, nhưng qua kiểu dáng, y phục và tay bắt n quyết, chúng ta cũng có thể xác quyết rằng đây chính là tượng Phật Thích-ca.
      1. Tượng Bồ-tát Địa Tng




324 Trong Phật giáo, Kiết-già phu tọa có ý nghĩa là cách ngồi yên ổn, không mỏi mệt lay động, khiến ma vương phải sợ hãi. Kiết-già phu tọa có hai loại: Cát Tường Hàng Ma. Cách ngồi Hàng Ma cách ngồi xếp bằng, bàn chân phải đặt lên bắp đùi trái, bàn chân trái đè lên bắp đùi phải, hai bàn tay đặt phía trước, bàn tay trái đặt ngửa trên bàn tay phải. Cách ngồi Cát Tường là ngược lại với cách ngồi Hàng Ma, cũng có tên là Liên Hoa tọa. 325 Theo PGS.TS Chu Quang Trứ trong bài viết “Một số quy cách về tạo tượng Phật” cho rằng: tượng Phật Thế Tôn chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được căn cứ trên cách đặt tay để nhận định tượng ngồi theo thế tọa thiền Hàng Ma và xác định đây là loại tượng ngồi rất hiếm thấy [Nguyệt san Giác Ngộ, số 159/2009, tr.38].
326 Hình thức thờ này còn được gọi là Hoa Nghiêm tam thánh, với Đức Phật Thích Ca ngồi ở giữa cầm hoa sen, như khi Ngài thuyết pháp ở núi Linh Thứu; hai bên tả hữu là Ca Diếp và A Nan đứng hầu. Tuy vậy, cũng có nơi thờ tượng Thích Ca thuyết pháp ở giữa, hai bên là hai vị Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền.
 




Tượng được đúc bằng đồng, tạc theo thế ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, chân buông thõng xuống, hai bàn chân đặt cách nhau đối xứng, đầu đội mũ Tỳ-lư, mình khoác y ca-sa, tay trái để ngửa trước bụng (trên tay hạt minh châu), tay phải cầm tích trượng chống xuống đất, khuôn mt bầu tròn, cân đối; các nếp áo được tạo tác rất sinh động. Từ chân đến đỉnh mũ Tỳ-lư, tượng cao 34cm, vai rộng 13cm, thân dày 5,5cm; phần đế ngồi rộng 12cm, độ m tính từ hai đầu gối rộng 16,5cm.
Tượng Bồ-tát Địa Tạng vi thế ngồi và kích thước nhỏ như thế này là một hệ tượng khá hiếm. Kiểu dáng và kích thước này gần như khá giống với tượng B-tát Địa Tạng mà chúng tôi từng gặp tại chùa Thánh Duyên (Phú Lc, Thừa Thiên - Huế) trong quá trình khảo sát điền dã phục vụ chuyên đề Liu Quán s 3. Tượng ở chùa Thánh Duyên còn khá nguyên vn, ngồi trên lưng Đế thính. Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng tượng Bồ-tát Địa Tạng ở chùa Hoằng Phúc có lẽ cũng ngồi trên lưng Đế thính. Đáng tiếc hiện chỉ còn mỗi thân tượng, Đế thính, minh châu và tích trượng đều không còn, lp áo ca-sa cũng không giữ được nguyên bản mà đã bị phủ sơn ta.
      1. B tượng Ngọc Hoàng - Nam Tào - Bắc Đẩu
Khi mi tiếp cận, chúng tôi thoáng nghĩ có lẽ đây là 3 pho tượng thuc bộ Thập Điện của cổ t Hoằng Phúc còn lại. Tuy nhiên sau khi nghiên cu kỹ về tiếu tượng học, như kiểu dáng tượng, các vật cầm trên tay, những họa tiết, hoa văn trên áo mão, và qua nghiên cứu các tư liệu liên quan cùng việc đối chiếu vi hệ tượng tương đồng hiện thờ tại chùa Quan Âm (Đức Trạch, B Trạch), chúng tôi có đủ cơ sở để xác quyết đây chính bộ tượng Ngọc Hoàng. Bộ tượng gồm 3 pho: Ngọc Hoàng ngồi ở giữa, hai v Nam Tào, Bắc Đẩu ngồi hai bên.
Tượng Ngọc Hoàng: Tượng ngồi trên ngai g, hiện không còn nguyên vẹn, bị vỡ mt mảng lớn ở phần ngực, ngai gỗ cũng không còn. Chiều cao t chân đế tượng đến đỉnh mũ là 0,95m, trong đó phần thân tượng cao 0,65m, phần đầu tượng cao 0,30m (gồm cả mũ), phần chân đế tượng rộng 0,60m, dày 0,40m, phần vai tượng rộng 0,32m, dày 0,15m. Hai tay tượng đưa về phía trước ngực, chum vào nhau, tay phải đỡ tay trái cầm hốt. Hốt dài 8,5cm, rộng 5,7cm, dày 1cm. Chân tượng buông thỏng xuống, hai bàn chân đặt cân đối, với độ rộng giữa hai chân là 0,485m. Đầu tượng đội mũ bình thiên (mũ miện), mặt trước mũ (ở giữa) có phù điêu rồng bay lượn rất uy mãnh, vành mũ (phía trước) có phù điêu hình mặt tri lửa và hai con rồng chầu vào. Thân tượng khoác áo long bào, phần áo trước bụng trang trí phù điêu hình con rồng đang uốn lượn, lưng thắt dây đai ngọc rũ xuống, đai ngọc có trang trí hoa văn. Riêng phần ngực do bị vỡ nên không còn nhận diện được các hoa văn trang trí mt cách đầy đủ.

Tượng Nam Tào và Bắc Đẩu: Tượng ngồi, cả hai pho hiện còn khá nguyên vn, nhưng ngai gỗ đã không còn. Cả hai tượng kích cỡ như nhau. Chiều cao mỗi tượng tính từ chân đế tượng lên đến đỉnh mũ là 0,80m, trong đó đầu tượng cao 0,28m (tính cả mũ), thân tượng cao 0,52m, chân đế tượng rộng 0,60m, dày 0,35m, vai tượng rộng 0,285m, dày 0,13m; chân tượng buông thõng xuống, hai bàn chân đặt cân đối với độ rng giữa hai chân là 0,40m; hai tay duỗi đặt trên 2 đầu gối, trong tay trái cầm cuốn s và tay phải cầm bút (đây là hai vị gi và ghi chép sổ sanh và sổ tử). Đầu tượng đội mũ phốc đầu, mặt trước mũ có trang trí hai phù điêu mặt tri lửa, vành mũ (phía trước) có phù điêu hình mặt tri lửa và hai con rồng chầu vào. Thân tượng khoác cẩm bào (triều bào), từ vành cổ xuống ngực áo có trang trí phù điêu ngọc như ý, hai bên có phù điêu rồng chầu; vạt áo trước bụng có trang trí phù điêu “Long mã phụ thọ”; lưng có thắt đai ngọc xuống, trên đai trang trí hoa văn.
Về kỹ thut chất liệu tạo tượng: Thoạt nhìn, cứ ngỡ 3 pho tượng này được chế tác bằng kỹ thuật đất nung, cốt tre327. Nhưng thực tế, cả 3 pho tượng đều được đúc bằng đồng với kỹ thuật rót đồng rất tinh xảo, biểu hiện rõ nhất qua dấu tích còn lưu lại trên đầu tượng của hai vị Nam Tào và Bắc Đẩu. Qua khảo sát thực tế cho thấy, t phần vai tượng trở lên, tượng được đúc bằng lớp đồng rất mng, chỉ khoảng từ 1,5mm đến 2mm, có cảm giác như người ta chỉ áp lá đồng vào cốt tượng; từ vai tượng trở xuống có phần dày hơn, khoảng từ 2mm đến 8mm; li có những bộ phận đồng được rót đúc đặc như ở chân và tay. Để xử được vấn đề này chứng t kỹ thut đúc đồng cực cao, đạt đến độ tinh xảo gần như hoàn mỹ, mà cho đến nay kỹ thut hiện đại cũng khó mà giải quyết thấu đáo được. Chúng tôi tạm hình dung quy trình chế tác tượng như sau: sau khi đã rót đồng đúc xong cốt tượng, có lẽ người ta lại phải gia công thêm mt lần nữa bằng việc chỉnh sửa, dùng vôi để tô đắp các chi tiết b li do đồng không chảy đến, như ở đỉnh vai, ở các ngón tay…, sau đó dùng sơn sống để hoàn thin khuôn mặt, tạo màu, và công đoạn cuối cùng sơn son thếp vàng tượng.
Dựa vào kỹ thuật chế tác, độ phân hóa của đồng qua thời gian, cùng với việc người ta đặt những đồng tiền yểm tâm tượng, chúng ta có thể nhận định: cả ba pho tượng này có niên đại sớm hơn thời Nguyễn, rất có thể rơi vào khoảng thời Hậu Lê, khi hệ thống tượng Phật, tượng Thánh ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng về chất

327 Đây là loại tượng đất được tạo tác theo quy trình: nắn cốt tre tạo hình bên trong để giữ vững cũng như kết nối phần đầu, thân và tay, chân tượng. Tiếp đến nhào nặn đất sét có trộn trấu, xỉ than thật nhuyễn rồi đổ lên cốt tre tạo hình chính cho pho tượng, sau đó dùng đất sét vàng để làm láng bề mặt tượng bên ngoài. Khi hình cốt của tượng đã thành hình, người ta đem nung chín rồi sau đó diễn tả các chi tiết hoa văn, sắc phục… bằng vôi. Sau khi lớp vôi này khô, người thợ phủ lên một lớp sơn sống để tạo màu cũng như để sơn son thếp vàng tượng
 

liu lẫn nghệ thuật tạo hình, đặc biệt việc th loại hình tượng Ngọc Hoàng tại các ngôi chùa ở min Bắc lại khá thịnh hành vào thời đó.
      1. Tượng Hộ pháp
Tượng Hộ pháp được tạc bằng gỗ theo thế đứng trên bệ, mang dáng hình võ tướng, đầu đội mũ kim khôi, thân mặc giáp trụ hình rồng, tay trái chắp trước ngực, tay phải đỡ binh khí gác qua vai, chân đi ủng, hai chân đứng so le như bước ti. Tượng cao 1,22m (tính c đế 0,12m), đầu tượng cao 0,23m, vai rộng 0,33m, phần hông dày 0,26m. Đế tượng hình chữ nhật, có chiều dài 0,50m, rộng 0,42m, cao 0,12m (hiện đang thờ ti khu nhà tạm trong khuôn viên chùa Hoằng Phúc hiện nay).
      1. Tượng Giám Trai Sứ Gi
Nhiu ý kiến cho là tượng Quan Thánh, nhưng qua quan sát chúng tôi nhận thấy có l đây là tượng Giám Trai Sứ Giả. Tượng được tạc bằng gỗ theo thế ngồi trên ngai, đầu đội buộc khăn, chính giữa ngực có một nút thắt, một tay để trên đầu gối, một tay cầm sách, hai chân thu hẳn vào trong phần ngai ngồi và tà áo che nên không thy rõ. Tượng cao 1m (tính c đế 0,10m), rộng 0,40m; phần đầu cao 0,21m, vai rộng 0,24m. Bệ tượng hình dáng lục giác vi mỗi cạnh 0,22m, cao 0,10m (hiện đang thờ ti khu nhà tạm trong khuôn viên chùa Hoằng Phúc hiện nay).
    1. Một s pháp bảo khác
      1. Tòa Cửu long
Tòa Cửu Long biểu tượng ý nghĩa và sinh động nhất về truyn thuyết Đản sinh của Đức Phật Thích Ca. Theo đó, khi Ngài đản sanh có 9 con rồng phun nước thơm để tm cho Ngài, xung quanh còn có các v Đế Thích, Phạm Thiên cùng các thiên thần ca ngợi, tán thán. Trong lịch sử, phải đến thế kỷ XVII mới thấy xuất hiện tòa Cửu Long được thờ trong chùa để biu thị cho sự Đản sanh của Đức Phật. Và tòa Cửu Long được đánh giá là cổ nhất ở nước ta hiện nay chính là tòa Cửu Long hiện được lưu giữ ti chùa Keo (Thái Bình). V sau, các ngôi c t khác cũng có phụng th tòa Cửu Long, nhưng càng về sau kỹ thuật chế tác và nghệ thut tạo hình tòa Cửu Long ngày càng đa dạng vi nghệ thuật chm trổ cao hơn, ngoài biểu tượng 9 con rồng còn có phối cảnh Đế Thích, Phạm Thiên xưng tụng, trổi nhc hòa ca.
Tòa Cửu Long hiện còn ở chùa Hoằng Phúc một bảo vật quý, mc dù so vi các tòa Cửu Long khác nó được chế tác một cách đơn giản hơn, nhưng lại được đánh giá cao về mặt kỹ thuật, nghệ thut tạo hình cũng như ý nghĩa biểu hiện.
Tòa được kết cấu làm hai phần, phần đế và phần thân. Phần đế hình khối tròn, chất liệu gỗ, được chạm trổ và tạo hình như một long ngai, có đường kính 32cm, cao 20cm (vành lưng phía sau cao 33cm). Trên mặt đế 2 lỗ mng nhỏ nằm sát hai bên thành, dùng để khớp nối vi phần thân Cửu Long. Chính giữa mặt đế được khoét một hình vuông, có cạnh 10cm, sâu 2cm, là nơi để tôn trí tượng Đức Phật đản sanh (tượng 
Đản sanh hiện không còn). Phần thân Cửu Long được chế tác bằng đồng, có hình elip cong vươn ra phía trước như chiếc bảo cái, được sơn son thếp vàng. Chiều cao tính từ mặt đế lên đến đỉnh đầu rồng 62,5cm, chiều rộng tính từ hai điểm mở rộng nhất ở giữa là 56cm. Trên hình elip được bố trí 9 đầu rồng, mỗi đầu rồng đều lộ rõ hai chân trước, đuôi nối kết vi nhau liên hoàn bằng các vân mây. Đầu rồng chính được bố trí ở vị trí cao nhất trên hình cung elip, có dáng v uy dũng, đầu mập hơn so với thân, mt lộ ra ngoài, miệng rộng, mũi sư tử, trán vồ nhô cao, đầu nhô hẳn ra trước tạo thành một bảo cái che bức tượng Đản sanh phía dưới, trên đầu có hai sừng ôm lấy vầng mây phía sau. Tám đầu rồng còn lại được bố trí đối xứng nhau ở hai bên tạo thành hình thân quang.
      1. Tòa sen
Cht liệu gỗ, sơn son. Hiện chùa chỉ còn giữ được một tòa sen nguyên vẹn, có đường kính 55cm, cao 20cm (hiện được sử dụng để tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca ti nhà tạm trong khuôn viên chùa Hong Phúc hiện nay) và một tòa sen chỉ còn lại ¼ (được bảo quản tại trụ s UBND xã Mỹ Thủy). Đây có thể là những tòa sen còn lại ca hệ thống tượng Phật cổ ở chùa Hoằng Phúc trước đây. Qua khảo sát cho thấy, kết cấu của các tòa sen không phải được làm liền khối mà được lắp ghép từ các phần khác nhau, kết nối vi nhau bằng các chốt mộng.
      1. Đại hồng chung, hoành phi, câu đối
Tại kho bảo quản của UBND xã M Thủy, tại thời điểm đoàn chúng tôi khảo sát, còn lưu giữ một quả đại hồng chung chùa Hoằng Phúc được chú đúc năm Minh Mng thứ 20 [1839]. Bên cạnh đó còn lưu giữ phần khung của một bc hoành phi cổ (lòng bức hoành không còn), chất liệu gỗ, dài 1,37m, rộng 0,62m, dày 0,055m, được chm trổ hình long ẩn vân chầu đao lửa rất sinh động. Có lẽ đây là phần khung của mt bức hoành cổ trước đây của chùa Hoằng Phúc còn lại.
Đối liễn hiện chỉ còn một bức, chất liệu gỗ, dài 1,64m, rộng 0,22m, dày 2cm. Phần dưới câu đối đã mục nát nhiều nên mất đi một số chữ. Nội dung câu đối hiện chỉ còn lại 8 chữ: “Trang lĩnh đối linh đài thường văn cổ…” và dòng lạc khoản ghi: “Khải Định tam niên, Mậu Ngọ… tượng cẩm kim” (được làm vào năm Khải Định th 3 [1918]).
Ngoài ra, vào thời điểm đoàn chúng tôi khảo sát, tại nhà tạm ở chùa Hoằng Phúc còn thờ mt cặp hạc cổ bằng gỗ, cao 70cm, chm tr rất đẹp, dáng vẻ thanh thoát; ti kho bảo quản của UBND xã M Thủy còn lưu giữ mt bức hoành phi bằng gkhắc 3 đại tự: “Thiếu Lâm tự” với hai dòng lạc khoản bị mi xông thiếu mất thông 
tin: “Khải Định ngũ…”, “Đệ t Lễ bộ thượng…”328 và một bài vị ghi: “Phụng vị thp phương quá cố lit vị nhất thiết thần chánh đẳng chư hương linh tọa vị”. Cùng với các hiện vật khác, bức hoành phi cũng được cho chuyển từ chùa Hoằng Phúc lên. Có l chính vì nội dung bức hoành này đề “Thiếu Lâm tự” nên nhiều người cho rằng, ngôi chùa này còn có tên là chùa Thiếu Lâm (?). Tuy nhiên, chưa thấy sử liu nào xác thực điều này.
  1. Li kết
Kể t khi Quảng Bình chính thức sáp nhập về Đại Việt năm 1069, những lp người Việt đến định cư trên vùng đất này đã mang theo cả truyn thống văn hóa, tín ngưỡng của mình đến gieo hạt, ươm mầm trên vùng đất mới, và tt nhiên, ch dựa tâm linh gần gũi và thiết thân nhất đối vi họ chính là Phật giáo. Đó là lý do vì sao trong sut hành trình Nam tiến, người Việt đi đến đâu việc đầu tiên đối vi họ là lập chùa, th Phật. Chùa Phật được dựng lên trên vùng đất mi vừa là hình ảnh nhắc nhớ về quê hương nguồn cội, vừa nhân t có tính tương đồng giúp h nhanh chóng hòa nhập, kết nối với văn hóa, tín ngưỡng của cư dân bản xứ.
So vi miền Thuận Quảng, Quảng Bình là vùng đất biên viễn cực Nam và được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt sớm hơn cả 200 năm (từ 1069 đến 1306), theo đó các ngôi cổ t của người Việt hiện diện trên mảnh đất này dĩ nhiên cũng có trước các ngôi chùa được xây dựng ở min Thuận Quảng hàng mấy thế kỷ. Điều đó đã góp phần lý giải vì sao tại vùng đất này có sự hiện diện, chồng xếp lên nhau của các hệ tượng, pháp khí Phật giáo đa nguồn gốc, đa phong cách, đa chất liệu, và không ít trong số đó được chế tác với kỹ thuật, nghệ thuật mang phong cách tiền Nguyễn.
Có thể nhận thấy, những ngôi cổ t thi các chúa Nguyễn trên đất Quảng Bình nói chung và chùa Hoằng Phúc nói riêng đã có một bề dày lịch sử tn tại qua hàng thế kỷ, trở thành nơi quy tụ tâm linh, sinh hoạt tôn giáo cho cộng đồng dân cư. Các ngôi cổ t này, do vậy đã lưu giữ được nhiều pháp bảo quý hiếm, mang nhiều phong cách nghệ thuật, đặc trưng văn hóa của nhiều triều đại khác nhau. Điều này được thấy rõ qua hệ thng hiện vật còn lưu lại tại chùa Hoằng Phúc: đa dạng về chủng loi, mang nhiều phong cách nghệ thut cùng k thuật chế tác khác nhau. Chính điều này đã đặt ra nhiều giả thiết, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu và thẩm định kỹ hơn để có thể xác định được niên đại ra đời của các hiện vật, nhất là bộ tượng Ngọc Hoàng và tòa Cửu Long hiện còn của cổ t Hoằng Phúc.
Vi bề dày lch sử hơn 700 năm, chùa Hoằng Phúc hiện đang được đầu tư xây dựng lại với quy lớn. Thiết nghĩ, việc nghiên cứu sâu hơn để tìm ra những lời giải



328 Theo chúng tôi, bức hoành nàylẽ do Lễ bộ Thượng thư trí sự Huỳnh Côn (1850 - 1925) quê ở làng Trung Bính thuộc tổng Võ Xá, phủ Quảng Ninh, nay thuộc xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình dâng cúng chùa.





chân xác từ những bảo vật hiện tồn chắc chắn sẽ rất ý nghĩa đối với việc trùng tu, phc dựng, dù chỉ phn nào, diện mạo của ngôi cổ t này. Chúng tôi mong rằng, sau khi chùa mới hoàn thành, cần có một không gian trưng bày các hiện vật pháp bảo này để vừa có nơi cho mọi người đến chiêm bái, vừa là phương cách để bảo tồn, quản lý các bảo vật và đó cũng là lời tri ân đối vi các bậc tiền nhân đã dày công vun đắp cho mảnh đất này.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây