24 - NNC. Phạm Đức Thành Dũng - TÌM HIỂU THÊM VỀ CHÙA HOẰNG PHÚC QUA MỘT SỐ TƯ LIỆU CHỮ HÁN

Thứ hai - 16/12/2019 03:44
TÌM HIỂU THÊM VỀ CHÙA HOẰNG PHÚC QUA MỘT S TƯ LIỆU CH HÁN
 

NNC. Phạm Đức Thành Dũng*


Chùa Hoằng Phúc là một ngôi cổ t trên đất Quảng Bình, tọa lc ở phường Thuận Trạch, huyện L Thủy, nay thuộc về Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đây là một trong những ngôi cổ tlch sử lâu đời nhất, gắn vi nhiều sự kiện lch sử đặc bit, và cũng trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhất ở tnh Quảng Bình. Trước đây, chùa Hoằng Phúc đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trong những công trình nghiên cứu công phu, đặc biệt chúng tôi đã được tham khảo bài vở của nhiều tác giả, như Lệ Quang Phạm Ngc Hiên, Nguyễn Ngọc Trai, Trần Văn Chường... Các thông tin từ các công trình cung cấp khá thống nhất về mt sự kin lch sử, duy chỉ có một số thut ngữ chữ Hán chưa được thống nhất, như trên những hoành phi, minh văn, bài thơ, câu đối... của các nhân vật lch sử từng lưu lại ở ngôi c t này đã trước tác; do không được cung cấp liệu gốc nên cũng khó lòng đối chiếu.
  1. Một s suy luận từ thực địa và đôi chút nỗi nim
Được đến thăm địa điểm ngôi cổ t từng danh chấn một thời trong thời điểm đầu năm 2015, khi ngôi chùa đang được một dự án rất ln, rất quy mô, xây dựng mi hoàn toàn, chúng tôi cm thấy bần thần vì toàn bộ ngôi cổ t lúc by giờ chỉ còn lưu một chiếc cổng bên trái b bộ rễ của một cây đa bao trùm lên, khó khăn lắm chúng tôi mới đọc được bốn chữ Hán được tạo hình chuẩn mực: “Tả Quảng Độ Môn” (左 廣 度 門). Khảo sát chiếc cổng, chúng tôi có một số suy luận:
  1. Đây là một chiếc cổng cổ xưa nguyên gốc còn lại. Có thể không phải từ thi chúa Nguyễn Hoàng, nhưng chí ít cũng phải thời vua Minh Mạng. một số do:
- Nét chữ Hán sắc sảo, chuẩn mực, rất tương đồng vi chữ viết trên kiến trúc Huế.

  • Đường nét tạo hình và quy mô chiếc cổng tương đồng và tương đương với
 
những chiếc cổng cùng thời điểm này ở kiến trúc cung đình Huế.
    • Vt liu xây dựng như gạch ngói, vôi vữa... khá đặc thù cho thời đại vừa nêu.
    • Cây đa bao trùm lên chiếc cổng phải là những cây dại ghá vào từ bào tử và từ khi không có người chăm sóc cho đến khi thành cổ th như hiện nay, hẳn phải đến hàng trăm năm tuổi.


  • Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
 



 
  1. Tầm vóc của ngôi chùa, hay nói cách khác là v thế của ngôi chùa Hoằng Phúc trong h thống chùa dưới thi nhà Nguyễn, có thể khẳng định là một đệ nhất danh lam trong cách nhìn và hành x của triều đình Nguyễn, từ những cơ sở: một chiếc cổng bề thế là vậy mà chỉ là cổng phụ bên trái (Tả Quảng Độ Môn - 左 廣 度 ). Theo suy luận thông thường, hệ thống cổng ở đây quá sức quy mô, có th s được định danh theo 2 cách:
    • Thông thường phía bên phải là một chiếc cổng hoàn toàn tương đồng, có thể có tên gọi là Hữu Quảng Độ Môn (右 廣 度 門); chính giữa có thể là một cổng tam quan với tên gọi Chánh Quảng Độ Môn (正 廣 度 門), hoặc Đại Quảng Độ Môn (大 廣 度 門), hoặc đơn giản là Quảng Độ Môn ( 度 門).
    • Có thể cổng bên phải sẽ mang tên ca một từ kết hợp với từ bên trái thành một cặp phạm trù, như Quảng Độ đi với Hoằng Tế (như Tường Vân thường đi với Pháp ; Sùng Công đi với Tuấn Liệt; Thanh Long đi với Bạch Hổ...). Ở giữa sẽ là một chiếc cổng tam quan mang mt tên khác, vi nội hàm bao trùm. Trường hợp này theo chúng tôi xác suất nhỏ hơn, bởi vì nếu theo kiểu định danh này không cần phải thêm cm “tả, hữu”.
Dù thế nào thì đây cũng là một chiếc cổng vô cùng quy mô, ngay c kinh đô Huế trong giai đoạn ấy hình như cũng không có được mấy ngôi chùa có kiểu t hp cng kỳ vĩ như thế này. Điển hình cổng theo kiểu này còn lại đến nay ở Huế, có thể thy ở lăng vua Minh Mạng: Tả Hồng Môn, Hữu Hồng Môn Đại Hồng Môn.
Suy luận từ mt phần còn lại của hệ thống cổng cho phép chúng ta hình dung được quy mô và đẳng cấp của công trình, và có thể khẳng định được vị thế của ngôi chùa trong toàn hệ thống chùa chiền trong thời đại nhà Nguyễn, vì theo chúng tôi được biết không có nhiu những ngôi chùa có một hệ thống cổng bề thế và phân định th lp rạch ròi như một kiến trúc cung đình như vậy. Đây phải là một trong số ít ngôi chùa được xếp vào hàng đệ nhất danh lam của triu Nguyễn.
Mang tâm trạng lo âu khi nhìn thấy một danh lam đang trong một công cuộc xây dựng mi mà hẳn không được nhìn nhận như một di tích lch s quan trọng để vic phục hồi phải tuân thủ những nguyên tc bảo tồn di tích trong các hiến chương ca quốc tế và của Việt Nam quy định, chúng tôi cũng chỉ muốn tìm tòi để cung cấp thêm một s tư liệu nguyên bản để thống nht cách hiểu một số văn bản trước nay, cung cấp cho độc giả liệu gốc để rộng đường trao đổi, đồng thời mong mỏi thể giúp được đôi chút cho công cuộc xây dựng chùa khi đặt những vấn đề trưng bày hay phc hồi văn tự đối liên... đồng thời lưu giữ được một số nét văn hóa của ngôi chùa đã gắn vi những sự kin lch sử quan trọng liên quan đến những nhân vật lch sử văn 
hóa nổi tiếng như Phật hoàng Trần Nhân Tông, chúa Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn Phúc Chu, vua Minh Mạng, vua Thiệu Tr, Tùng Thiện vương Miên Thẩm... Hẳn là không mấy ngôi chùa được s quan tâm của nhiều yếu nhân như vậy.
  1. Tìm hiểu chùa Hoằng Phúc qua một s liệu
    1. C thư của Phật giáo: “Thánh đăng lục”
    • Đầu tiên chúng tôi xin b sung thêm một liệu nhắc đến sự kin Phật hoàng Trần Nhân Tông đến am Tri Kiến, ngôi thảo am vốn được xem là tin thân của chùa Kính Thiên, rồi Hoằng Phúc sau này. Trong một cuốn c thư của Phật giáo có tên Thánh đăng lục (nhiều nghiên cứu cho rằng tác giả là Thiền sư Kim Sơn đời Trần, cũng là người biên soạn sách Thiền uyển tập anh), có ghi lại thông tin như sau: “Tháng 10 năm Kỷ Hi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), [Phật hoàng Trần Nhân Tông] lên thẳng núi Yên Tử, tinh cần tu tập “mười hai hạnh đầuđà”, ly hiệu là Hương Vân Đại đầuđà, lập ra tinh xá Trượng Đề, mở pháp độ tăng, học lữ đến đông như mây quần hội. Sau đó, tại chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường, [Ngài] chiêu tp danh tăng, mở đạo tràng phiên giảng kinh điển quy mô lớn. Trải qua mấy năm, [Ngài] lại vân du phương ngoại, đến trại Bố Chính [Quảng Bình], chọn am Tri Kiến để cư ngụ...”.
Như vậy, từ thông tin của tư liệu trên chúng ta biết, Phật hoàng Trần Nhân Tông có đến am Tri Kiến, lại đó khá lâu để tu tập chứ không phải chỉ đến thăm như lâu nay vẫn hiểu.
    1. S liu triều Nguyễn: “Đại Nam nhất thống chí”
    • Tài liệu Đại Nam nhất thống chí ghi rõ, chúa Nguyễn Hoàng vào năm Kỷ Dậu
- 1609 (Thái tổ năm thứ 52) đã cho xây dựng chùa và đặt tên chùa là “Kính Thiên tự”; đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm Bính Thân - 1718 (Hiển Tông năm th 25) đã cho trùng tu chùa và chúa ngự bút ban cho chùa một bức hoành là Kính Thiên tự” ( 天 寺) và một bức là “Vô song phúc địa” (無 雙 福 地); đồng thi chúa còn ngự chế 5 cặp đối liên ban cho chùa. Về sau, trải qua loạn lạc, chùa đã bị hư
hỏng nặng nề. Đến năm Minh Mạng thứ 2 [1821], vua tuần du phương Bắc, có đến thăm chùa và ban cho tên mi là Hoằng Phúc; năm thứ 4 [1823], ban ngân sách 100 lng bạc để trùng tu; đến năm thứ 7 [1826], li ban ngân sách 150 lng bạc trùng tu một lần nữa. Đến năm Thiệu Trị thứ 2 [1842], vua ngự giá Bắc tuần đến thăm chùa và ban ngân sách 300 xâu tiền cho chùa; đồng thời ngchế một bài thơ để ghi li cảm xúc vi thắng tích này và cho khắc lên biển đồng để treo ở trong chùa; năm thứ 6 [1846], khi gặp đại lễ Vạn thọ tứ tuần đại khánh, lại thưởng cho chùa 300 xâu tiền. Cũng trong tư liệu này, sử quan của triều đình cũng dẫn thêm Ô châu cận lục của 
Dương Văn An cho biết: “Chùa Kính Thiên ở huyện Lệ Thủy, gần trạm Bình Giang, nước biếc uốn quanh, non xanh bao ph, thật là chùa lớn của Tân Bình vậy. Chùa có chuông lớn ngàn cân, có tăng quan, sái phu phụng sự...”; đồng thời ghi thêm: về sau chùa hư hỏng nặng chỉ còn lại di chỉ mà chúa Nguyễn Hoàng đã xây dựng, hoặc có th di chỉ này xây chng lên trên di chỉ đã nói...
Từ bản tư liệu trên, chúng ta có thể tin tưởng những thông tin vừa nêu. Ở đây, ch thiếu bài thơ của vua Thiệu Trị khắc ở biển đồng treo ở chùa, và có một điều đáng bàn là những cặp câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu ghi trong tư liệu này có đôi chỗ sai khác với trong Ngự chế thi của vua Thiệu Tr. Từ bài thơ của vua Thiệu Trị và bài thơ của Tùng Thiện vương lưu lại (Tùng Thiện vương được tháp tùng theo trong đợt Bc tuần và cũng có làm thơ ở chùa cùng thời điểm), chúng tôi hiu rằng, khi vua Thiu Trị ngự giá Bắc tuần đến thăm chùa Hoằng Phúc, lúc ấy chùa đã xuống cấp đến tàn tạ, nhưng rất may là những bút tích của chúa Nguyễn Phúc Chu vẫn còn ở đó. Vua Thiệu Trị cùng Tùng Thiện vương đề thơ ở đây đều có mang cảm xúc trước cảnh tiêu điều như vậy, và hẳn là 5 cặp câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu có ghi kèm trong Ngự chế thi của nhà vua, chính do nhà vua căn cứ trên thc trạng ngôi chùa vẫn còn treo những câu đối này để ghi chép. Những tác giả của Đại Nam nhất thống chí hẳn là phải dựa vào ghi chép lại trong Ngự chế thi của vua Thiu Trị để ghi, hơn nữa xét về mức nghiêm trọng khi xảy ra sai sót, hẳn là khi khắc Ngự chế thi buộc những người mang trng trách cẩn trọng hơn. Do vậy chúng tôi vẫn tin rằng thông tin trong Ngự chế thi của vua Thiệu Trị xác thực hơn.
Chúng tôi xin giới thiệu ở đây bài thơ của vua Thiệu Trị có chú kèm 5 cặp câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu được chép trong Thiệu Trị ngự chế thi (quyn 7 - tập), và bài thơ của Tùng Thiện vương cảm tác về cảnh chùa trong lần tháp tùng vua Thiu Trị tuần thú phương Bắc được ghi trong Thương Sơn thi tập.
    1. Ngự chế thi ca vua Thiệu Trị: Bài thơ đặc sắc ca vua Thiệu Trị và 5 cặp câu đối tuyệt đỉnh tri thức ca chúa Nguyễn Phúc Chu
Nguyên tác:

題 弘 福 寺

清 淨 虚 無 妙 莫 窮 何 關 顯 晦 色 歸 空 奎 光 照 妙 重 新 煥 寶 珞 慈 悲 大 廓 充
 



( 在 廣 平 省 廣 寧 府 麗 水 縣 係 國 初 時 欽 奉 我 太 祖 嘉 裕 皇 帝 俯 從 民 請 營 建 原 敬 天 寺 中 為 剌 麻 眾 旃 檀 功 德 未 了 回 祿 為 災 嗣 而 我 顯 宗 孝 明 皇 帝 用 廣 前 恩 崇 修 梵 宇 親 製 聯 章 云:
懸 寶 鏡 於 當 空 森 羅 萬 象, 燦 心 燈 於 性 地 妙 證 無 為; 大 道 弘 人 地 佈 黃 金 蓮 花 法 , 恒 沙 現 相 座 聯 碧 玉 水 月 禪 心; 擡 心 裏 之 香 金 爐 寶 篆 祥 雲 , 識 玄 中 之 妙 貝 葉 靈 文 法 雨 ; 鬧 市 建 禪 關 動 中 能 , 微 塵 明 自 性 有 本 宗 ; 一 聲 普 度 也 慈 悲 古 佛, 億 生 教 化 也 弘 願 如 來.
均 是 廓 推 善 果 錫 福 眾 生 明 命 年 間 我 聖 祖 仁 皇 帝 命 駕 時 巡 路 經 古 臨 幸 梵 敬 天 之 念 有 關 弘 福 之 名 特 賜 用 增 賁 前 徽 而 廣 昭 先 澤 也 爰 發 帑 培 修 焉 茲 予 循 規 巡 狩 復 過 祇 園 景 仰 睿 藻 昭 回 乾 坤
璀 燦 敬 誌 一 篇 彌 彰 善 念 再 級 帑 為 三 寶 之 ).
萬 化 瑤 源 皇 覺 妙 千 秋 金 碧 國 恩 洪
願 弘 福 果 眾 生 遂 佛 日 增 輝 帝 道 .
Trong cách viết của người xưa, phần chú thích thường được ghi ngay nơi cần chú, nên bài thơ bị đứt đoạn. Trong bài thơ, phần chú nằm ở cuối câu thứ tư, là quá dài do đề cập đến nhiều vấn đề liên quan. Để dễ theo dõi, chúng tôi phiên âm và dịch nghĩa bài thơ liên tục, phần chú thích giải quyết sau cùng; chỉ lưu ý với độc giả là chú thích ở cuối câu thơ thứ tư.
Phiên âm:

Đề Hong Phúc tự

Thanh tĩnh hư vô diệu mc cùng Hà quan hiển hối sc quy không
Khuê quang chiếu diệu trùng tân hoán Bo lc t bi đại khuếch sung.
Vạn hóa diêu nguyên hoàng giác diệu Thiên thu kim bích quốc ân hng
Nguyn hoằng phước quả chúng sinh toi Pht nhật tăng huy đế đạo long.
(Tự ti Quảng Bình tỉnh, Quảng Ninh phủ, Lệ Thủy huyện. H quốc sơ thời, khâm phụng ngã Thái tổ Gia dũ hoàng đế phủ túng dân tình doanh kiến. Nguyên Kính Thiên tự trung, v Lạt ma chúng chiên đàn công đức vị liễu, Hồi lộc vi tai. Tự
 




nhi ngã Hiển tông Hiếu Minh Hoàng đế dng quảng tiền ân, sùng tu phạm vũ, thân chế liên chương, vân:
  • Huyền bảo kính ư đương không sâm la vạn tượng, Xán tâm đăng ư tính địa diu chứng vi.
  • Đại đạo hoằng nhân, địa b hoàng kim liên hoa pháp giới, Hằng sa hiện tướng, tòa liên bích ngọc thủy nguyệt thin tâm.
  • Đài tâm lý chi hương, kim lô bảo triện tường vân hp, Thức huyn trung chi diệu, bối diệp linh văn pháp vũ quân.
  • Náo th kiến thiền quan, động trung năng tĩnh, Vi trn minh tự tính, hu bổn tông vô.
  • Nhất thanh phổ độ dã từ bi C Pht,
Ức sinh giáo hóa dã hoằng nguyện Như Lai.
Quân thị khuếch thôi thin quả, tích phúc chúng sinh. Minh Mng niên gian, ngã Hoàng khảo Thánh tổ Nhân hoàng đế mệnh giá thời tuần l kinh cổ sát, lâm hạnh Phm cung, kính thiên chi niệm hữu quan Hoằng Phúc chi danh, đặc tứ, dụng tăng bí tin huy nhi quảng chiêu tiên trạch dã; viên phát thảng bồi tu yên. Tư dư tuân quy tun thú, phục quá K Viên cảnh, ngưỡng du to chiêu hồi càn khôn thổi xán, kính chí nhất thiên, di chương thiện niệm; tái cấp thảng vị Tam Bảo chi nhu).
Dịch nghĩa:

Bài thơ “Đề Hoằng Phúc tự” của vua Thiệu Tr

Thanh tĩnh hư vô của nhà Phật thật huyn diệu vô cùng Chng màng hiển hiện hay mất đi bởi sắc cũng hoàn không
Nhờ ánh sao Khuê308 chiếu sáng mà vẻ rực r của chùa được trùng tân Để nẻo t bi của nhà Phật càng thêm mở rộng.
Việc giáo hóa đời sau309 th hin cái hiểu rốt ráo của bậc đế thật diu kỳ Để ngàn năm chùa Phật vẫn nhận được ân điển của nước thật ln lao Xin nguyện ban rộng khắp quả phước cho chúng sinh đều tha
Mt tri Phật pháp càng sáng thì đạo của vua càng hưng thịnh.

Phn chú thích trong bài thơ của vua Thiệu Trị có 5 cặp câu đối ca chúa Nguyn Phúc Chu

“Chùa ở ti tỉnh Quảng Bình, phủ Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy, khi mi lập quốc, kính được Thái t Gia dũ hoàng đế nhà ta đoái nghĩ đến dân tình cho xây dựng.


308 Nguyên văn là Khuê quang ( ): Ánh sáng của sao Khuê. Sao Khuê chủ về văn chương, thường dùng để chỉ về văn chương, văn hóa. Ở đây phiếm chỉ ân điển của Hoàng đế.
309 Nguyên văn Dao nguyên/Diêu nguyên (瑤 源): Là nguồn ngọc Dao rất quý, ẩn dụ cho tộc hệ của đế vương
 




Nguyên trong chùa Kính Thiên, bi chúng Tăng công đức Phật s chưa được vẹn toàn, chùa đã bị hỏa thiêu. Về sau, Hiển tông Hiếu Minh Hoàng đế nhà ta nhằm mở rộng công đức của chúa Tiên, cho trùng tu li ngôi chùa, tự người ngự chế my cặp đối liên, như sau:
Cp th nht:
懸 寶 鏡 於 當 空 森 羅 萬 象 燦 心 燈 於 性 地 妙 證 無 為
Huyn bảo kính310 ư đương không311 sâm la vạn tượng, Xán tâm đăng ư tính địa312 diu chứng vi313.
(Treo gương báu giữa chỗ không, [mới] soi rõ chân tướng muôn vàn cảnh tượng,
Khêu sáng đèn tâm nơi thể tính, [mới] chứng ngộ được pháp vô vi nhiệm mầu). Cp th hai:
大 道 弘 人 地 佈 黃 金 蓮 花 法 界
恒 沙 現 相 座 聯 碧 玉 水 月 禪 心
Đại đạo hoằng nhân địa b hoàng kim Liên hoa314 pháp gii, Hằng sa315 hiện tướng tòa liên bích ngọc thủy nguyệt316 thin tâm.
(Đạo ln giác ngộ con người, đất phủ hoàng kim, cảnh giới Liên hoa cao quý, Khắp cõi hiện tướng, nhà lin ngọc bích, lòng thiền như nước lặng trăng soi)317. Cp th ba:
擡 心 裏 之 香 金 爐 寶 篆 祥 雲 合
識 玄 中 之 妙 貝 葉 靈 文 法 雨 均


310 Ở đây dùng chữ bảo kính (寶 鏡 - gương báu), trong Đại Nam nhất thống chí lại thấy ghi là định kính (定 鏡
- gương định).
311 Đương không (當 空): Gọi đủ “Đương thể tức không” - tức cái “Không” ấy cũng “Không”. Câu này ý nói treo gương báu ở chỗ “Không”, hoặc treo ở nơi mà không chỗ nào để nương ghá. Ý cũng gần giống như câu
“Minh kính diệc phi đài” (Gương sáng vốn chẳng đài) trong bài kệ ngộ đạo của Lục tổ Huệ Năng vậy.
312 Tính địa (性 地): “Địa” đây không nghĩa là đất, mà chỉ mang tính biểu trưng chỉ cho biên vực của một
cảnh giới tu chứng nào đó, như nói Ly sanh hỷ lạc địa, Định sanh hỷ lạc địa... Theo đó, Tính địa (性 地) ở đây nhằm chỉ cho thể tính chân thực của vạn hữu vậy.
313 Vô vi (無 為): Trong Phật giáo, Vô vi có nghĩa là không tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, pháp
tuyệt đối thường trụ, vượt ra ngoài sinh diệt biến hóa, do vậy Vô vi cũng chínhmột tên khác của Niết-bàn (đối lại với Vô vi (無 為) là pháp Hữu vi (有 爲), tức các pháp do nhân duyên tạo tác mà thành).
314 Liên hoa (蓮 花): Hoa sen. Hoa sen bốn đặc tính là thơm tho, tinh khiết, mềm mại, dễ thương; được dùng để tượng trưng cho bốn đức: thường, lạc, ngã, tịnh của pháp giới chân như.
315Hằng sa (恒 沙): Nguyên văn dùng Hằng sa (恒 沙), đó viết tắt của cụm từ Hằngsa số (nhiều như số
cát của sông Hằng) thường thấy trong kinh điển Phật giáo. Chữ Hằng () ở trong văn bản này viết thiếu một nét ngang ở dưới (có lẽ do kỵ tên húy của bà Phạm Thị Hằng, chính là Thái hậu Từ Dũ, mẹ của vua Tự Đức).
316 Thủy nguyệt (水 月): Ví cho sự sáng trong, tinh khiết như ánh trăng soi dưới nước.
317 Cặp đối này diễn tả các phẩm tính của cảnh giới Liên Hoa (Tịnh Độ) theo kinh A Di Đà.
 




Đài tâm lý chi hương318 kim lô bảo triện tường vân hp, Thức huyn trung chi diệu bối diệp linh văn pháp vũ quân.
(Đốt dâng nén hương lòng, lò vàng ngát xông như mây lành tụ,
Hiểu được s huyền diệu trong đạo, li kinh tiếng kệ như mưa pháp tưới đều).
Cp th
鬧 市 建 禪 關 動 中 能 静 微 塵 明 自 性 有 本 宗 無
Náo th kiến thiền quan động trung năng tĩnh, Vi trần319 minh tự tính hu bổn tông vô.
(Xây dựng thiền môn nơi náo thị, ấy là trong động có thể tìm thấy tĩnh,
Ở giữa cõi trnt tánh vẫn sáng r, y vì gốc của “hữu” vốn là “vô”).
Cp th năm
一 聲 普 度 也 慈 悲 古 佛 億 生 教 化 也 弘 願 如 來
Nhất thanh320 phổ độ dã t bi C Phật321,
Ức sinh giáo hóa dã hoằng nguyện Như Lai322.
(Mt tiếng độ khắp các loài chúng sanh, y là lòng từ bi của Cổ Pht, Ức kiếp mit mài giáo hóa, ấy là nguyện lớn của Như Lai).



318 Hương () ở đây là hương ở trong tâm ( ), nên phải hiểu đó chínhNgũ phần hương. Bậc Thánh tự mình thành tựu năm pháp công đức, gọi là năm phần Pháp thân, đó là: Giới thân, Định thân, Tuệ thân, Giải thoát thân Giải thoát tri kiến thân. Năm thân này được ví như hương thơm, nên cũng gọiNgũ phần hương, đó là: Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát hương Giải thoát tri kiến hương.
319 Vi trần (微 塵): Vô cùng nhỏ về sắc thể gọi là cực trần; bảy lần cực trần gọi là vi trần. Đại Tỳ-bà-sa luận
nói: Phải biết cực vi là tế sắc, không thể cắt bỏ, phá hủy hay quán xuyến..., không dài không ngắn, không vuông không tròn, không chính không bất chính, không cao không thấp..., không thể phân tích, không thể nhìn thấy, không thể nghe thấy, không thể ngửi thấy, không thể tiếp xúc. Cho nên nói cực vi là sắc nhỏ nhất. Bảy cực vi là một vi trần, là sắc thể nhỏ nhất mà nhãn thức có thể nhìn thấy được.
320 Nhất thanh (一 聲): Còn gọi là Nhất âm (), xuất phát từ câu “Phật thuyết nhất thanh, chúng sanh tùy
loại giải”; hoặc như trong kinh Duy Ma Cật nói: “Phật nhất âm diễn thuyết pháp, chúng sinh tùy loại các đắc giải”. Ý nói, chư Phật chỉ dùng một Phạm âm vi diệu để thuyết pháp, chúng sanh tùy căn cơ, nghiệp lực đều có thể hiểu ở các cấp độ khác nhau. Quan điểm này rất được ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) người Bắc Thiên Trúc, đến Trung Quốc đầu thế kỷ VI (thời Bắc Ngụy) cổ súy. Ngài cho rằng: một đời giáo pháp của Phật chỉ là “nhất âm giáo”, tức giáo lý chỉ từ một viên âm của Phật thuyết ra, chứ khônggiáo lý này hay giáo lý khác. Chỉ vì căn cơ của chúng sanh nghe và hiểu khác nhau thành ra giáo lý khác nhau.
321 Cổ Phật (古 佛): Chỉ cho bảy vị Phật của quá khứ, gồm có: Tỳ-bà-thi Phật, Thi-khí Phật, Tỳ-xá-phù Phật, Câu-lưu-tôn Phật, Câu-na-hàm Mâu-ni Phật, Ca-diếp Phật, Thích-ca Mâu-ni Phật.
322 Như Lai (如 來): Như Lai một trong mười tôn hiệu mà thế gian gian tôn xưng chư Phật, gồm có: [1] Như
Lai; [2] Ứng Cúng; [3] Chánh Biến Tri; [4] Minh Hạnh Túc; [5] Thiện Thệ; [6] Thế Gian Giải; [7] Vô Thượng Sĩ; [8] Điều Ngự Trượng Phu; [9] Thiên Nhơn; [10] Phật.
Như () có nghĩa là như thật. Như Lai là bậc từ đạo như thật (chân như) mà đến, vì đại nguyện khai thị tri kiến giác ngộ cho chúng sanh.
 




Đều là mong mỏi khắp nơi gặt được quả thiện, ban phúc cho chúng sinh. Vào niên hiệu Minh Mạng, phụ hoàng ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế khi khi giá tuần du, l trình ngang qua cổ tự, Người vào viếng chùa. Trong ý niệm “Kính Thiên” đã liên quan đến hàm nghĩa của cái tên Hoằng Phúc, nên đặc ân ban tứ [tên này], nhằm tăng thêm vẻ rực rỡ cho cái tâm sáng của người trước; đồng thời để chiếu rộng khắp ân trạch của các chúa, bèn ban cấp ngân khoản để bồi tu chùa vậy. Nay, ta tuân theo phép nước đi tuần thú, lại ngang qua chốn Kỳ Viên, ngưỡng trông lên ánh sao trí tu của tổ tiên chiếu lại, càn khôn càng như ngọc sáng, kính ghi lại một bài thơ làm đẹp vẹn toàn thiện niệm; lại cấp ngân sách dùng cho nhu cầu Tam Bảo”.
Nhận xét: Về các cặp câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu ở phần chú thích của vua Thiệu Trị, chúng tôi thể hin lại các cặp câu đối bằng chữ vi tính và phiên âm dịch nghĩa để độc giả dễ dàng tham khảo. Riêng phần dch thuật, chúng tôi chỉ bám chữ nghĩa ngữ pháp để chuyển ngữ mt cách thô mộc. Vì chúa Nguyễn Phúc Chu vừa là một Nho sĩ có sở học uyên thâm vừa là một nhà tu hành có công phu tu tập thượng thừa (Đạo hiệu của ngài là Thiên Túng Đạo nhân) nên chúng tôi vi hiểu biết thô thin về Pht học không dám lm bàn. Có thể chúng tôi sẽ dành thật nhiều công sức, tht nhiu thời gian nghiên cứu các cặp đối liên này để công bố trong một dp khác.
    1. Bài thơ “Hoằng Phúc tự” của Tùng Thiện vương trong Thương Sơn thi tập
Để làm phong phú thêm tư liệu, và cũng làm rõ thêm một số chi tiết lch sử mà một số nghiên cứu trước đây đã đề cập, chúng tôi xin giới thiệu tiếp bài thơ của Tùng Thiện vương Miên Thẩm viết ở chùa Hoằng Phúc trong chuyến tháp tùng vua Thiệu Trị tuần thú phương Bắc323:
Nguyên tác:

弘福寺

( 有 孝 明 皇 帝 御 筆 對 聯 經 亂 猶 在) 倚 春 林
禪 扉 隔 竹 陰 煙 寒 江 月 淡 花 密 夜 鐘 深 勝 跡 猶 堪 賞 高 僧 不 可 尋


323 Bài thơ này chúng tôi được tiến Ngô Thời Đôn cung cấp. Bản này do ông sao lục từ trong tác phẩm
Thương Sơn thi tập của Tùng Thiện Vương hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Hà Nội.
 




孝 明 宸 翰 在 拜 讀 淚 沾 襟
( 山 詩 集 - 綿 審 著)
Phiên âm:

Hong Phúc tự

(Tự hữu Hiếu Minh Hoàng đế ngự bút đối liên kinh loạn do tại)
C sát ỷ xuân lâm Thin phi cách trúc âm
Yên hàn giang nguyệt đạm Hoa mt dạ chung thâm.
Thắng tích do kham thưởng Cao tăng bất kh tầm
Hiếu Minh thần hàn tại
Bái độc l triêm khâm.         .
Dịch nghĩa:

Chùa Hoằng Phúc

(Chùa có những cặp đối liên do Hiếu Minh Hoàng đế ngự bút, trải qua loạn lạc vẫn còn)
Chùa cổ nương rừng xanh Cửa thin lìa xa bóng tre
Sương khói lạnh, bóng nguyệt rơi trên sông mờ Cây hoa rậm, tiếng chuông chìm giữa đêm sâu. Thắng tích còn khó thưởng thức
Cao tăng tìm chẳng thấy đâu
Bút tích của chúa Hiếu Minh vẫn còn đó Cúi lạy đọc mà lệ tràn áo khăn.
(Bài thơ được trích trong Thương Sơn thi tập)
Bài thơ đã cung cấp thêm nhiều thông tin hay, đặc biệt là chi tiết những câu đối ca chúa Nguyễn Phúc Chu vn còn ở đó khi vua Thiệu Trị tuần thú phương Bắc. Tất nhiên, bài thơ còn là một áng văn bất hủ, đáng để người đời ngợi ca. Tuy vậy, việc bài thơ này được khắc lên biển đồng để treo ở chùa thì chưa thấy liệu nào khẳng định.
  1. Cái duyên ca việc ghép thơ ở chùa Linh Mụ
Một điều trùng hợp tht thú vị, năm 2005, khi thấy chùa Linh Mụ được trùng tu, chúng tôi cũng có một nghiên cứu để sp xếp lại toàn bộ các ô liên ba chữ Hán ở đình Hương Nguyện (nay điện Địa Tạng). Trong nghiên cứu ngày ấy, việc đầu tiên chúng tôi làm là thực hiện ghép tất cả các ô thơ có vị trí hết sức rời rc và không tuân theo một quy luật nào trên các khung liên ba của ngôi đình thành những bài thơ hoàn chnh, dựa trên cơ sở niêm luật đặc biệt của một bài thất ngôn bát cú Đường lut, trong đó có những luật vận đặc biệt ở các thể loại như Cô nhạn xuất quần cách, Cô nhạn nhập quần cách...; sau đó lại dựa vào cấu tứ nghĩa lý một bài thơ, phá - thừa - thực - luận - kết... để ghép lại thành bài. Trừ 8 ô liên ba bao quanh vòng thái cực đã rất chnh chu, tự nó đã rành mạch là 2 bài thơ rõ ràng, 24 ô thơ ở mt trong liên ba dưới của đình, chúng tôi đã ghép lại thành 6 bài thơ đường luật hoàn chỉnh; 24 ô thơ mặt ngoài khung liên ba dưới cũng thế, chúng tôi cũng ghép được thành 6 bài thơ hoàn chỉnh... Trong những bài thơ chúng tôi đã ghép trước đây, lại có bài Đề Hoằng Phúc tự của vua Thiệu Trị. Thật vui là trước đây chúng tôi đã ghép hoàn toàn chính xác, tuy vậy vì không có đề của bài thơ (không ghi trên liên ba của ngôi đình) và không hiểu gì về bối cảnh ra đời của bài thơ, không có những chú thích rõ như trong Ngự chế thi, nên chúng tôi đã dịch thật quá ngô nghê. Nhân đây chúng tôi cũng đã cho ghi hình lại 4 ô chạm khắc bài thơ này trên đình Hương Nguyện để minh họa thêm
  1. Mong mi những nghiên cứu này th vận dng trong công cuộc xây dựng chùa Hoằng Phúc hiện nay
Tháng 3 - 2015, khi đến chùa Hoằng Phúc, trong chúng tôi trào dâng những cảm giác vui buồn, mừng r lo âu trái ngược. Ngôi chùa đang được xây dựng lại với một nguồn kinh phí ln, mọi vết tích không còn na, chỉ còn lưu một chiếc cổng bên trái như đã giới thiệu ở phần đầu, tất nhiên ngôi c t này trong kế hoạch phục hồi không được đối xử như một di tích danh thắng vào hàng đệ nhất danh lam ca vùng đất này để có những bước chuẩn bị về khảo cổ học, nghiên cứu tư liệu lch s, nghiên cứu vật liu truyền thống, và đặc biệt là những điển chế của triều đình Nguyễn đối với kiến trúc của những đại danh lam; nhưng dẫu sao việc xây dựng một ngôi chùa ln ở đây cũng sẽ mang lại một hình ảnh đẹp về Phật giáo được trùng hưng, cũng như sẽ là nơi tu tập tin nghi của Tăng chúng, nơi sinh hoạt của bao nhiêu Phật tử...
Lần theo những nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi cố gắng đi tìm những tư liệu gốc để xác định lại cơ sở của những bài viết trước đây nhằm xác định li tầm vóc vô cùng lớn của một di tích trên đất Quảng Bình, từ đó mong có được thái độ đúng đắn chuẩn mc của các nhà chức trách trong hành xử đối với di tích. Đồng thi, trong cách nhìn v một danh thắng, chúng tôi mong mi những người đang xây dựng mi chùa Hoằng Phúc nên lưu tâm đến việc trưng bày bên trong nội thất để phù hp vi không gian nghi l và sự th hin lại mt quá khứ vàng son của một ngôi đại tgắn liền với những yếu nhân lịch sử, đặc biệt phải thể hin mt cách trang trọng sự kiện Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến tu tập nơi đây, rất cần phải tái hiện những câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu, tái hiện bài thơ vốn được khắc trên biển đồng của vua Thiệu Trị, bài thơ xuất chúng của Tùng Thiện vương Miên Thẩm...
Đó vừa là giá trị lch sử, vừa là giá trị m thut, vừa là giá trị văn hóa của ngôi chùa, cũng là cách tri ân tiền nhân, cũng là thể hiện một giáo lý thâm sâu trong n
hàm chữ nghĩa của những bậc chân tu như chúa Nguyễn Phúc Chu s học đã vượt không gian thời gian, đặc biệt là để khơi dậy một niềm tự hào vô biên của vùng đất Pht một thời, làm cái đích cho Tăng Ni, Phật tử trên quê hương Quảng Bình hướng đến để tu học...

5. Likết, haymtnim hy vng khi lên quahaichuyến điền dã tn đt Qung Bình

Chúng tôi được đến Quảng Bình mấy lần, tìm về những ngôi chùa xưa, vừa là tham quan vừa là khảo sát, vừa hiếu kỳ muốn hiểu tình hình Phật giáomột vùng đất đã trải qua bao nhiêu bom rơi đạn lc trong những cuộc chiến tranh ác lit...
Lúc đầu, chúng tôi mang một tâm trạng thật nặng nề vì đến đâu cũng chỉ toàn phế tích, chẳng thấy gì ngoài những lời ca tụng quá hay, quá đẹp, quá hoành tráng chỉ tn tại trong các tư liệu xưa...: Một chùa Cảnh Tiên chỉ còn lại khu vườn để hoang, vi một cái nền nhỏ tiêu điều, nhưng khảo sát kỹ đó lại là nền của một cái sân kho hp tác xã; mt chùa Ph Minh đã được xây li nho nhỏ với vật liệu và kiến trúc mới hoàn toàn giữa một khu dân cư; một chùa Thần Đinh may mắn hơn vì còn một hệ thng bậc cấp hùng vĩ, song mọi thứ lớn lao khác cũng chỉ còn trong tư liệu, cũng như những giai thoại thật hay, thật huyền còn trong tim thức của con người; còn khi đến chùa Hoằng Phúc thì lại có những cảm xúc ngược chiều như trình bày ở trên...
Thế nhưng, chỉ ln thứ hai đến khảo sát, từng bước từng bước, từng phát hiện, từng tấm lòng..., chúng tôi đã phải giật mình: Phật giáo ở đây còn nhiều điều để nói, để bàn, để mừng, để hy vọng lắm... Ngoại trừ những dấu tích, pháp khí, pháp tượng... phát hiện ngày càng nhiều, chúng tôi còn gặp được những con người vi những tấm lòng kỳ lạ. Có người đã suốt 35 năm đi tìm, đi khảo sát, khảo cứu về những ngôi cổ tự, mong tìm lại những mảnh vỡ, sưu tầm những giai thoại, kiếm tìm sách vở...; những vị Ch tch xã còn rất trẻ đang giữ gìn những pháp khí, pháp tượng bằng tất cả s công tâm và cẩn mật của mình, khiến chúng tôi có cảm giác còn cẩn mật hơn đang bảo vệ những gia bảo của dòng tc nữa...
Tiếp xúc vi những người như vậy khiến chúng tôi chợt thấy bản thân mình thật nh bé, chỉ là những chiếc túi đựng chữ nghĩa, so với những tấm lòng của họ, mình tht nhỏ nhoi đến thm hại. Đa phần anh em trong đợt khảo sát đều có nhận định chung rằng, Phật giáo ở Quảng Bình đang được giữ gìn vô cùng tốt trong lòng người dân nơi đây. Điều đó càng minh chứng thêm cho sự trường tồn của Phật giáo và sự song hành cùng dân tc từ trong lịch sử cho đến hôm nay, và tất nhiên mãi mãi muôn đời sau.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây