23 - NNC. Trần Đại Vinh - CHÙA KÍNH THIÊN – HOẰNG PHÚC TRONG LỊCH SỬ

Thứ hai - 16/12/2019 03:39
CHÙA KÍNH THIÊN – HOẰNG PHÚC TRONG LỊCH SỬ
NNC. Trần Đại Vinh*

Chùa Kính Thiên được mô tả đầu tiên trong sách Ô châu cận lục biên soạn năm 1553 của Tiến sĩ Dương Văn An. Sách chép rằng: “Chùa Kính Thiên ở gần trạm Bình Giang huyện Lệ Thủy. Nước biếc uốn quanh, non xanh chầu về. Hẳn nhiên là một ngôi chùa núi u tịch, một cõi thần tiên vậy. Nhà cửa thôn xóm chẳng xa, nhưng tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng gà gáy chó sủa. Thật là một ngôi chùa lớn ở Tân Bình vậy. Chùa có đại hồng chung nặng ngàn cân, có tăng quan và người quét dọn, bốn mùa phụng thờ. Nay hoa rụng chim kêu, chỉ còn trơ nền cũ mà thôi”306. Nơi dựng chùa Kính Thiên thuộc làng nào, sách cũng chẳng nói, chỉ giới thiệu ở gần trạm Bình Giang. Xét Ô châu cận lục, thì địa bàn này thuở ấy thuộc làng An Trạch. Đến đời Gia Long, tại địa bàn này đã được lập thêm một phường mới lấy tên phường Thuận Trạch.
Theo ghi chép của Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn đời Tự Đức biên soạn thì vào năm 1609, chúa Nguyễn Hoàng đã nhân nền cũ mà dựng lại chùa Kính Thiên. Lại hơn 100 năm nữa, đến năm 1716 chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Tả đô đốc chưởng phủ sự là Lân quận công Trịnh Thụ coi sóc việc trùng tu, ban cho một bức hoành phi “Kính Thiên tự”, một kim bài “Vô song phúc địa”, và năm cặp câu đối307, đều do chúa ngự đề treo ở chùa.

  • Nhà nghiên cứu Hán Nôm, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Thừa Thiên Huế
306 Dương Văn An, Ô châu cận lục (bản dịch), Nxb. Thuận Hóa, Huế 2001, tr. 94.
307 Nội dung năm cặp câu đối như sau:
[1] Huyền bảo kính vu đương không, sâm la vạn tượng Xán tâm đăng vu tính địa, diệu chứng vi.
(Treo gương báu ở nơi trống không, muôn cảnh tượng bày ra la liệt Thắp đèn tâm ở nơi thể tính, lẽ vô vi chứng ngộ nhiệm mầu).
[2] Đại đạo hoằng nhân, địa bố hoàng kim, Liên hoa pháp giới Hằng sa hiện tướng, tòa liên bích ngọc, thủy nguyệt thiền tâm. (Đạo lớn rộng độ người, đất bủa vàng ròng, hoa sen cõi pháp Hằng sa tướng hóa hiện, tòa liền ngọc biếc, trăng nước lòng thiền).      [3] Đài tâm lý chi hương, kim lô bảo triện tường vân hợp
Thức huyền trung chi diệu, bối diệp linh văn pháp vũ quân. (Nâng nén hương trong lòng, vàng hương báu, mây lành hợp
nhiệm mầu trong huyền diệu, văn thiêng kinh bối, mưa pháp nhuần). [4] Náo thị kiến thiền quan, động trung năng tĩnh
Vi trần minh tự tính, hữu bản tôn .
(Trong chợ náo thấy cửa thiền, động lại tĩnh Giữa cõi trần sáng tỏ tự tính, hữu gốc từ vô).
[5] Nhất thanh phổ độ dã, từ bi Cổ Phật
Ức sinh giáo hóa dã, hoằng nguyện Như Lai.
 




Ngôi chùa Kính Thiên được tái thiết vào đời chúa Nguyễn này đã trải qua các biến động lịch sử, nhất là vào giai đoạn đình trệ của Phật giáo đời Tây Sơn, nhưng vẫn còn vững vàng cho đến đời Minh Mạng.
Năm 1821, nhân chuyến ngự giá ra đất Bắc, vua Minh Mạng đã ghé thăm chùa, cho đổi tên là Hoằng Phúc tự (ngôi chùa mở rộng ơn phước). Hai năm sau vua ban cho 100 lạng bạc để tu sửa chùa. Năm 1826 lại cấp thêm 150 lạng để tu bổ. Năm 1840, nhân lễ mừng thọ của nhà vua, chùa đã tâu xin làm lễ khai kinh chúc thọ, được ban cho 200 quan tiền.
Đầu đời Thiệu Trị, năm 1842, lại nhân ngự giá ra Bắc, vua và các hoàng thân đã vào thăm viếng chùa. Đích thân vua và hoàng đệ Tùng Thiện quận công Nguyễn Phúc Miên Thẩm đã sáng tác thơ đề vịnh cảnh chùa.
Lúc trở về kinh, vua ban 300 quan để tôn tạo chùa. Hai bài thơ đề vịnh đều được khắc trên biển đồng treo trong chùa.
Năm 1846, nhân lễ mừng vạn thọ tứ tuần, vua lại ban thêm 200 quan tiền.
Năm 1879, chùa lại cử hành lễ khai kinh chúc thọ vua Tự Đức, được ban cấp 200 quan.
Hiện nay, chùa còn bảo tồn đại hồng chung đúc năm Minh Mạng thứ 20 [1839], đề tên là Hoằng Phúc linh chung, có khắc bài minh như sau:
Vô song phúc địa Đệ nhất phạm cung Tứ dân thuận trạch Vạn pháp quy tông Tư hội tịnh độ
Tái chú hồng chung Bồ thanh nhất hống Tượng pháp tứ thông Khoát khai đạo dũ Tỉnh khởi mê lung Tam minh mậu đạt Lục nhập tiêu dung Ngưỡng kỳ Tam Bảo


(Một Phạm âm độ khắp muôn loài, ấy là tâm từ bi của Cổ Phật
Muôn kiếp sinh linh được giáo hóa, ấy là tâm nguyện rộng lớn của Như Lai).
 




Phủ giám đan trung Tam duyên liễu thoát Ngũ phúc lai sùng Pháp âm trường hưởng Phật nhật thường trung Nhi kim nhi hậu Truyền chi vô cùng. (Cung hạ bái minh) Tạm dịch:
Đất phước vô song Cõi Phật bậc nhất Bốn dân quy thuận Muôn pháp một dòng Nay gặp đất tịnh
Lại đúc hồng chung Bồ lao rền gióng Pháp Phật khai thông Mở rộng cửa đạo
Lay tỉnh mê lung Ba minh thấu t Sáu nhập tiêu dung
Ngưỡng cầu Tam Bảo Chứng giám tấc lòng Ba duyên tự ti
Năm phúc đến cùng Pháp âm vang vọng Phật nhật thường trung Từ nay về sau
Truyền đến vô cùng (Kính mừng dâng minh).
Cho đến cuối thế kỷ XIX, trải qua chiến tranh loạn lạc, nhất biến cố thất thủ Kinh đô, dấy nghĩa Cần Vương, chùa đã hư hỏng dần. Đến đầu thế kỷ XX, khoảng năm 1918, chùa mới thiện duyên được một vị Thượng thư Bộ Lễ trí sự phát tâm trùng tu, cụ thể xây bình phong, cổng tam quan và hai cửa dịch môn tả hữu. Hiện nay, người thăm chùa vẫn còn thấy một cửa dịch môn hình vòm trên có đắp 4 chữ
“Tả Quảng Độ Môn”, bị rễ và thân cây cổ thụ bao khắp. Từ đó, ta th suy ra cửa tam quan chính giữa tên là “Quảng Độ Môn” và cửa dịch môn bên hữu là “Hữu Quảng Độ Môn”.
Theo lời các bậc lão thành địa phương, thì vào năm 1943, chùa Hoằng Phúc lại tiếp tục được tu sửa với sự phát tâm của một thí chủ là Lãnh binh trí sự Nguyễn Đại Bổn. Và năm 1944, chùa đã làm lễ lạc thành, có rước gánh hát bội về biểu diễn. Theo mô tả của các vị bô lão này, thì vào thời điểm ấy chùa đã thiết trí thờ ba án chính ở mặt tiền, giữa là tượng Phật Thích Ca và tòa Cửu Long (tượng Phật sinh), bên tả là án thờ Ngọc Hoàng có Nam Tào và Bắc Đẩu chầu hai bên, bên hữu là án thờ Quan Công có Quan Bình Châu Thương chầu hầu, hai bên tường mỗi bên đặt 5 tượng Thập Điện Minh Vương. Lại xa hơn về phía trước là hai tượng hai bên: tượng Kim Cang và tượng Giám Trai sứ giả.
Ngôi chùa này đã sụp đổ năm 1973 vì quá rệu rã. Một hòm sắc treo trên xà đã rơi xuống, đó là đạo sắc phong Thành hoàng niên hiệu Khải Định của phường Thuận Trạch.
Đến nay, hội tụ mọi yếu tố thiện duyên, một vận hội đại trùng tu chùa Hoằng Phúc đang diễn ra với sự đồng thuận của lãnh đạo, nhân dân huyện Lệ Thủy, xã Mỹ Thủy và các thí chủ đã mở rộng tâm bồ-đề để tái thiết, tôn tạo chùa xứng với uy danh của chùa Kính Thiên - Hoằng Phúc trong lịch sử.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây