21 - ĐĐ. Thích Pháp Hạnh - ThS. Lê Thọ Quốc - HỆ THỐNG TƯỢNG THỜ Ở NHỮNG NGÔI CHÙA DỌC LƯU VỰC SÔNG GIANH

Thứ hai - 16/12/2019 03:34
 
HỆ THỐNG TƯỢNG THỜ Ở NHỮNG NGÔI CHÙA DỌC LƯU VỰC SÔNG GIANH
 

ĐĐ. Thích Pháp Hạnh* ThS. Lê Thọ Quốc**

 
  1. Mở đầu
Đến với vùng đất Bắc Quảng Bình, lần tìm v những ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh, trải rộng trên các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa chúng tôi thật ngỡ ngàng khi phát hiện chính nơi đây đang lưu giữ rất nhiều tượng Phật, Bồ-tát… với các phong cách nghệ thuật, kỹ thut chế tác hết sức độc đáo, có nhiều nguồn gốc khác nhau được dung hp trong Phật điện các ngôi chùa. Những ngôi chùa ở đây, vì thế không chỉ mang chức năng tâm linh tôn giáo, tín ngưỡng mà còn là một bảo tàng lưu gi nhiu hiện vật, gắn liền vi những thăng trầm, biến thiên theo diễn trình lch sử của vùng đất.
Khác vi những nơi khác, Quảng Bình trong lịch sử từng là vùng biên viễn, nơi địa đầu của quốc gia Đại Vit v phía Nam sông Gianh chính ranh giới phân chia Đàng Ngoài - Đàng Trong (Bắc Hà - Nam Hà), nơi từng phải gánh chịu bao cuộc chiến tranh khốc liệt trong lịch sử, do vậy hệ thống chùa chiền, tượng Phật, pháp khí… hầu như đã bị hư hại theo thời gian, bị phá hủy bởi bom đạn cũng như bởi nhận thức của mt thi. Tuy nhiên, nh có niềm tin tâm linh, tôn giáo trong lòng người dân mà cho đến nay những di sản giá của Phật giáo vẫn còn lưu giữ được.
Chính hệ thống tượng thờ hiện còn đã góp phần minh chứng, lý giải cho sự đa dạng về ngun gốc, chất liệu, phong cách nghệ thuật… của các giai đoạn khác nhau trong lch sử đã và đang hiện hữu trong không gian Phật điện của các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh.
Qua khảo sát địa bàn các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch và Tuyên Hóa cho thấy, hệ thống tượng thờ ở các chùa rất đa dạng và phong phú. Phật điện lúc này trở thành nơi thiết trí tượng thờ theo dạng “tiền Thánh hậu Phật”, dung hợp nhiều loại tượng khác nhau, không chỉ Phật giáo mà có cả hệ tượng Nho giáo, Đạo giáo, Mẫu các tín ngưỡng dân gian khác, với số lượng có khi lên đến hàng mấy chục tượng thờ trong một


  • Phó Thưtập san Liễu Quán
** Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế
 




không gian Phật điện. Từ đó cho thấy quan niệm, ý thức tâm linh ca cộng đồng trong vic thiết trí hệ thống tượng th; ngôi chùa tr thành một bảo tàng dân gian lưu giữ nim tin tâm linh tôn giáo cho một vùng.
  1. Đặc trưng hệ thống tượng th: những lần tìm và khái quát
Các ngôi chùa nm dọc lưu vực sông Gianh như chùa Quan Âm (Đức Trạch, Bố Trạch), chùa Quan Âm (Thanh Trạch, Bố Trạch), chùa Vĩnh Phước (Hải Trạch, Bố Trạch), chùa Cảnh Phúc (Cảnh Dương, Quảng Trạch), chùa Cảnh Tiên (Quảng Thuận, Qung Trạch), chùa Phúc Kiều (Quảng Tùng, Quảng Trạch), chùa Yên Quốc (Mai Hóa, Tuyên Hóa)… đều có những đặc trưng riêng biệt bi quá trình hình thành và phát triển khác nhau. Chính điều đó mà hệ thống tượng thờ ở Phật điện của các ngôi chùa trên cũng đa dạng, phong phú cả về: [1] nguồn gốc xuất xứ, [2] chất liệu, kỹ thut tạo tác, [3] danh tính tượng th; [4] phong cách nghệ thut...
    1. Nguồn gốc xuất x
Hệ thống tượng thờ ở các chùa dọc lưu vực sông Gianh hẳn nhiên không thể tách ri vi diễn trình lịch s Nam tiến của người Việt, khi các cộng đồng dân cư sinh tụ ở đây đã mang hành trang tâm linh chính từ nơi họ xuất phát để định hình nên các làng xã trên vùng đất mi. Ngôi chùa cùng với đình làng trở thành tâm điểm quan trọng không thể thiếu trong nếp sống, cách nghĩ và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Chính vì vậy, nguồn gốc xuất xứ của các tượng thờ trong Phật điện các ngôi chùa nơi đây ít nhiều đã bị tác động và chi phi.
Ngun gốc hệ thống tượng thờ ở các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh có thể thấy được từ:
[1]. Hành trang tâm linh tôn giáo được mang theo từ cố hương khi đi về phương Nam của người Việt, trong đó có sự ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo từ Lý - Trần - Lê, đặc biệt là Phật giáo dân gian hòa quyện và hỗn dung với các tín ngưỡng khác trong các làng xã như Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mu, tục thờ đá.... Cùng với đó, ít nhiu các dấu tích Phật giáo Chăm-pa của một thi từng phát trin rực rỡ trên đất Qung Bình (thế k XIX - X), đã làm cho hệ thống tượng th càng tr nên đa dạng với nhiu nguồn gốc lẫn định danh tên gọi khác nhau.
[2]. Sự hộ đạo và phát triển Phật giáo dưới các triều đại phong kiến Lý - Trần - Lê trên vùng đất biên viễn cực Nam của Đại Việt như là một phương cách để yên dân, dung hòa cũng như tiếp nhận văn hóa Chăm-pa khi h đến sinh sống trên vùng đất mi. Đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn, vua Nguyn về sau đã xem việc tôn sùng Phật giáo như một giải pháp quy phc nhân tâm ở Đàng Trong, hẳn đã góp phần làm cho Pht giáo phát triển, chùa chiền được xây dng nhiều, và đi liền với đó là hệ thống
 




tượng thờ ở các ngôi chùa có nguồn gốc đa dạng, khác nhau của nhiều tông phái du nhập và phát triển trên vùng đất Nam Hà. Bên cạnh đó, khi đất nước hòa bình, với sự ủng hộ ca chính quyền các cấp trong việc phục dựng và tôn tạo các chùa chiền, phát triển các đạo tràng tu tp, thì từ đây, Phật điện trong các ngôi chùa càng được quan tâm nhiều hơn, với hàng loạt các tượng thờ được thiết trí nhằm để phục v nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của cộng đồng.
[3]. Hệ thống tượng th ở các chùa trên lưu vực sông Gianh có nguồn gốc từ s tách - hp giữa các ngôi chùa qua các giai đoạn lch sử khác nhau, như chùa Quan Âm280 ở Đức Trạch; chùa Quan Âm281 ở Thanh Trạch; chùa Vĩnh Phước282 ở Hi Trạch… là những ví d điển hình. Việc tách nhập hệ thống tượng thờ giữa các ngôi chùa, trong khoảng nửa cuối thế k XX, đã làm cho việc phân định phân định nguồn gốc, niên đại xuất x các pho tượng thờ tcác ngôi chùa trở nên hết sức khó khăn.
[4]. Do nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của người dân nên ngôi chùa trở thành nơi lưu giữ những pho tượng, nơi chiêm bái tâm linh tôn giáo và dần dần nó trở thành như mt bảo tàng quy t của nhiều hệ tượng thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau, như ở chùa Cnh Phúc283 (Cảnh Dương), chùa Yên Quốc284 (Mai Hóa), chùa Phúc Kiều285 (Qung



280 Trên địa bàn xã Đức Trạch, trong khoảng thời gian từ 1957 - 1968 đã hình thành thêm hai ngôi chùa, đó là chùa Đức Quang và chùa Vĩnh Thanh. Chùa Đức Quang do thầy Lệ Hương sáng lập (1957-1958) và đã thỉnh một số tượng ở chùa Phổ Minh từ Đồng Hới ra để thờ; còn chùa Vĩnh Thanh do thầy Tâm Nhơn sáng lập (1967-1968) và đưa tượng từ chùa Vĩnh Phước (Hải Trạch) sang để thờ. Về sau, chùa Đức Quang được sáp nhập vào chùa Vĩnh Thanh, rồi chùa Vĩnh Thanh lại sáp nhập cùng với chùa Quan Âm lấy tên là chùa Đức Linh (có lẽ theo chúng tôi, chùa Đức Linh chỉ tồn tại như một nơi thờ tạm của các chùa khi những chùa [Đức Quang, Vĩnh Thanh] trước đây đã không còn, hoặc bị chiến tranh phá hủy. Lúc này hệ thống tượng thờ ở cả ba chùa trước đây đều tập trung vào chùa Đức Linhmột số lưu lạc trong các tộc họ, gia đình khi trên vùng đất này các ngôi chùa hầu như bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Đến khoảng năm 1991-1992, khi chùa Quan Âm được xây dựng lại, các tượng thờ trước đây của cả 3 chùa mới được thỉnh về chùa Quan Âm để an trí thờ tự như hiện nay.
281 Trên đất của xã Thanh Trạch trước đây gồm 5 chùa: chùa Bồ Khê; chùa Ông; chùa Phật Bà; chùa Thanh Quang và chùa Hang. Trải qua những biến loạn, hiện nay chỉ còn lại chùa Thanh Quang (vừa được trùng tu) chùa Quan Âm (còn gọi là chùa Phật Bà). Tuy nhiên, chỉ chùa Quan Âm (chùa Phật Bà) vẫn ở nguyên vị trí ban đầu, với dấu tích một phần cổng "Tả môn" của chùa vẫn còn nguyên vẹn, là nơi tích hợp các hệ tượng thờ từ chùa Ông. Các ngôi chùa khác hiện nay đã không còn.
282 Chùa Vĩnh Phước cũng nằm trong chuỗi tách nhập của các ngôi chùa ở xã Đức Trạch: lúc đầu, thầy Tâm Nhơn chuyển các tượng thờ ở chùa Vĩnh Phước sang chùa Vĩnh Thanh để thờ tự; từ đây, khi chùa Vĩnh Thanh sáp nhập với các chùa khác như Đức Quang, Quan Âm và chuyển thành chùa Đức Linh, đến khi Đức Linh suy tàn thì các tượng thờ lại được chuyển về lại chùa Quan Âm như hiện nay. Đó là một quá trình làm cho các pho tượng hiện tại đang thờ tại chùa Quan Âm (Đức Trạch) có nguồn gốc từ chùa Vĩnh Phước.
Ngoài ra, cùng với quá trình tách nhập đó, lại do chiến tranh loạn lạc nên chùa miếu bị đổ nát, một số tượng, hiện vật ở chùa Vĩnh Phước được các gia đình Phật tử cất giữ, thờ tự cho đến hôm nay, một số đã chuyển lại cho chùa.
283 Làng Cảnh Dương đa số người dân vốn có gốc từ huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An vào chọn nơi định cư lâu dài, phát triển nghề biển, đánh bắt cá, buôn bántrao đổi hàng hóa. Cho nên, về nhu cầu tâm linh, dân làng đặc biệt chú trọng: mỗi gia đình khi đi biển, trên thuyền họ bao giờ cũng có thờ cúng các
 




Tùng)… Từ đó, trên mỗi Phật điện của ngôi chùa ngày càng hin diện nhiều tượng Pht, Bồ-tát, Thánh Thần do s phát tâm tạo tượng đúc chuông để thờ, hay sự “trả ơn” của người dân sau những biến cố xảy ra...v.v.
[5]. Một số tượng thờ nguồn gốc được vớt lên từ biển trong quá trình đánh bắt cá của người dân, trở thành tâm điểm cho quá trình hình thành, phát triển của ngôi chùa như trường hợp chùa Quan Âm286 ở Đức Trạch (Bố Trạch). Bên cạnh đó, ngoài Phật điện, các loại tượng mà chính họ không rõ nguồn gốc, loại hình… còn được phối trí trong khuôn viên ca các ngôi chùa.
Qua khảo sát nguồn gốc xuất xứ, sự phân chia, tách - hp của hệ thống tượng thờ ở các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh đã ít nhiều cho thấy, Phật giáo trên vùng đất này khá năng động, song hành phát triển và dung hp với các tín ngưỡng khác khá mật thiết, từ trong lch sử cho đến hôm nay.
    1. Danh tính các tượng th và cách thiết trí
Nhìn chung, Phật điện các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh thể hiện rõ tính chất Pht giáo dân gian với sự hòa trộn giữa tín ngưỡng tam giáo lẫn các tín ngưỡng địa phương một cách tinh tế, uyển chuyển trong cách bài trí. Điều đó minh chứng, trong quá trình phát triển của mình, bên cạnh dòng Phật giáo chính thống, Phật giáo đã dần dần hình thành một hình thức Phật giáo dân gian với tinh thần nhập thế tích cực. Cả hai hình thức này cùng song hành và thống nhất với nhau trong cùng tôn chỉ, mục đích: từ bi và giải thoát. Nếu như dòng Phật giáo chính thống đi sâu vào tham cứu những triết lý cao siêu để đạt đến cảnh giới chân như tịnh tch, thì dòng Phật giáo dân gian lại phát


tượng Phật; và sau mỗi chuyến hàng ra Bắc họ lại phát tâm thỉnh tượng Phật về để thờ ở chùa Cảnh Phúc, hoặc dùng tiền bạc tạo tượng cúng vào chùa như để kỳ an, tạo phước tích đức cho con cháu.
284 Ở chùa An Quốc (Mai Hóa, Tuyên Hóa), theo những tư liệu để lại, sư thầyđây đã cùng dân làng tổ chức 4 lần tạo tác tượng Phật, tượng Thánh vào các năm 1679 (tượng Tam Thế Phật, Ngọc Đế Thánh Lương); năm 1713 (đúc tiếp 3 tượng Tam Thế Phật); năm 1729 (tạc tượng Ngọc Đế Nam Lương); và năm 1779 (tạo tượng Cửu Long).
285 Tượng Phật chùa Phúc Kiều vốn xuất phát từ tục thờ đá nguyên thủy của cư dân bản địa và được gắn liền với những truyền tích, truyền thuyết linh ứng liên quan đến sự hưng suy của cộng đồng. Ngôi chùa nằm trong tổng thể của một tổ hợp gồm các miếu Cao Các và miếu Thành Hoàng.
286Theo truyền thuyết và lịch sử chùa còn ghi lại, vào tháng 7 năm 1802, một ngư dân tên là Hồ Lương Đường trong lúc đánh cá trên biển đã kéo lên pho tượng bằng đá, sợ quá ông bèn thả lại; hôm sau ông cũng lại kéo lên được pho tượng hôm trước nên ông đã đem về đặt trên một cồn đất cao; tiếp ngày hôm sau ông lại kéo lên một bệ đá và hai chiếc cối, hai chiếc chày bằng đá. Việc này ông báo với làng, nhân dân trong làng đem pho tượng đặt lên bệ đá thì thấy khớp với nhau như khuôn đúc. Thấy đây là sự linh ứng nên dân làng đã dựng một ngôi am tranh tre để thờ pho tượng này và đặt tên là Phật Quan Âm. Từ đây dân chúng đến chiêm bái rất đông, công việc làm ăn của người dân nhờ đó mà được phát đạt, yên ổn. Theo thời gian, ngôi am ấy dần dần được phát triển thành ngôi chùa, làm nơi che chở tâm linh của xóm làng và truyền giảng phật pháp. Mới đây nhất, vào năm 2014, những người dân ở đây lại vớt được tượng bằng gỗgần chùa và đưa về thờ tại chùa như những pho tượng khác.
 




huy yếu tố t bi làm tưởng chủ đạo, gắn liền vi cuộc sống thường nhật của người dân. Từ đây, Phật giáo đã dung hòa, tích hợp với các tôn giáo, tín ngưỡng khác để làm phương tiện chuyển hóa đạo pháp của mình đến với tín đồ. vậy, Phật giáo dân gian dung hp nhuần nhụy, đơn giản, gần gũi với đời thường như bao tín ngưỡng khác đã xuất hin, tồn tại trước đó.
Xuất phát từ những quan niệm trên, Phật điện không chỉ thiết trí thờ Pht mà còn là một tổng thể bao gồm cả Bồ-tát, Thánh Thần, Mẫu… theo kiểu thức thiết trí thờ “tiền Thánh/Thần hậu Phật” - một đặc trưng của Phật giáo Bắc Bộ t xa xưa cho đến nay. Theo đó, trong các Phật điện không ch có sự hin diện của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị Bồ-tát, Hộ Pháp, Thập Điện Minh Vương… mà còn có cả Khổng Tử, Quan Công, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu…, được phân bố theo một trt tự nhất định, tạo ra một không gian thiêng mang dáng dấp riêng, đặc thù khi đối sánh vi các vùng miền khác.
Mc dù xét trên kiểu thức chung là “tiền Thánh/Thần hậu Phật”, nhưng mỗi một ngôi chùa ở đây lại có các lối thiết trí thờ t riêng biệt. Chẳng hạn như chùa Quan Âm ở Đức Trạch, các tượng thờ Phật, Bồ-tát, tòa Cửu Long và các Thánh chúng được thiết trí thờ trên căn chính Phật điện287; còn các tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu… được phối thờ trên một ban bên cạnh, dưới ban thờ tượng Tam Thế Phật; và đối diện ban thờ chính luôn là ban thờ Hộ pháp. Đây là kiểu thức thờ t khá phổ biến ở các chùa dọc lưu vực sông Gianh. Tuy nhiên vn có những kiểu thức thợ t khác như trường hp chùa Quan Âm ở Thanh Trạch: Phật điện được bố trí chung với bên trên là tượng Thích Ca (mới), thấp hơn là ba pho tượng Tam Thế Phật, bên dưới nữa hàng chính giữa là Bồ-tát Quan Thế Âm và Ngọc Hoàng; hai bên các tượng như Tiêu Diện, Quan Thánh, Nam Tào, Bắc Đẩu và một số tượng khác. Cũng tương tự như vậy, Phật điện chùa Cảnh Phúc (Cảnh Dương) với gian chính giữa gồm có 14 vị Phật, Bồ- tát, Thánh chúng và tượng Cửu Long xếp đăng đối theo trục chính giữa và hai bên t hữu. Hai án tả hữu thiết trí thờ các vị Thánh Mẫu, Đức Ông, Thập Điện Minh Vương… với tổng số 26 pho tượng ln nhỏ các loại, tích hp nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian khác nhau.




287 Tại chánh điện chùa Quan Âm (Đức Trạch), các tượng thờ gồm có: bộ Tam Thế Phật (cũ) và bộ Tam Thế Phật (mới); 3 tượng Thích Ca ngồi trên tòa sen (với 3 kích cỡ khác nhau); 6 tượng Bồ-tát Quan Âm (trong đó có 1 tượng Quan Âm mới); 2 tòa Cửu Long và 1 tượng Di Lặc; bộ tượng Ngọc Hoàng - Nam Tào - Bắc Đẩu (3 pho); 1 tượng Bồ Đề Đạt Ma; và 1 tượng chưa rõ chủng loại (có thể là tượng Thập Điện hoặc tượng Ngọc Hoàng) vừa vớt được ở biển vào năm 2014.
 




Trên tổng thể của việc thiết trí thờ tự ở các ngôi chùa mà chúng tôi khảo sát, không chỉ có các tượng Phật, Bồ-tát, Thánh, Thần có nguồn gốc từ xa xưa mà hệ tượng ở đây luôn được bổ sung bằng các pho tượng mới, có niên đại gần đây, tạo nên một tng th đa dạng, phong phú về loại hình các pho tượng thờ, thỏa mãn nhu cầu tâm linh của quần chúng khi hướng về chùa. Yếu tính m, nhu nhuyến và linh động của Phật giáo đã góp phần to nên một không gian tôn giáo đặc trưng trong các ngôi chùa làng dọc lưu vực sông Gianh, từ buổi đầu cho đến hôm nay.
    1. Cht liệu và kỹ thuật tạo tác tượng
Hệ thống tượng thờ trong các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh mà chúng tôi khảo sát chủ yếu đều được tạo tác bằng gỗ: chiếm đa số, với 68 tượng; ngoài ra còn có tượng kim loại như đồng, gang: 5 tượng; và đá hoặc sành, vôi: 14 tượng288. Riêng pho tượng Quan Âm ngồi kiết-già (được người dân vớt ở bin từ triu vua Gia Long) bằng gỗ ở chùa Quan Âm (Đức Trạch) thì bên trong lòng tượng còn được nòng bằng cốt đá rất đặc trưng, vì thế người dân ở đây vẫn quan niệm đó là pho tượng đá. Pho tượng này cao 60,5cm, nặng khoảng 40kg (gồm cả cốt đá bên trong); nhìn từ chính diện cho thấy: tay, chân, áo của pho tượng là một khối liền; phần lưng được ốp bằng ba miếng g (hai miếng ln hai bên và một miếng nhỏ ở giữa); đầu tượng là một phần ri cố định qua các chốt (các miếng g được cố định lại với nhau bằng các khớp nối); mặt ngoài pho tượng được phủ mt lớp sơn sống khá dày, nhằm che khuất các mi ghép. Việc gắn phần đầu vào thân tượng đã làm cho phần gáy của tượng dày hơn, vuốt cong, khiến phần lưng tượng trông có vẻ khum khum, như chồm về phía trước. Hơn nữa, khi người ta đưa cốt đá vào bên trong thân tượng đã tác động đến phần đầu, khiến đầu tượng bị đẩy lên cách phần lưng khoảng 0,1cm; và phn cổ trước bị nứt ra và nghiêng hẳn về phía trước khoảng 6 - 7 độ; lớp sơn sống ph bên ngoài nguyên thủy cũng bị tác động vi các vết nứt rất rõ (nên người ta đã dùng vôi trám vào khe nứt ở trên c để che đi vết nt).
Ngoài pho tượng kể trên, tại Phật điện chùa Quan Âm (Đức Trạch) hiện có hai pho tượng Cửu Long chất liệu gỗ, vi hai kiểu thức khác nhau, thể hin sự tài hoa của người tạo tác289, đặc biệt là hai pho tượng Đản Sanh: một tượng bằng đồng, bên dưới


288Trong đó, chùa Quan Âm (Đức Trạch) có: 20 tượng bằng gỗ; 2 tượng đồng/gang; 4 tượng đá, vôi. Chùa Cảnh Phúc (Cảnh Dương) có: 23 tượng gỗ; 2 đồng/gang; 1 đá/vôi vữa. Chùa Vĩnh Phước (Hải Trạch) có: 1 tượng Quan Âm bằng gỗ được thờ tại nhà ông Hồ Đăng Hới (thôn Trung Đức, xã Đức Trạch). Chùa Cảnh Tiên có: 1 tượng Quan Âm tống tử bằng gỗ. Chùa An Quốc (Mai Hóa) có: 11 tượng gỗ; 5 tượng bằng đá, vôi. Chùa Quan Âm (Thanh Trạch) có: 12 tượng gỗ; 3 tượng đá, vôi. Chùa Phúc Kiều có: 1 tượng đá (khối đá có dáng hình nhân).
289 Tòa Cửu Long thứ nhấtkết cấu với phần thân gồm 7 đầu rồng, cao 71,5cm, chạm khắc tinh xảo, bên ngoài phủ một lớp sơn son thiếp vàng; các đầu rồng đối xứng nhau, riêng hai đầu 6 và 7 nghiêng về một phía
 




được quấn thêm một chiếc khố bằng vải, chân đứng trên đài sen có cuống gắn vào chốt bên dưới, khuôn mặt tượng bầu tròn, tay chỉ lên đưa sát vào dưới tai; một tượng được to tác bằng gỗ, nét tinh xảo hơn, khuôn mặt t nhiên của trẻ thơ, tay chỉ thiên m rộng đưa hẳn ra bên ngoài cân đối vi tay chỉ địa. Tuy nhiên theo nhận định của chúng tôi, tượng Đản Sanh này được ghép lắp vào tòa Cu Long chứ không phải là tượng nguyên gốc.
Phía hậu tổ chùa Quan Âm (Đức Trạch) hiện có thờ một pho tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng gỗ, cao 54cm, trong tư thế ngồi kiết-già, thân mặc áo ca-sa để hở phần ngực, bên ngoài được phủ một lớp sơn màu đà. Thân tượng hiện bị hư hại nhiều, nhất là phần đế, và có một đường nt từ cánh tay phải chạy ngang qua thân. Các nếp y áo rất sống động phối cùng khuôn mặt toát lên vẻ thoát tục. Đây được xem là một trong những pho tượng Bồ Đề Đạt Ma ngồi kiết-già độc đáo và đặc biệt nhất trong những pho tượng được tìm thấy trên địa bàn miền Trung.
Vi Phật điện chùa Cảnh Phúc (Cảnh Dương, Quảng Trạch), hệ thống tượng thờ ở đây lại được người thợ dân gian tạo tác rất đa dạng. Mỗi một pho tượng mang một kiu thức khác nhau, nhưng nhìn chung khuôn diện của các pho tượng như có nét gì đó tương đồng, hao hao như nhau. Đáng chú ý nhất là pho tượng Đức Phật Thích Ca ngồi kiết già ở vị trí cao nhất, chính giữa: tượng được đắp bằng vôi vữa với một khuôn diện hoàn toàn khác trong quy chuẩn chung, khuôn mặt của Phật có nét gì đó thật bình d và gần gũi với môi mỏng, mũi thon và cánh mũi nở đều, gò má cao, mắt sâu…290. Căn cứ trên quy chuẩn tạo tượng Phật vốn có thì pho tượng này hoàn toàn không đi theo một quy tắc nào, mà chỉ khắc họa một vài đặc điểm tiêu biểu trong 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, ẩn tàng một cách tinh tế và độc đáo. Các sc thái th hin thông qua khuôn diện tượng vi một anatomi hoàn toàn của người bản địa, minh chứng cho sự gần gũi giữa con người với một đấng Giác ngộ, cao thượng tự nhiên.



cùng ngậm vòi nước; đầu rồng chính giữa nhô ra 10,5cm, dày 10cm, cao 80cm. Các đầu rồng được liên kết với nhau bởi các vân mây, điểm rộng nhất tòa cửu long 31cm. Đế tòa Cửu Long là một bệ gỗ hình lục giác, mặt đế được chạm các đường sóng, mỗi cạnh đế có độ dài 12,5cm và cao đế 14cm. Tượng Đản Sanh cao 35,5cm. Tòa Cửu Long thứ hai gồm thân và đế, chất liệu bằng gỗ, bên ngoài được phủ một lớp sơn màu đồng thau, cao 58cm, độ rộng chân tòa 42cm, chiều cao lòng tòa từ cằm rồng giữa đến đế tòa 41,2cm. Các cặp rồng được chạm đối diện nhau và khoảng cách không đồng nhau. Mặt rồng chính giữa được chạm theo kiểu rồng chầu, đầu nhô ra 4cm, cao 5cm; các đầu rồng được chạm liên kết với nhau bằng các vân mây. Đế tòa dẹp, có chiều dài 47,5cm. Tượng Đản Sanh bằng đồng/gang màu đen đứng trên đài sen; dưới đài sen gồm hai lớp cánh sen được gắn thêm đĩa bằng sứ xi-măng (do người sau gắn thêm). Chiều cao từ đỉnh tượng xuống cuối đài sen 35,5cm, trong đó tượng cao 28,6cm, khoảng cách hai vai 7,2cm, dày vai 4,3cm. Đài sen là một khối thống nhất với tượng, cao 6,7cm, rộng 11,5cm x 9,8cm.
290 Tượng ngồi theo thế Cát tường tọa, cao 110cm, tay phải bắt ấn, tay trái để ngang bụng với ngón trỏ khum vào trong lòng bàn tay. Đầu tượng cao 41cm, dày 39cm; ngang 32cm.
 




Có thể nói, hầu hết các tượng thờ trong không gian Phật điện dọc lưu vực sông Gianh đều mang các k thuật cơ bản của vic tạo tác tượng tròn; mỗi một pho tượng hoàn toàn không ging nhau bi nguồn gốc xuất xứ. Và đặc biệt, trong phương cách tạo tượng ở đây, người thợ chỉ dựa trên các quy chuẩn chung và sáng tác tượng theo cá tính nghệ thuật của bản thân thông qua biểu cảm, cảm tình tư tưởng và hình ảnh Đức Pht trong tâm trí mình. T đó, hình dáng và khuôn diện các pho tượng Phật được họ biểu đạt bằng tính hin thực dân gian, thế tục hóa, khiến khuôn diện mang những đường nét như những con người trần tục, phản ánh một lối tả thực sinh động của các cư dân bản xứ đương thời.
    1. Phong cách nghệ thuật tượng
Nhìn chung, phong cách nghệ thuật tượng qua các triều đại có những điểm khác nhau, nhưng đồng thời cũng có những điểm kế thừa, tác động lẫn nhau. Vi phong cách nghệ thuật tượng thời Lý, tượng Phật nói riêng và ngh thuật tượng nói chung, thường chú ý đến sự khái quát cả tổng thể lẫn chi tiết qua tính ôn hòa ở bên ngoài, mnh mẽ dứt khoát ở bên trong; còn vi thời Trần, tính mạnh mẽ, dứt khoát càng được bộc lộ rõ, nhấn mạnh đến cấu trúc tổng thể hơn là mô tả; tượng thời Lê Sơ mang tính mc mạc, giản đơn đến nghèo nàn khi đa số th đều là những người nông dân; tượng thi Mạc lại trộn lẫn c cá tính và phong cách trong các hình tượng Phật, Thần, hòa mình vào đời sống văn hóa làng xã, vừa khép kín vừa đa dạng ca nền nông nghiệp Việt Nam. Đến thời Nguyễn, tượng Phật lại có đường nét, dáng dấp thô phác chân phương, nét sinh động gần như giảm hẳn, ch yếu đi theo một công thức cố định sẵn có và tiềm ẩn trong đó về thân phận và tính cách, trình độ của người tạo tượng lẫn chủ nhân tạo tượng. Phải đến đầu thế k XVIII - XIX, nghệ thuật tạo tượng không còn bó hẹp trong một nhóm người mà đã có sự m rộng vi nhiều thành phần tham gia, từ đó mi tạo ra sự khai phóng trong các phong cách tạo tượng291.
Các chùa trên lưu vực sông Gianh chủ yếu được hình thành từ thế kỷ XV trở đi, theo đó phong cách nghệ thuật tượng ở đây chủ yếu mang phong cách thời Lê - McNguyn, bởi sự mc mạc của các pho tượng, đường nét chân phương, ẩn chứa những ước mong của họ khi tạo tượng. Tiêu biểu như chùa An Quốc (Mai Hóa, Tuyên Hóa), hệ thống tượng ở đây mang phong cách của thời Lê - Mc rất rõ nét: tượng thấp nhỏ, ít đường nét và có niên đại tạo tác cụ thể. Trong khi đó ở chùa Cảnh Phúc (Cảnh Dương, Qung Trạch), tính dân gian và t phát trong phong cách tạo tượng luôn mang tính ch



291 Xem thêm: "Thử tìm hiều đôi nét về phong cách tượng Phật ở Việt Nam" (Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 9/2002 [219]).
 




đạo: hình tượng Phật, Bồ-tát, Thánh đều mang dáng mập tròn, nhân diện hoàn toàn không theo một quy chuẩn nào; còn như tượng Cửu Long vi nét chạm khắc thô sơ, đơn điệu theo một ý tứ riêng…, tất cả đều cho thấy đặc điểm của phong cách tạo tượng t thế kỷ XIX đến thế kỷ XX. Và cùng với kiểu nét này còn có pho tượng Quan Âm Tống Tử ở chùa Cảnh Tiên (Quảng Trạch) cũng mang phong cách tương tự.
Riêng đối với chùa Quan Âm (Đức Trạch, B Trạch), theo những nhận định ban đầu, ở đây nổi bật lên với pho tượng Quan Âm ngồi kết-già cùng tượng Bồ Đề Đạt Ma được xem là linh hồn của ngôi chùa với niên đại được đoán định khoảng giai đoạn tiền Nguyễn. Nghệ thuật tạo tượng và phong cách thể hin qua từng chi tiết hoàn hảo đến mức gần như tuyệt đối, đặc trưng qua tượng Quan Âm với khuôn mt phúc hậu, tai to, mũi thẳng thon, trên đầu có búi tóc lớn, khăn trùm đầu phủ xuống tận b sen, bệ sen cánh thưa không ôm nhau...
Nhìn chung, phong cách nghệ thuật tượng ở các chùa trên địa bàn dọc lưu vực sông Gianh mà chúng tôi va khảo sát có thể còn mang nhiều phong cách khác nhau khi nhìn nhận từng pho tượng riêng biệt qua sự hình thành, dung hợp của các ngôi chùa trong lịch sử, qua sự tiếp nhận các tín ngưỡng và quan niệm dân gian mà người dân, người thợ tạo tác đã gửi gắm vào các pho tượng... để t đó có thể đưa ra những cách lý giải đầy đủ hơn.
  1. Thay li kết
Mặc dù vùng đất Bắc Quảng Bình đã trải qua biết bao biến động của lch sử, nhưng các di sản Phật giáo hiện vẫn còn lưu lại trên mảnh đất này vi số lượng khá nhiều, đặc biệt là dấu ấn Phật giáo ca các thời Lê - Mạc đến các chúa Nguyễn, vua Nguyễn sau này, với hệ thống các tượng thờ đa dạng, phong phú. Điều đó cũng đủ minh chứng cho sự phát triển rực rỡ mt thi của một trong những trung tâm Phật giáo trên đất Quảng Bình nói riêng và miền Trung nói chung.
Qua khảo sát hệ thống tượng thờ tại các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh, phần nào giúp chúng ta thấy rõ những nét cơ bản về các đặc trưng mỹ thuật, kỹ thut tạo tác, nguồn gốc cũng như phương thức bài trí tượng thờ trong các Phật điện của các ngôi chùa ở phía Bắc Quảng Bình, trải dài ít nhất cũng từ nửa cui thế kỷ XV đến nay.
Cũng từ những khảo sát ấy đã cho thấy, các ngôi chùa đối với cư dân vùng này không chỉ là nơi gởi gắm nhu cầu tâm linh thuần túy mà còn là nơi để lưu giữ, bảo quản các di sản, các giá trị văn hóa độc đáo, trở thành một bảo tàng hay chứng tích lch s của mt cộng đồng làng xã. Các di chỉ này rất cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu và thẩm định kỹ hơn, qua đó cần sm thiết lập hồ sơ, tiến ti phục dựng, trùng tu 
nhằm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của người dân trên các địa bàn dọc lưu vực dòng sông này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây