19 - NNC. Nguyễn Hữu Thông & NNC. Thăng Long - BỘ “LINH VẬT” ĐẶC BIỆT TRONG NGÔI CHÙA QUAN ÂM Ở ĐỨC TRẠCH – BỐ TRẠCH – QUẢNG BÌNH

Thứ hai - 16/12/2019 03:22
B “LINH VẬT” ĐẶC BIT TRONG NGÔI CHÙA QUAN ÂM Ở ĐỨC TRẠCH – B TRCH – QUẢNG BÌNH
 

NNC. Nguyễn Hữu Thông* NNC. Thăng Long**

 
  1. Khái luận
Trong cuộc di dân về phương Nam, người Việt đã tiếp nhận và thích ứng với điều kiện sống của mình trên vùng đất mới một cách phong phú, sinh động, và đầy chất sáng tạo để tồn tại và phát triển. Trong đó, ngoài cái khác về điều kiện cảnh quan, môi trường, địa thế, khí hậu…, còn là sự tiếp cận với văn hóa nhiều điểm dị biệt của lớp cư dân tiền trú.
Chúng ta, ai cũng nhận ra rằng, hệ quả từ việc xung đột, đụng đầu của những thế lực phong kiến trong lịch sử, đều có thể để lại từ cả hai phía không ít dấu tích, di chứng hay - dở, tốt - xấu khác nhau. Thế nhưng, trong cuộc sống chung yên lành của người Việt với những cộng đồng trên vùng đất mới (cộng cư), sự hòa hiếu cảm thông trong mối quan hệ với người tiền trú (cộng cảm) và sự gánh vác, lo toan cho một sự sinh tồn mang tính cộng đồng liên kết (cộng mệnh) là một điều có thật, là một nét nhân văn tốt đẹp, đáng tự hào trong mối quan hệ giữa người Việt với người Chăm và những cộng đồng dân tộc khác thuộc các nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer, Malayo- Polynesie…
Với hành trang tinh thần được trang bị chủ yếu bằng vốn Việt truyền thống nội
sinh, cùng với hệ tư tưởng tam giáo Nho, Phật, Lão, khi người Việt vượt qua đèo Ngang, đối diện với Hindu giáo, Hồi giáo (Bàni, Islam), cùng tín ngưỡng dân gian của người tiền trú… họ đã có một quá trình tiếp nhận, hóa giải, rất khôn khéo và trí tuệ. Chính nền tảng nhân văn và mang tính hòa hiếu đó, Việt tộc đã nhanh chóng hội nhập và tạo dựng sự dừng chân an cư lạc nghiệp một cách nhanh chóng. Họ thích ứng nhanh với địa hình biển núi cận kề, để tiếp thu vốn kinh nghiệm của người tiền trú khi chọn giống lúa Chiêm, cải tiến nông cụ để phù hợp với địa hình và thổ nhưỡng; khai thác lâm thổ sản rừng núi với gỗ, quế, trầm hương, kỳ nam, hương liệu, dược liệu, gia vị… vốn không phải là thế mạnh của mình trước đó; cải tiến phương tiện



  • Nhà nghiên cứu Văn hóa, nguyên Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế
**- Nhà nghiên cứu Văn hóa, Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế
 




ngư cụ để tiếp cận với biển và văn hóa biển; sử dụng các cửa biển ở miền Trung để buôn bán trao đổi hàng hóa…
Trong đời sống tinh thần, người Việt luôn thể hiện đạo lý với tiền nhân thông qua tục cúng đất, tá thổ; chọn bà mẹ xứ sở người Chăm là nữ thần Poh Nagar làm người mẹ lớn của mình, bằng một tên gọi được Việt hóa là Thiên Y Ana; những tượng thần Hindu giáo trong các đền tháp Chăm, người Việt có hai cách ứng xử: những nhóm tượng còn an vị nguyên vẹn trong các đền tháp họ thường “kính nhi viễn chi”, không xúc phạm và không tiếp cận, chính họ đã thiêng hóa những gì liên quan đến Hời, Lồi, Chiêm Thành… để lớp hậu sinh không dám mạo phạm; những pho tượng tròn, phù điêu, thuộc Hindu giáo từ những di tích lụi tàn qua thời gian, hay trôi dạt khắp nơi, khi người nông dân Việt có cơ duyên tiếp cận, phần lớn họ đều gọi là Phật, Phật Bà, Bà Dương, Bà Dàng (Yang)… bất chấp đó là tượng nam thần (Civa, Brashma, Vishnu…) hay nữ thần (Uma, Sarasvati, Laskmi…), tất cả đều được họ mang vào chùa Phật, hay lập miếu trong làng để thờ một cách cung kính.
Trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến một trường hợp khá đặc biệt xuất phát từ một bộ hiện vật cổ của người tiền trú, đã được người Việt tiếp nhận và thiêng hóa dưới dạng một linh vật chữa bệnh liên quan đến Avalokitesvara (Bồ-tát Quan Thế Âm).
Câu chuyện bắt đầu từ một ngôi làng ngư ở xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Mọi người truyền tụng rằng: vào những năm đầu thế kỷ XIX, một lão ngư trong làng đánh cá biển bằng lưới, vô tình vớt được một bức tượng Phật bằng đá267, có hình dạng khá đặc biệt, không giống với lối tạo hình thường gặp. Do cảm thấy bất an, nên người vớt thả lại xuống biển và chèo thuyền đến một nơi khác. Lạ thay, các mẻ lưới kế tiếp, chủ thuyền lại kéo được đúng bức tượng ấy. Đến lần vớt thứ ba, ông quyết định mang bức tượng vào bờ, đặt trên một đụn cát cao, che chắn để thờ. Mấy hôm sau, tiếp tục công việc đánh cá thì chính vị lão ngư đó lại kéo được một tòa sen, trùng khớp với kích cỡ lẫn chất liệu để làm đế cho bức tượng vừa vớt được hôm trước. Câu chuyện không dừng lại ở đó. Như một mối nhân duyên, chỉ sau thời gian ngắn, cũng chính lão ngư dân này lại vớt được hai bộ hiện vật bằng đá, mà họ không hề biết tên gọi, nguồn gốc, lẫn công dụng. Điều quan trọng là họ nhất mực cho rằng: cả hai bộ hiện vật này dính liền với bức tượng, vì sự phát hiện nằm trong một chuỗi sự kiện liền sát nhau. Cho nên, họ đặt chúng vào cạnh tượng Phật và sau đó dân làng tín mộ, góp tiền của để xây dựng chùa, nhằm an vị lâu dài hệ linh vật. Đó chính là ngôi chùa Quan Âm hiện nay ở xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.


267 Bức tượng hiện nay ở chùa Quan Âm mà dân làng cho là tượng đá thực ra là một bức tượng tròn Quan Thế Âm bằng gỗ với phong cách tạo hình khá độc đáo và có giá trị mỹ thuật cao, điều đáng nói đây là một dạng tượng gốc rỗng nhưng lại được phủ đầy khoảng rỗng bên trong bằng đá, nên có thể vì thế mà dân làng gọi là tượng đá.
 




Tất cả những vật thờ mà chúng tôi tiếp cận trực tiếp từ ngôi chùa Quan Âm, vốn có gốc gác từ nhiều nơi, vào các thời điểm khác nhau trong lịch sử, tuy nhiên, bức tượng tròn Quan Thế Âm và bộ hiện vật khảo cổ như chúng tôi vừa đề cập, chính là nguyên nhân để ngôi chùa được xây dựng và cũng chính là “linh hồn” của ngôi cổ tự này.
  1. Vật thiêng ở ngôi chùa Quan Âm nhìn từ góc độ khảo cổ học
Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy, từ thời đồ đá mới, bàn nghiền và chày đã được con người sáng tạo và sử dụng nhằm mục đích đập vỡ các loại hạt, thực phẩm cứng, hoặc nghiền nát các loại hạt để sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau (thực phẩm, hương liệu, dược liệu, gia vị, dầu thắp đèn...), để phục vụ nhu cầu cuộc sống268. Ở phía Nam, sự phổ biến của những hiện vật “bàn nghiền – chày” được phát hiện ở nhiều di chỉ khảo cổ học269. Chúng có mặt khá phổ biến trong các tầng văn hóa khảo cổ Óc Eo270, hoặc ở Đồng Nai, Bình Định, Quảng Nam..., cho thấy sự có mặt của dạng công cụ này lan tỏa trên một cương vực rộng lớn, từ đồng bằng ven biển, cho đến vùng núi cao.
Nền văn hóa Óc Eo kết thúc, cũng là lúc xuất hiện những tiểu vương quốc mới trên dải đất Trung bộ nam Trung bộ. Từ sự kiện này, chúng ta không loại trừ con người lẫn công cụ trên vương quốc Phù Nam, và chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo, đã trực tiếp thiên di và sử dụng, hoặc sau đó được những người cận tiếp thu, để sự hiện hữu của công cụ “bàn đập- bàn nghiền – chày” có mặt trên một địa bàn xa hơn về phía Bắc. Và đó cũng chính là lý do tại sao, trên cương vực Chăm-pa và kể cả






268  Nhật  Lân  (2015),  “Kho  bảo  vật  nghìn  năm  ở  xứ  Nghệ”,  http://www.baonghean.vn/nghe-an-dat-va- nguoi/201512/kho-bao-vat-nghin-nam-o-xu-nghe-2647761/.
269 Nhiều hiện vật “bàn nghiền/bàn mài – chày” đã được phát hiện trong những đợt khai quật ở nhiều di chỉ khảo cổ học: Tại di tích Nam Cát Tiên (xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), trong số hiện vật được phát hiện, “bàn nghiền bằng sa thạch mịn, mặt nghiền phẳng hình chữ nhật gắn liền với chân đế”. [http://gsdl.dnulib.edu.vn/collect/dcdn/index/assoc/HASH018d.dir/doc.pdf]; Trong những di vật phát hiện dưới sông Đồng Nai - đoạn từ lao Rùa đến lao Sang (Bến Gỗ) có đến 18 bàn nghiền bằng sa thạch và 11 con lăn (chày nghiền) làm bằng sa thạch mịn, hình trụ hai đầu lồi tròn, dài từ 20cm - 30cm; đường kính 6cm - 9cm cùng nhiều hiện vật khác. [http://dongnai.vncgarden.com/dhia-chi-dhong-nai/tap-3-lich-su/chuong-2-tu- dau-cong-nguyen-den-the-ky-xv/2-nhung-di-tich-di-vat-thuoc-giai-doan-tu-the-ky-i-den-the-ky-xv-sau-cong- nguyen-qua-phat-hien-khao-co-hoc-o-dhong-nai/2-1-vung-ha-luu-song-dhong-nai-nhon-trach-long-thanh-bien- hoa]; Di chỉ khảo cổ học Bưng Bạc thuộc văn hóa tiền Óc Eo cũng đã phát hiện cặp hiện vật “bàn nghiền – chày” có hình dạng khá tương đồng với cặp bàn mài ở chùa Quan Âm xã Đức Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình.
270 “Căn cứ vào sử liệu ghi chép về quốc gia cổ Phù Nam, vào tài liệu cổ văn tự trên các tấm bia đá, mảnh vàng, căn cứ vào đặc điểm của hiện vật, của nghệ thuật điêu khắc và nhất là vào kết quả các mẫu niên đại C14 của các di tích khảo cổ, các nhà khoa học đã định niên đại cho nền văn hóa Óc Eo từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ VII. Giai đoạn “hậu Oc Eo” từ thế kỷ VIII đến khoảng thế kỷ X-XII, truyền thống văn hoá Óc Eo vẫn được cư dân cổ nơi đây bảo lưu và có sự phát triển nhất định trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội có nhiều biến đổi”. (Nguyễn Thị Hậu, “Văn hóa Óc Eo, một nền văn hóa cổ ở Nam Bộ” [http://dl.ueb.edu.vn/bitstream/1247/11738/3/Van%20hoa%20Oc%20Eo.pdf]).
 




Lâm Ấp271 trước đó, chúng ta thấy xuất hiện những cặp “bàn đập- bàn mài”, có hình dạng tương đồng272.
Như vậy, giả thuyết về sự lan tỏa của những hiện vật từ Óc Eo sang các tiểu quốc lân cận, và cũng không loại trừ trường hợp vươn xa ra tận cương vực của các tiểu quốc Chăm-pa sớm (Lâm Ấp) là đáng lưu ý trong trường hợp này.
Trở lại với hai cặp “chày - cối” ở chùa Quan Âm. Sau khi nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng trong tương quan so sánh với những hiện vật “bàn nghiền - chày” đã được phát hiện ở nhiều địa phương khác, chúng tôi cho rằng, những hiện vật bằng đá ở chùa Quân Âm mà người dân thường gọi là “chày - cối”, thực chất là hai cặp “bàn mài/bàn nghiền – chày”, chính là những hiện vật thuộc nền văn hóa Chăm trên dải đất miền Trung Việt Nam ngày nay, chúng nằm trong một vùng phân bố khảo cổ kéo dài từ Campuchia đến vùng Tây nam Việt Nam lan tỏa ra đến dải đất miền Trung trên cương vực vương quốc Cham-pa cổ.
Mỗi cặp bàn màichùa Quan Âm gồm một chày hình trụ trònbàn mài hình thuyền. Cả hai cặp hiện vật đều kích thước khá tương đồng. Kích thước phần đế lớn dần về phía mũi nhọn, phần mũi vuốt nhọn như mũi thuyền. Đế của bàn mài cấu trúc giống hình thuyền, dài 42cm, rộng 16-19cm. Phần đáy cấu tạo như hình hộp chữ nhật, kích thước nhỏ hơn so với phần đế, tương đương dài 25cm, rộng 15-16cm 8cm chiều cao. Ngoài ra, phần đáy còn được trang trí dạng gờ nổi xung quanh làm tăng thêm sự hài hòa giữa hai bộ phận. Hai “chày” hình dạng kích thước tương đối khác nhau. Chày hình trụ tròn kích thước lớn hơn, dài 31cm, đường kính từ 8-10cm. Chiếc còn lại được làm bằng đá trầm tích, cũnghình dạng trụ tròn, nhưng lại được cấu tạo đắp gờ nổiphía hai đầu, với kích thước dài 30cm, rộng 6cmphần thân, hai đầu rộng 8cm.
Có thể thấy, hai cặp “bàn mài - chày” ở chùa Quan Âm là những hiện vật thuộc nền văn hóa Chăm, với chức năng ban đầu là dùng để đập vỡ hạt cứng và nghiền hạt chứa hương liệu273, hoặc các loại hạt dùng trong ẩm thực hoặc có tinh dầu… Tuy nhiên, sau khi được người Việt tiếp cận, chúng lại không còn sử dụng với chức năng vốn có trong đời sống sinh hoạt274, mà được “thiêng hóa” để trở thành vật thiêng, bằng cách gắn liền chúng với chức năng chữa bệnh, đồng thời kết nối hiện vật này với bức tượng Quan Âm Bồ-tát275 như một tập hợp không rời nhau. Người dân



271 Trong đó vùng đất Quảng Bình ngày nay.
272 Ở nhiều địa phương như Bình Định, Đà Nẵng, Đồng Nai và các địa phương ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long… đã phát hiện được nhiều hiện vật bàn nghiền, bàn mài và chày cấu trúc, hình dạng tương đồng với hai cặp bàn mài ở chùa Quan Âm (Quảng Bình).
273 Nguyễn Hữu Triết (2010), “Thơm thơm qua dòng lịch sử”, http://newvietart.com/index4.777.html.
274 Chức năng nghiền, mài đã không được người Việt sử dụng, bởi lẽ từ thế kỷ XI người Việt đã biết ép dầu - một kỹ thuật tiên tiến hơn so với những kỹ thuật thô như mài, nghiền.
275 Cách nay gần 200 năm, một bức tượng Quan Âm bằng gỗ không biết từ đâu trôi giạt về bờ biển sau lưng chùa Quan Âm (xã Đức Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình), người dân quanh vùng liền vớt lên và đưa vào chùa thờ cúng.





Đức Trạch kể lại rằng: ngày trước “vật thiêng” này được thiết trí như tượng thờ, đặt cạnh bức tượng Bồ-tát Quan Thế Âm. Mỗi khi cần chữa bệnh, người ta dùng chày mài nhiều lần vào bàn mài, sau đó dội nước vào sao cho nước chảy về phía mũi, hứng những giọt nước này đẻ uống. Bên cạnh đó, người ta cũng dùng nó để giã hoặc nghiền xát thuốc, hoặc sử dụng thêm một bùa (bùa Bình An) dán vào phần mũi nhọn của bàn mài; khi mài, nước chảy từ mũi bàn xuống lá bùa, rồi mới sử dụng những giọt nước đó uống để chữa lành bệnh. Muốn nước lã biến thành nước thuốc sau khi mài, người ta còn cầu khấn Phật chứng minh mới thể linh nghiệm.
Về hình dáng, bàn mài và chày nghiền đứng thành một cặp song đôi được xem như sự phối hợp nguyên lý âm - dương với tư cách đối xứng theo bộ, nhưng bản thân mỗi bộ (chày - cối) cũng trở thành cặp âm dương với chính nó. Xét về mặt sử dụng, đây là hai bộ công cụ mang tính năng khác nhau. Bộ thứ nhất chính là bàn dùng để đập vỡ những loại hạt cứng, cho nên mặt bàn mài xô xảm, chày không cần đến mặt tiếp cận sát khít với mặt bàn mài nên chúng hình oval. Bộ thứ hai, chính công cụ nghiền do mặt bàn mài láng và chày nghiền là một khối trụ tròn, tạo độ tiếp cận sít sao với bàn nghiền, là một đường thẳng nếu nhìn trên mặt cắt dọc.
Trong một khảo cứu về hai cặp hiện vật bằng đá tương tự, được phát hiện tại xã Nhơn Hậu (Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định) vào năm 2014, TS. Đinh Bá Hòa nhận định rằng: “Phân tích trên phương diện văn hóa và tín ngưỡng của người Chăm, tôi vẫn giữ quan điểm rằng, phần đế hình thuyền là Yoni (mang tính âm) và hình chiếc trụ tròn là Linga (phần dương) - hai khái niệm biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở. Cho nên, đây là vật sử dụng lễ nghi mang tính phồn thực của người Chăm chứ không phải là vật dụng dùng trong sinh hoạt đời thường hay “bàn nghiền” như cách gọi từ trước đến nay276.
  1. Tạm kết
Trên địa vực các làng xã xưa, những hiện vật đã xuất hiện trên nước Lâm Ấp cũ, đồng thời nó cũng nằm trên vùng phân bố của các di tích thuộc nền văn hóa Chăm, trường hợp hai cặp “bàn mài – chày” ở chùa Quan Âm là một trong những điển hình. Chúng bị chôn vùi nhiều năm dưới lòng đất và trên hành trình Nam tiến, người Việt đã phát hiện, nhưng họ không sử dụng chúng với chức năng vốn có, mà biến nó trở thành vật thiêng bằng cách thiêng hóa cùng với bức tượng Quan Âm (cứu khổ cứu nạn) với chức năng chữa bệnh. Có thể thấy, đây cũng là trường hợp “biến dưỡng” văn hóa Việt - Chăm trong quá trình tiếp cận vùng đất mới của người Việt, cụ thể bằng cách biến một hiện vật đời thường của người Chăm trở thành vật thiêng của người Việt trong đời sống tinh thần.




276Đinh Bá Hòa (2014), “Phát hiện hai bộ hiện vật liên quan đến tín ngưỡng phồn thực của người Cham-pa”, http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=18&mabb=32227).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây