18 - TT. Thích Không Nhiên - TỔNG QUAN VỀ CÁC DI CHỈ PHẬT GIÁO DỌC LƯU VỰC SÔNG GIANH

Thứ hai - 16/12/2019 03:20
TỔNG QUAN VỀ CÁC DI CHỈ PHT GIÁO DỌC LƯU VỰC SNG GIANH
 

TT. Thích Không Nhiên*


Sông Gianh còn gi là Linh Giang, bắt nguồn từ khu vực núi Cô-pi thuộc dãy Trường Sơn chảy qua địa bàn các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, B Trạch và đổ ra biển Đông tại cửa Gianh, vi chiều dài khoảng 160km.
Xét về điều kiện địa lý tự nhiên, lưu vực dọc sông Gianh ch là một dải đất vừa hẹp vừa khô cằn, “lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển”, không phải là miền đất hứa để các đoàn di dân Đại Việt dừng chân trên bước đường Nam tiến kể t sau sự kin 1069.
Về mt lch sử xã hội, vùng đất này lại gánh chịu biết bao tang thương của chiến tranh, chia cắt; không được may mắn là “vô song phúc địa” như khu vực Nam Quảng Bình. Chính đặc điểm đó đã tác động không nhỏ đến quá trình di dân, lập ấp của cư dân dọc lưu vực sông Gianh; hình thành những nét đặc thù trong nếp sinh hoạt thường nhật, trong đời sống tín ngưỡng tâm linh mà Phật giáo chính là thành tố quan trọng, để li dấu ấn rõ nét trên dãi đất này.
  1. Về các ngôi cổ tự dọc lưu vực sông Gianh
Trong quá khứ, các ngôi chùa mật tập dọc lưu vực sông Gianh vi s lượng khá ln, nằm rải đều từ miền duyên hải đến vùng sơn cước. Theo thời gian, cùng với những thăng trầm ca lch sử, hầu hết các ngôi chùa ở đây cũng chịu chung s phận long đong như chính mảnh đất đã cưu mang chúng.
Từ chỉ dẫn của các nguồn tư liệu, chúng tôi đã tiến hành nhiều đợt khảo sát qua địa bàn các huyện B Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa và Minh Hóa để ln tìm dấu tích các ngôi cổ tự. Kết quả cho thấy, dọc lưu vực sông Gianh hiện chỉ còn khoảng trên 10 ngôi chùa, trong đó huyện Bố Trạch hiện còn 4 ngôi: chùa Quan Âm (xã Đức Trạch)265, chùa Quan Âm (xã Thanh Trạch)266, chùa Thanh Quang, chùa Vĩnh Phước;


  • Phó Chủ biên kiêm Thưtập san Liễu Quán
265 Chùa Quan Âm (xã Đức Trạch): theo người dân kể lại, ngôi chùa này được hình thành từ đầu triều Gia Long (khoảng 1802), gắn với truyền thuyết về pho tượng Phật Quan Âm do ngư dân Hồ Lương Đường của bản thôn vớt được trong một lần đánh cá trên vùng biển xã Đức Trạch vào tháng 7 năm 1802. Lúc đầu, chùa chỉ được dựng tạm trên một cát cạnh bờ biển thôn Trung Đức, xã Đức Trạch (gần cửa biển Lý Hòa) gọi là Cồn Chùa để phụng thờ pho tượng Quan Âm vừa vớt được. Đến đầu triều Thiệu Trị (khoảng 1843 - 1845), chùa mới được khởi công xây dựng và đặt tên là chùa Quan Âm. Kiến trúc thời Thiệu Trị nay đã không còn, tuy nhiên pho tượng Quan Âm huyền thoại ấy vẫn được người dân gìn giữ và hiện vẫn phụng thờ tại chùa. Kiến trúc chùa hiện nay trông vẻ đơn mang đậm chất dân gian, quy vừa phải, có lẽ mới được trùng tu
 




huyện Quảng Trạch còn 3 ngôi: chùa Cảnh Phúc, chùa Cảnh Tiên, chùa làng Phúc Kiều; huyện Tuyên Hóa hiện còn 4 ngôi: chùa Vĩnh Phước (làng Phúc Tự, xã Văn Hóa), chùa Ngọa Cương (Mỹ Phước tự), chùa An Quốc, chùa Linh Sơn; huyện Minh Hóa hiện không còn ngôi chùa nào.
Vi những ngôi chùa hiện còn, ngoại trừ chùa Thanh Quang, chùa Vĩnh Phước (làng Lý Hòa) thuộc huyện Bố Trạch và chùa Vĩnh Phước (làng Phúc T) thuộc Tuyên Hóa đã được trùng tu mới, đa phần các ngôi chùa còn lại đều đã xuống cấp nghiêm trọng, ít được quan tâm chăm sóc.
Xét về quy mô kiến trúc, nhìn chung các ngôi c t dọc lưu vực sông Gianh không có kiến trúc đồ s hoặc mang phong cách kiến trúc cung đình như chùa Kính Thiên/Hoằng Phúc, chùa Cảnh Tiên, chùa Thần Đinh ở Nam Quảng Bình, hu hết chỉ những ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong các làng mạc, vi lối kiến trúc đơn giản, mang đậm chất dân gian. Qua khảo sát cho thấy, mô-típ kiến trúc chủ đạo của các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh đều có kiến trúc theo hình chữ “Đinh”, tiền điện hậu tẩm; phần mái được xây dựng theo lối cuốn vòm, vi chất liệu chính là gạch và vôi vửa. Kiểu kiến trúc này xuất hiện khá phổ biến khắp các địa phương từ mit duyên hải đến miền sơn cước, mà chúng ta dễ dàng bắt gặp qua các tiêu bản như chùa Quan Âm (Thanh Trạch - B Trạch); chùa Ngọa Cương (Cảnh Hóa - Tuyên Hóa); chùa An Quốc (Mai Hóa - Tuyên Hóa); chùa Linh Sơn (Mai Hóa - Tuyên Hóa)...
Ngoài những ngôi chùa k trên, trong quá kh, khắp các làng mạc dọc lưu vực sông Gianh vn từng hiện diện rất nhiều ngôi chùa mà nay đã hoàn toàn biến mt, chúng chỉ còn được biết đến qua các tên gọi, qua ký ức của cư dân bản xứ, mà khi chúng tôi tìm đến hầu như chẳng nơi nào còn để li dấu tích gì. Tiêu biểu như chùa làng Đông Thành - Lòi Chùa ở xã Nam Trạch (Bố Trạch); chùa Vĩnh Thanh, chùa Đức Quang, chùa Đức Linh ở thôn Trung Đức, xã Đức Trạch (Bố Trạch); chùa Bồ


sau này. Ngoài pho tượng Quan Âm nói trên, tại chùa hiện còn lưu giữ hai bộ linh vật bằng đá thuộc tín ngưỡng Chăm-pa khá đặc biệt.
266 Chùa Quan Âm (xã Thanh Trạch): còn tên là chùa Phật Bà. Chùa được xây dựng năm Hồng Đức thứ 3 [1473] trào Lê Thánh Tông. Năm 1887 triều vua Đồng Khánh, chùa được xây dựng lại theo kiến trúc chữ ĐINH, tiền điện hậu tẩm, bố cục theo kiểu mái vòm với chất liệu chủ yếu là gạch và vôi mật. Trải qua thời gian cùng chiến tranh tàn phá, ngôi chùa đã hư hại nặng; Tam quan chùa hiện cũng chỉ còn lại vòm cổng bên trái (tả môn).
Tháng 3-2011, chùa được các Phật tử hỗ trợ kinh phí và đóng góp của dân làng, đã tiến hành đại trùng tu nhưng vẫn giữ nguyên hiện trạng kiến trúc mái vòm của chùa như trước đây. Hiện tại chùa không có thầy trù trì, người coi sóc và lo mọi việc là ông Nguyễn Thanh Chương, Pd Nguyên Bút, 72t. Tại chùa hiện có đạo tràng sinh hoạt gần 300 người, mỗi chiều tối đều có đạo hữu thay nhau tụng kinh bái sám. Đặc biệt, Gia Đình Phật Tử cũng được thành lập và sinh hoạt đều đặn vào chủ nhật hàng tuần.
 




Khê, chùa Ông, chùa Hang ở xã Thanh Trạch (Bố Trạch); chùa làng Vân Lôi ở xã Qung Hải (Quảng Trạch); chùa làng Lâm Lang ở xã Châu Hóa (Tuyên Hóa)...
Đáng chú ý nhất là khi chúng tôi đến khảo sát di chỉ chùa làng Vân Lôi - mt ngôi làng nhỏ nằm trên ốc đảo giữa dòng sông Gianh thuộc xã Quảng Hải, huyện Qung Trạch và tìm thấy một bảo vật duy nht còn lại của chùa do người dân gìn giữ. Đó là chiếc “tang trống” bằng gỗ mít của chùa. Chùa Vân Lôi đã hoàn toàn biến mất kể t những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước. Hình ảnh ngôi chùa chỉ còn đọng li trong ký ức, hoài niệm của những người đã xấp xỉ ngũ tuần. Đất chùa một phần đã biến thành trường học, một phần bỏ hoang, cây cỏ mc um tùm. Theo ông Cao Ngc Thừa - người đang gìn giữ chiếc “tang trống” cho biết, trước đây bố ông vốn làm thủ t chùa làng Vân Lôi, khi chùa b hạ giải vào đầu thập niên 70, ông c đã mang chiếc “tang trống” về cất giữ trên gác như một bảo vật, và căn dặn con cháu phải hết sức gi gìn.
Tại huyện Minh Hóa, một huyện nằm cực Tây của tnh Quảng Bình hiện không còn dấu tích ngôi chùa nào. Qua tiếp xúc với cư dân địa phương cho biết, trước đây trong cộng đồng người Nguồn ở Minh Hóa một ngôi chùa nằm gần Thác Pụt (xã Xuân Hóa) có tên là chùa Yên Đức - nơi tộc người Nguồn thường tổ chức lễ hội cúng Pt vào Rằm tháng Ba âm lịch hàng năm. Chùa Yên Đức hiện cũng không còn. Lễ hi cúng Pụt - Rm tháng Ba của tộc người Nguồn đến nay vẫn được duy trì, và nơi hành l chủ yếu của họ chính bàn th Pụt lộ thiên đặt ngay bên bờ Thác Pt.
Riêng cộng đồng người Khùa ở Minh Hóa, theo ông Hồ Quý Bôn kể lại, xưa kia cũng có hai ngôi chùa và có sư hoằng đạo theo truyền thống Phật giáo Nam tông, đó là chùa Ka Oóc (xã Trọng Hóa) và chùa Dộ (xã Dân Hóa). Các ngôi chùa này vn do những người thuộc dân tộc Khùa ở Minh Hóa sau khi sang Lào xuất gia “làm sư” đã tr về xây dựng để hướng đạo cho dân làng. Cả hai ngôi chùa này, vào đầu thế kỷ XIX, khi quân Pháp kéo lên đây xây dựng doanh trại và thiết lập vùng an ninh đã cho trit phá hoàn toàn.
Nhìn chung, rất nhiều địa phương khi đoàn chúng tôi đến khảo sát, các ngôi cổ t đã hoàn toàn biến mất, không để li dấu tích gì. Qua ánh mắt thân thiện của người dân địa phương, với câu hỏi tha thiết, mong chờ của họ - “Khi chùa mới được dựng lại? - chúng tôi thc sự xúc động và biết rằng, niềm tin Phật của người dân nơi đây vẫn chưa hề phai nhạt.
  1. Về các bảo vật chuông, tượng, pháp khí
So vi vùng Nam Quảng Bình, các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh hiện còn bảo lưu được hệ thống tượng thờ khá phong phú cả về s lượng, chủng loại, chất liệu cũng như phong cách mỹ thuật. Mặc dù trải qua bao thăng trầm lịch sử, bị phủ lên bao lp bụi thời gian nhưng hầu hết các pho tượng thờ ở đây vẫn còn khá nguyên vẹn, vẫn gi được nếp sơn thếp nguyên thủy thuở nào.
Tiêu biểu nhất có lẽ hệ thống tượng thờ trong các Phật điện chùa Quan Âm xã Đức Trạch, chùa Quan Âm xã Thanh Trch và chùa Cảnh Phúc xã Cảnh Dương. Bước vào Phật điện các ngôi chùa này người ta cứ ngỡ như đang lạc vào một bảo tàng thu nhỏ vi biết bao chủng loại tượng thờ, mà về s lượng, chỉ tính riêng ba ngôi chùa trên cũng có đến cả 100 pho.
Điều khiến chúng tôi cm thấy phân vân chính là cách phối trí tượng thờ trong các Phật điện ở đây: rất nhiều pho tượng đồng chủng loại lại được phối thờ trên cùng một ban và xếp đặt không tuân theo bất kỳ phương thức thờ t nào. Chẳng hạn, qua khảo sát Phật điện chùa Quan Âm (Đức Trạch) cho thấy: trên cùng một ban, ngoài bộ Tam Thế Phật thì có đến mấy pho tượng Phật Thích-ca, bốn pho tượng Bồ-tát Quan Âm, hai tòa Cửu Long Đản Sanh cùng rất nhiều sự trùng lặp của các hệ tượng khác.
Qua tìm hiểu được biết, sở dĩ xảy ra hiện tượng nói trên là do chng tích của một thời “hợp tự” để lại, mà chùa Quan Âm (Đức Trạch) chính là biểu tượng sinh động nhất v trường hợp này: tượng vốn được quy tập từ nhiều nguồn, nhiều ngôi chùa khác nhau trong vùng theo ch trương “dồn điền đổi thửa” và đưa về phụng thờ tại đây, trong đó có cả tượng Phật chùa Vĩnh Thanh, chùa Đức Quang và chùa Đức Linh sau khi các ngôi chùa ấy đã được “chuyển thể” thành trường học, nhà kho hoặc tr s Hợp tác xã....
Cùng vi hệ thống tượng th, các ngôi chùa dọc lưu vực sông Gianh hiện còn lưu giữ bn quả Đại hồng chung có niên đại chú đúc khá sớm. Căn cứ vào thông tin niên đại khắc trên các quả chuông cho biết, chúng được chú đúc sớm hơn rất nhiều so vi hai quả Đại hồng chung mà chúng tôi đã gặp ở khu vực Nam Quảng Bình. Bốn quả chuông này, có hai quả hin nằm tại huyện Bố Trạch đó là Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước (làng Lý Hòa) chú đúc năm Gia Long thứ 18 [1819] Đại hồng chung chùa Viên Quang (hiện lưu giữ tại chùa Quan Âm, Đức Trạch) chú đúc năm Kỷ Mão [1939]. Hai quả còn lại hiện nằm tại miền sơn cước Tuyên Hóa, đó là Đại hồng chung chùa Vĩnh Phước (thôn Phúc Tự, xã Văn Hóa) chú đúc năm Cảnh Hưng thứ 14 [1753], và Đại hồng chung chùa Yên Quốc (thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa) chú đúc năm Khải Định thứ 7 [1922]. Ngoài bốn quả Đại hồng chung nói trên, qua tiếp xúc vi các Phật tử chùa Linh Sơn (Tuyên Hóa) chúng tôi được biết, ngôi chùa này trước đây có một quả Đại hồng chung khá lớn, nhưng hiện lưu lạc vào đâu trong Huế vẫn chưa tìm ra.
  1. V thư tịch cổ Phật giáo và các văn bản Hán - Nôm
Điều bất ngờ nhất trong các đợt khảo sát là chúng tôi tiếp cận được một khối lượng lớn các thư tịch cổ Phật giáo, các tư liệu Hán Nôm có giá trị hiện được lưu giữ ti nhiều ngôi chùa trên địa bàn các huyện dọc lưu vực sông Gianh. Đáng chú ý nhất các điểm lưu trữ ti Bố Trạch, Tuyên Hóa và Minh Hóa
Qua thống kê cho thấy, tại chùa Quan Âm (Đức Trạch - Bố Trạch) hiện còn lưu giữ khoảng 50 thư tịch cổ Phật giáo các loại với số lượng gần cả 100 cuốn, cùng rất nhiều các văn bản Hán Nôm có giá trị liên quan đến Phật giáo. Ngoài các thư tịch cổ có nguồn gốc từ miền Bắc chuyển vào - chủ yếu là các bản khoa nghi, văn sớ như các tập “Tâm nang”, “Thiện bản”, “Tạp tiếu”, “Trai đàn công văn”..., và một văn bản chữ Nôm “Khuyến phát Bồ-đề tâm văn diễn nghĩa” [không ghi rõ niên đại, do Sa- môn Thích Từ Phong diễn nghĩa], tại chùa Quan Âm hiện còn lưu giữ rất nhiều thư tịch cổ thuộc Kinh tạng và Luật tạng có xuất xứ từ các ngôi chùa ở Huế, chẳng hạn: “Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện kinh” (xuất xứ từ ván khắc chùa Thiên Mụ); “Thọ mạng, Hồng danh, Vu lan bồn kinh” (xuất xứ từ ván khắc chùa Giác Lâm); “Sa-di luật nghi yếu lược tăng chú thích” (xuất xứ từ ván khắc chùa Bảo Lâm); “Phật thuyết Báo phụ mẫu ân trọng kinh” (xuất xứ từ ván khắc chùa Từ Hiếu)... Bên cạnh đó, cũng cần kể đến bản in “Điệp đàn Tỳ-kheo” của ngài Lệ Hương cùng bộ kinhThủy Sám (3 quyển) do ngài chép tay, vẽ hình minh họa chư Phật và truyện tích Ngộ Đạt Quốc sư rất có giá trị.
Có lẽ văn bản chữ Hán gây nhiều bất ng, thú và chứa đựng nhiều thông tin bổ ích nhất chính là “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn”. Chúng tôi thc sự “mất phương hướng” khi lần đầu tiên bắt gặp một văn bản với tên gọi hết sức xa lạ như vậy, vì không thể nào hình dung ra có một hình thức Phật giáo Nam truyền [Tiu thừa] đã từng hiện diện trên mảnh đất này! Tuy nhiên, chính những thông tin được ghi lại trong văn bản, qua đối chiếu với tư liệu điền dã thu thập được từ địa bàn các huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa, không ch giúp chúng tôi kết ni và luận giải về mt hình thức Phật giáo Nam truyền đã từng hiện hữu ở phía Tây Quảng Bình, mà qua đó còn góp phần minh xác văn bản này vn có xuất xứ t chùa Yên Quốc ở miền ngược Tuyên Hóa, sau đó “trôi dạt” về và được lưu giữ tại chùa chùa Quan Âm (Đức Trạch - B Trạch) ở miền xuôi.
Tại Đình làng Hòa (Hải Trạch - B Trạch) hiện còn lưu giữ nhiều văn bản khá đặc biệt liên quan đến pháp môn hành trì và h thống truyền tha của Phật giáo. Chng hạn bản in “Niệm Phật công cứ” được lưu giữ tại đây vốn có nguồn gốc từ ván khc chùa Báo Quốc - Huế, mà theo các vị cao niên làng Lý Hòa, bản in do chùa Báo Quc gửi tặng nhân dp khánh tạ chùa Vĩnh Phước (làng Lý Hòa) khoảng vào thập niên 50 của thế k XX. Bản in còn nguyên vẹn và được tô màu khá đẹp [trong khi ván khắc “Niệm Phật công cứ” chùa Báo Quốc hiện được trân tàng ti chùa Từ Đàm đã mất 1/3 mặt khắc bên phải]. Đặc biệt hơn, tại Đình làng Lý Hòa hiện còn lưu giữ bản in “Ngũ gia tông phái” vốn có nguồn gốc từ mt ván khắc trong Nam, đó là chùa 
Long Triều ở Gia Định, khắc bản năm Bính Tý [1936]. Rất có thể văn bản này đã theo chân thầy Kiểm Ôi - vị đường thượng chùa Vĩnh Phước (làng Lý Hòa) từng có thi gian vào Nam tu tp ở chùa Hội Khánh (Bình Dương) và truyền thiền phái Chúc Thánh về đây. Nội dung văn bản ghi lại sơ đồ truyn thừa của Thiền tông từ Ấn Độ sang Trung Quốc đến Việt Nam, cung cấp đầy đủ 7 bài kệ truyền thừa của các dòng thin ở nước ta từ cuối thế kỷ XVI trở đi, trong đó có một bài kệ thuc tông Tào Động ca ngài Nhất Cú Tri Giáo; 6 bài k còn lại thuộc các dòng Lâm Tế: Thập Tháp, Quốc Ân, Liễu Quán, Chúc Thánh, Trí Bản Đột Không và Minh Hành Tại Toi.
Bất ngờ hơn khi chúng tôi tình cờ phát hiện tại gia đình thầy Hồ Đăng Hới (thôn Trung Đức, xã Đức Trạch) hiện còn lưu giữ nhiều kinh sách quý cùng các văn bản,liệu có giá trị: ngoài các kinh văn như “Đại phương tiện Phật Báo ân kinh chú nghĩa”, “Từ bi Tam muội Thủy sám”, “Địa Tạng kinh”, “Nhị khóa hiệp giải”, “Chánh khắc Trung khoa Du-già tập yếu” [ván khắc chùa Báo Quốc - Huế], tại đây hiện còn lưu giữ hai liệu quý, đó là mộc bản “Điệp thế độ” theo kệ phái chùa Quốc Ân [Huế] và bản “Chánh pháp nhã tạng” của thầy Lệ Hương. Có lẽ đây là tấm mộc bản và điệp phú pháp duy nhất còn lại trên đất Quảng Bình, nhưng qua đó cũng phần nào giúp chúng ta hình dung được nề nếp sinh hoạt sơn môn của Phật giáo Quảng Bình một thời.
Tại chùa Yên Quốc thuộc thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, huyn Tuyên Hóa - mt ngôi chùa nằm ở phía Tây tnh Quảng Bình hiện còn lưu giữ 12 bài vị phụng thờ các vị Thiền sư và Tiền hiền của làng. Trong số 12 bài vị này, có đến 7 bài vị ghi phương danh các vị thiền sư vốn xuất thân từ họ Cao và họ Hà ở thôn Xuân Mai; và đáng chú ý hơn, có đến 26 vị thiền sư pháp danh đặt theo kệ phái của dòng thiền Trí Bn Đột Không. Vị cao đời nhất có pháp danh đứng hàng chữ “Chân”, vị thấp đời nhất pháp danh thuộc hàng chữ “Quảng”. Theo tư liệu chép tay của cụ Cao Đình Đậu, 84 tuổi, người đảm nhiệm hương khói và trông coi chùa hiện nay cho biết, thôn Xuân Mai xưa kia có tên là trang Yên Thế, là vùng đất sơn cước nằm phía Tây Quảng Bình, dân cư thưa thớt. Đến thế kỷ thứ XIV, có v tiền hiền họ Hà, húy Phúc Sơn quê ở làng Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An vào đây khai hoang lập ấp, đặt tên là Xuân Mai thôn. Hu duệ đời thứ ba của dòng h là Hân thọ hầu Hà Phúc Chỉnh đã ra Thanh Hóa thnh một v thiền sư vào Xuân Mai thôn chăm sóc đời sống tâm linh cho dân làng, vị thiền sư đó chính là ngài Chân Quang Đà Lâm (húy Cao Thế Vinh) thuộc đời thứ 34 dòng thiền Trí Bản Đột Không. liệu nói trên cho biết, Chân Quang Đà Lâm được thnh về hoằng đạo tại đây vào năm 1533, nhưng có lẽ đómột ghi chép nhầm vì trước thế kỷ XVII dòng thiền Trí Bản Đột Không chưa được truyền vào nước ta. Theo chúng tôi, có lẽ ngài Chân Quang Đà Lâm đặt chân đến vùng Tây 
Quảng Bình vào năm 1633 (chứ không phải 1533), vì đó cũng chính là năm mà ngài Viên Văn Chuyết Chuyết từ Quảng Nam ra Bắc Hà hoằng pháp, trước khi về lp đạo tràng tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) ngài đã có thời gian dừng chân hoằng đạo ở Thanh Hóa. Vậy phải chăng, Thiền sư Chân Quang Đà Lâm chính là pháp điệt trực hệ của ngài Viên Văn Chuyết Chuyết (?).

Tại huyện Minh Hóa, một huyện cực Tây của Quảng Bình hiện chúng tôi còn tìm thấy khá nhiều tư liu chữ Hán, chủ yếu là các văn bản cúng tế của cộng đồng người Nguồn mà nội dung còn lưu dấu khá những ảnh hưởng từ Phật giáo. Đáng chú ý nhất là văn cúng “Tuân phụng Thích-ca Như Lai di giáo...” do ông Đinh Thanh Dự, nhà nghiên cứu văn hóa thuộc dân tộc Nguồn hiện đang sinh sống tại thị trn Quy Đạt, xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa lưu giữ. Văn cúng đề ngày 19 tháng 11 năm T Đức thứ 29 [1876]. Ngoài câu tiêu đề như vừa nói, văn bản khá nhiều đoạn khi đọc lên người ta cứ ngỡ như một trích xuất từ văn s của Phật giáo chứ không ai nghĩ đó là văn cúng của người Nguồn. Tiêu biểu như: “Dục đắc an ninh ư hậu bối, tu cầu giải thoát vu tiên linh...; Phụng Phật cúng dường tiên tổ, tiên tuyên kinh cu sám...; Thống niệm... đa đa nghiệp chướng, nhất nhất sầu long, thời thi vọng tưởng trn lao, nhất chân mang mang bất ngộ, nhật nhật trm mê tửu sắc, tam độc v trừ... ”.
Hoặc vi những lời khn nguyện trong văn cúng của người Nguồn, mà chỉ cần đọc qua chúng ta cũng biết ngay là lời thỉnh cu Bồ-tát Quan Âm tm thanh cứu khổ: “Phục nguyện Bảo tướng tch tch, tốc khải bình trung chi pháp thủy; Kim dung đãng đãng, hoằng khai chưởng thượng chi dương chi; Ngọc sái cổn cổn vu tam thiên, phương phương phổ nhuận ty trần trần ư đại địa...”.

Li kết

Trên đây chỉ là những khái quát bước đầu về din mạo Phật giáo dọc lưu vực sông Gianh trên cơ sở những tư liệu mà chúng tôi thu lượm được qua các cuộc khảo sát điền dã. Dù chỉ dừng ở bước mô tả tổng quan, nhưng thiết nghĩ đó là một việc làm cần thiết trước khi có những cuộc nghiên cu sâu rộng hơn để đi đến những nhận định xác đáng về đặc điểm Pht giáo trên dải đất này.
Phật giáo qua các vùng đất dọc lưu vực sông Gianh có điểm gì khác biệt so với vùng Nam Quảng Bình, hoặc so vi các vùng miền khác, về lch sử du nhập - truyn tha, về các truyền thống Phật giáo, về kiến trúc, phong cách thờ tự, sinh hoạt Tăng- già, đời sống tâm linh của các cộng đồng dân cư...? Hy vọng trong tương lai, mảng chuyên đề này s được tiếp tục vi những n lực cao hơn, để t những kết quả thu lượm được chúng ta có thể kết nối và phác họa những nét cơ bản về din mạo của Pht giáo trên mảnh đất này, từ quá khứ cho đến hôm nay.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây