17 - Phan Thanh Việt - HÒA THƯỢNG THÍCH CHÂU TOÀN HÀNH TRẠNG CUỘC ĐỜI – TIẾNG ĐỒNG VỌNG QUÊ HƯƠNG

Thứ hai - 16/12/2019 03:18
 
HÒA THƯỢNG THÍCH CHÂU TOÀN
HÀNH TRẠNG CUỘC ĐỜI – TIẾNG ĐỒNG VỌNG QUÊ HƯƠNG
 

Phan Thanh Việt*


Tóm tắt: Hòa thượng Thích Châu Toàn, một người con của quê hương Quảng Bình. Xuất gia tu học tại Huế và hành đạo tại miền Nam. Hòa thượng còn được biết đến là một trong những cộng sự thân thiết của Thiền sư Nhất Hạnh. Hòa thượng là một con người tài hoa nghệ thuật cùng kiến thức Phật học thế học sâu sắc. Hoạt động tích cực trong những năm tháng của Trường Thanh niên phụng sự hội tại Sài Gòn. Một người con phải rời xa quê hương từ thu nhỏ, Hòa thượng luôn mong mỏi được mt ngày về thăm quê, thăm người mẹ già. Nhưng hoàn cảnh chiến tranh, đất nước lon lạc, những ước nguyện đó chỉ là những âm thanh đồng vọng trong tâm thức Hòa thượng. Tham luận này, chúng tôi muốn giới thiệu đến một vị danh Tăng của vùng đất Lệ Thủy - Quảng Bình.
Từ khóa: Hòa thượng Thích Châu Toàn, Trường thanh niên phụng sự xã hi, chùa Trúc Lâm, “Lỡ hẹn”.
  1. Tiu sử hành trạng cuộc đời
Hoà thượng Thích Châu Toàn (1933 – 1974), là vị đệ t duy nhất của Thiền sư Mt Thể (chùa Trúc Lâm - Huế). Hoà thượng vốn người họ Trần húy Hoàng Minh, quê gốc ở Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, sinh vào tháng Hai, năm Quý Dậu [(1933). Về thân thế dòng tộc, thân sinh thân mu của Hoà thượng thì hiện nay không có tài liệu nào lưu giữ đầy đủ. Căn cứ vào lá thư Trả về cho non sông của Thiền sư Nhất Hnh gửi cho Trường Thanh niên phụng sự xã hội năm 1974 sau khi biết tin thầy Châu Toàn viên tịch, cùng một số s liệu thư tịch khác bi bo tháp tại chùa Trúc Lâm – Sài Gòn, mới biết được mt vài chi tiết về cuộc đời của Thầy.
Hoà thượng Châu Toàn xuất gia từ thu nhỏ, làm đệ t Thiền sư Mật Thể ở chùa Trúc Lâm - Huế, được Bổn sư đặt cho Pháp danh là Nguyên Trí (源智), Pháp tự
là Châu Toàn (週全). Thầy thuộc đời 44 dòng Thiền Lâm Tếđời thứ 10 Thiền phái Liễu Quán – Nam Hà. Tuy là đệ t của Thiền sư Mật Thể nhưng Thầy nhận sự giáo dưỡng trực tiếp của Hòa thượng Thích Mật Hiển. Thầy được Bổn sư cho theo hctrường Phật hc Báo Quốc vi tên là Trần Hoàng Minh.


Có một sự kin vào thuở thiếu thời “hành điệu” của Thầy, sau này được Thiền sư Nhất Hạnh kể lại: “Thầy Châu Toàn tôi quen từ hồi Thầy còn tám tuổi. Thầy đến Tu viện của tôi trên núi Dương Xuân để hái hoa về trang trí cho ngày giỗ t ti chùa Tra Am. Thầy lúc ấy là chú điệu Hòa259. Hòa leo lên cây Hoa Đại (tức Hoa Sứ) hái từng giỏ hoa trắng muốt. Nhưng một cành Hoa Đại gãy, Hòa té xuống đất, gãy xương ống chân. Thầy Mật Thể (tác giả sách Việt Nam Phật giáo sử lược) Bổn sư của Hòa phải đưa Hòa vào bnh viện, Thầy ngồi hàng giờ trong bệnh viện với Hòa”260. Mt giai thoại ấm đậm tình thầy trò, có lẽ chú điệu Hòa đi tu từ lúc còn thơ dại, ri xa quê hương, thì đối vi chú Bổn sư như là một người cha gần gũi, thương yêu. Chúng ta biết thêm được mt chi thiết thú v về hành trạng của Thiền sư Mật Thể.
Năm 1952, lúc 19 tuổi thì Thầy được Hoà thượng Bổn sư cho phép thọ C túc gii tại Giới đàn Báo Quốc. Cùng năm này, Thầy vào miền Nam hc tập sinh ngữ làm việc theo li mời của Thiền sư Nhất Hạnh và Hòa thượng Đồng Bổn. Vào đến Sài Gòn, Thầy đã ghi tên học cho xong chương trình Trung học ở trường Nguyễn Du. Sau khi tốt nghiệp Trung học, Thầy lại tiếp tục ghi tên học tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn cho ti khi tt nghiệp Cử nhân Văn chương. Trong thời vào miền Nam hành đạo Thầy đã cùng với chư vị tôn túc kiến lập nên ngôi chùa Trúc Lâm ở Gò Vấp để làm cơ sở cho các hoạt động Phật sự.
Trước hết, xin nói về ngôi chùa Trúc Lâm tại Sài Gòn. Chùa hiện nay, thuộc số 76/60 đường Nguyễn Thượng Hiền, phường 1, quận Gò Vấp – Sài Gòn. Theo lời kể của Hòa thượng Tnh Thành – tr trì hiện tại, thì chùa xưa vốn là đất của Cô Ba Tý, pháp danh Diệu Liên cúng cho Hòa thượng Giác Quang, sau đó Hòa thượng giao lại cho Thiền sư Nhất Hạnh, Hòa thượng Đồng Bổn và Thầy Châu Toàn để làm sở cho các Phật sự. Theo văn bia tại bảo tháp, chùa Trúc Lâm do Hoà thượng Châu Toàn
sáng lập (開建 - Khai kiến) và có lẽ việc đặt tên chùa “Trúc Lâm” là ý kiến của Hoà
thượng Châu Toàn, như để ghi nhớ chốn tổ Trúc Lâm – Huế? Trong cuốn sách Bây giờ mới thấy, Thiền sư Nhất Hạnh k rằng: “chùa Trúc Lâm ở Gò Vấp là tiếp nối của chùa Trúc Lâm Huế thầy Châu Toàn là s tiếp nối của Thiền Mật Thể. Ngày trước, trên tường của Tăng xá chùa Trúc Lâm - Sài Gòn có bài thơ tả cảnh Trúc Lâm ở Huế của Đại thần H Đắc Trung: Trúc Lâm phong cảnh tối thâm u,… bài thơ với nét bút của Ni sư Diệu Không”261.




259 lẽ đây là tên thường gọi lúc nhỏ của Thầy Châu Toàn.
260 Thiền Nhất Hạnh, lá thư Trả về cho non sông”.
261 Thiền Nhất Hạnh, Bây giờ mới thấy, trang 41.
 




Thiền sư Nhất Hạnh cũng đã có một thi gian sống và làm việc tại đây cùng với Hoà thượng Châu Toàn. Tại đây, còn thư phòng của Thiền sư Nhất Hạnh đã lưu trú và làm việc trong thời gian ở Sài Gòn. Nơi đây, một thời còn là nơi lưu trú của nam xuất Trường Thanh niên phụng sự xã hội.
Năm 1964, tập san Hải Triều Âm ra đời do Thiền sư Nhất Hạnh làm chủ bút. Hoà thượng Châu Toàn làm thư ký tòa soạn, Hoà thượng còn mời Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cộng tác ph trách trang thơ của tạp chí Hải Triều Âm. Hoà thượng Châu Toàn và Vũ Hoàng Chương làm việc rất hợp nhau. Hoà thượng từ chùa Trúc Lâm ở Gò Vấp đến tòa soạn bằng xe đạp gắn máy.
Năm 1965 Trường Thanh niên phụng sự xã hội được Thiền sư Nhất Hạnh thành lp, thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh trong “công cuộc hiện đại hóa Phật giáo và vận động văn hóa dân tộc”, hoạt động vi tôn ch:
+ Đề cao lý tưởng phụng sự xã hội của thanh niên đối với đất nước.
+ Thực hành lý thuyết Từ Bi của Phật giáo.
Trường Thanh niên phụng sự xã hội hoạt động như một đại gia đình. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt của đất nước, đã tích cực xây dựng, kiến thiết li làng xã bị tàn hoại trong chiến tranh, cứu giúp đồng bào bị chiến nạn, nêu cao tinh thn yêu Tổ quốc, dân tộc.
Ngoài việc giảng dạy chính tại Trường Thanh niên phụng sự hội, Thầy còn tham gia giảng dạy Văn Khoa tại trường Đại học Vạn Hạnh và dạy Phật pháp ở nhiều trường như: Bồ đề Sài Gòn, Bồ đề Bến Tre, B đề Ch Ln, B đề Bình Dương,…
Năm 1972, Trường Thanh niên phụng sự xã hội mất đi một cây cổ th là Thầy Thích Thanh Văn, để tiếp nối cho sự nghiệp của Trường, Thầy Châu Toàn tiếp tục gánh vác làm Giám đốc.
Năm Giáp Dần [1974], Hoà thượng Châu Toàn viên tịch vì bệnh tim, sau khi lên thay Thầy Thanh Văn làm Giám đốc Trường Thanh niên phụng sự hội chừng hai năm. “Thầy Châu Toàn với khuôn mặt bầu bĩnh coi giống như Đức Phật Di Lặc, thì cũng hết sức năng nổ dấn thân hết mình với anh chị em trong gia đình trong mọi công tác và sinh hoạt vừa học vừa làm của trường. Đặc biệt là Thầy Châu Toàn đã thúc đẩy việc thiết lập được một chi nhánh của Ngân Hàng Nông Thôn đặt tại quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Công việc đang tiến hành suôn sẻ, thì lại một lần nữa cảnh tang tóc đã xảy ra qua cái chết vì bệnh bất ngờ của vị tân Giám đốc Châu Toàn, người mới kế vị Thầy Thanh Văn được chừng có hai năm mà thôi”262.



262 Đoàn Thanh Liêm, “Chuyện vui buồn với anh chị em Thanh Niên phụng sự xã hội”
 




Thầy ra đi đột ngột trong lúc đang còn hăng say cống hiến sức trẻ và tài năng cho Đạo pháp. Thầy mất đúng vào ngày Tết Đoan Ngọ, Mùng 5 tháng 5 năm Giáp Dần [24/6/1974]. Để lại sự hụt hẫng tiếc thương vô hạn, bao d định đang còn dang d, tâm nguyện kiến thiết Làng Hồng còn chưa kịp thì Thầy đã ra đi, Trường Thanh niên phụng sự hội mất đi một cây cổ th, biết lấy ai làm người gánh vác.
Hòa thượng được an táng tại phía tả khuôn viên chùa Trúc Lâm – Sài Gòn, thọ thế 41 tuổi và 22 H lạp. Năm 2018, trong dịp đi tìm tiểu sử của Thầy, tìm v li ngôi chùa Trúc Lâm ở quận Gò Vấp, Sài Gòn với mong mỏi tìm được nơi ngày xưa Hoà thượng đã trú trì, sinh sống và hành đạo, thật phúc lành khi những dấu tích ngày xưa vẫn còn nguyên vẹn, tấm ảnh chân dung của Thầy và ngôi Bảo tháp vẫn còn đó sau bao nhiêu bãi bể nương dâu cuộc đời. V trí của Bảo tháp do hai vị Tôn túc là Hòa thượng Thích Mật Hin (Trúc Lâm - Huế) và Hòa thượng Thích Trí Thủ (Già Lam – Sài Gòn) đặt và Bảo tháp được xây dựng ba tầng theo lối kiến trúc ca Cố đô Huế. Bi ký tại Bảo tháp đề: “Khai kiến Trúc Lâm t chủ húy Nguyên Trí, tự Châu Toàn, Thanh niên phụng sự xã hội Giám đốc Trần công chi tháp – Sinh vu Quý Dậu niên, nhị nguyt nhật. Viên tịch vu Giáp Dần niên, ngũ nguyệt, ngũ nhật; Phật lch nhị ngũ thập bát. Dương lịch Nhất cửu thất tứ. Môn đồ tnh Thanh niên phng sự xã hội đồng
sự đẳng phụng lập.” (開建竹林寺主諱源智字週全青年奉事社會監督陳公之塔 - 生于
癸酉年二月日. 圓寂于甲寅年五月五日. 佛曆二五十八. 陽曆一九七四. 門徒並 青年奉事社會同事等奉立). Theo như văn bia thì Hòa thượng Châu Toàn là v Khai kiến và trụ trì chùa Trúc Lâm - Nam Kỳ. Di ảnh và Long v của Ngài thờ ti ban chính ca hậu t chùa Trúc Lâm – Sài Gòn.
Tại Tổ đình Trúc Lâm – Huế, Hoà thượng được tôn trí tại án thờ lịch đại Trúc Lâm Pháp Phái ở T Đường, vi di ảnh và thần vị đề: “Lâm Tế tông tứ thp tứ thế Nam Kỳ Trúc Lâm tự trú trì húy Nguyên Trí hiệu Châu Toàn chi giác linh”.
  1. Người cộng sự ca Thiền sư Nhất Hạnh
Hoà thượng Châu Toànngười em thân thiết, một người cộng sự, phụ tá đắc lực của Thiền sư Nhất Hạnh tại miền Nam trong thời gian này, cùng tham gia vận động thành lập Trường Thanh niên phụng sự hội.
Hoà thượng là một con người tài hoa uyên bác v thế học lẫn Phật học, một con người có tâm hồn nghệ sĩ và viết chữ Nho rất đẹp. Sau này, Thiền sư Nhất Hạnh và Hoà thượng Châu Toàn còn d định sẽ m mt Làng tu học cho Trường Thanh niên phụng sự xã hội và Phương Bối Am được thành lập. Dự định biến Phương Bối Am thành mt làng tu tập gọi là Làng Hồng, ở đó trồng nhiều cây Hồng ăn trái. Làng Mai ở Pháp là hậu thân của Phương Bối và Làng Hồng vậy. Thiền sư Nhất Hạnh kể rằng:

“Thầy Châu Toàn có ha vi tôi là sẽ tìm đất làm một làng Thanh niên phụng sự xã hội, trong đó mỗi chúng ta có một lô đất để làm nhà và làm vườn. Đi đâu thì chúng ta cũng có một cái nhà một cái vườn để tìm về, để nhớ, để thương. Tôi định gặp thầy Châu Toàn để nói: cho tôi một đất không xa lô đất của em để làm nhà và làm vườn. Thy Châu Toàn là mt chân nghệ sĩ đích thực, là vị Tăng sĩ cắm hoa đẹp nhất mà tôi quen biết. Tôi biết nếu giao cho Thầy việc làm Làng thì chúng ta s có Làng rất đẹp, bi tôi tin kh năng thẩm m của Thầy”263.
Năm 1974, lúc này Thiền sư Nhất Hạnh đang hành đạo tại Pháp, sau khi nhận tin Hòa thượng Châu Toàn viên tịch, Thiền sư đã viết một bức thư gửi cho Trường Thanh niên phụng sự hội. Thiền sư Nhất Hạnh đã đau xót trong lá thư: “Trong một khóa tu cách đây chừng hai tháng, thầy Châu Toàn viết cho tôi: “Em mong có hòa bình để ra Quảng Bình tìm lại mẹ, mong rằng bà còn sống”. Không biết mẹ Thầy còn sng hay không nhưng Thầy không còn có dp gặp mẹ nữa. Li ước hẹn đã không được thành tựu. Ngày Thầy mất 24.6.74, là ngày tôi ước hẹn gặp Thầy ở Vạn Tường để bàn chuyện làm Làng Hồng. Nhưng tôi đã không được gặp Thầy. Nhận được tin dữ, tôi đóng cửa phòng một ngày. Tôi như một gốc cây bị đốn ngã. Tôi đánh điện về an ủi các em nhưng tôi thì không an ủi được, sao trên đời có những chuyện l hẹn” đớn đau đến thế, hả em! Tôi đọc Kinh cầu nguyện cho Thầy, cho tôi và cho các em. Tôi viết những dòng này cho các em trong khi bên ngoài gió thi rất mạnh”264. Nhưng có lẽ s hối tiếc hơn hết của Thầy là ước nguyện được một lần trở về thăm lại quê hương Quảng Bình sau ngày hòa bình để tìm gặp người mẹ già năm xưa. Người m có còn hay không nhưng Thầy đã về vi cõi thiên thu tịch tịnh, Thầy đã “lỡ hẹn”! S “lỡ hẹn” khiến cho hậu thế ngậm ngùi.
Năm 2005, Thiền sư Nhất Hạnh về thăm lại quê hương lần đầu sau mấy mươi năm ở hải ngoại, Ngài đã ghé thăm lại Trúc Lâm và căn phòng này. Thắp nén tâm hương cho người tri âm, một người cộng sự, một người em đã mất, mà suốt hơn 40 năm mới dp trở về, chút bùi ngùi, hoài niệm ngày xưa.
  1. Tiếng đồng vọng quê hương đất m
Trong suốt cuộc đời của Thầy, phải rời xa quê hương từ thuở bé thì âm thanh đồng vọng đó luôn ấp ủ trong tim được mt ngày trở về.
Di cảo còn lại duy nhất của Thầy Châu Toàn để lại đó là một tập truyện ngắn, nhưng cũng thật đặc biệt di cảo đó chỉ biết được qua lời kể của Thiền sư Nhất Hạnh. Đó là tập truyện ngắn “Lỡ hẹn”, chẳng biết tập truyện đã được xuất bản chưa hay vẫn


263 Thiền Nhất Hạnh, Lá thư “Trả về cho non sông”.
264 Thiền Nhất Hạnh, Lá thư “Trả về cho non sông”.
 




còn là bn thảo. Câu chuyện rằng: “Chuyện kể về một người thanh niên phi rời xa quê hương từ nhỏ đi đến làm ăn sinh nhai ở một vùng đất khác, phi xa mẹ, xa quê hương. Trong tâm thức cậu ấy luôn đau đáu một niềm mong mỏi được trở về thăm quê, thăm người mẹ già, sau bao năm xa cách. Rồi cơ hội chợt đến, trong một chuyến công tác xa và sẽ đi ngang qua vùng đất quê mẹ, người thanh niên đó viết thư cho người mẹ rằng: “Con chuyến công tác xe lửa đi ngang qua nhà, sẽ dừng lại năm phút, xin m hãy ra ga cho con thăm mẹ mt chút và mẹ nhớ mang cho con một vài cái bánh ít mẹ làm, kẻo lâu rồi không được ăn bánh ít ngon mẹ làm, con nhớ m lắm!” Rồi đến ngày hẹn, khi tàu vừa đến ga quê hương, cậu hồi hộp chờ đợi, cậu mong mỏi tìm mẹ nhưng tìm mãi không thấy, rồi sau năm phút tàu lại lăn bánh, cậu vẫn không tìm thấy mẹ, tàu đã chạy, nước mắt cậu chan chứa rồi cht cậu dúi mắt trông về xa xa nơi lũy tre đầu làng, có dáng một người thiếu phụ đầu đội cái rỗ con. Cậu nhận ra mẹ, cậu gọi mẹ ơi! Mẹ cậu không thể nghe thấy. Tàu vn chạy, cậu nhìn thy mẹ nhưng mẹ cậu đã dừng lại trong tuyt vọng khi thấy chuyến tàu đã lăn bánh. Cậu khóc nhòe cả lũy tre làng và rồi một hành khách nắm tay dắt cậu vào trong toa”.
Mt câu chuyện buồn còn dang dở, là một sự tiếc thương vô hạn. Người thanh niên trong câu chuyện với nỗi niềm xa quê luôn khắc khoải được ngày trở về, được nằm trong vòng tay người mẹ, được nếm v ngọt đậm đà của món bánh ít quê hương mẹ làm. Đó là tiếng lòng, là âm thanh của đồng vọng quê hương. phải chăng tác giả đang nói đến tâm cảnh của chính mình! Thầy đã viết nên câu chuyện chính là viết nên một ước nguyện, như để vơi đi nỗi mong nhớ quê hương.
Hòa thượng Châu Toàn, một người con của quê hương Quảng Bình, suốt mấy mươi năm bởi vì hoàn cảnh lch sử Thầy phải rời xa quê hương, xa người mẹ già mòn mỏi ngày đêm ngóng chờ người con xa xứ. Chúng ta thấu hiểu được hoài niệm quê hương tha thiết, thấu t được âm thanh đồng vọng quê hương trong tâm thức của Thầy. Sự l hẹn – l hẹn với quê hương, lỡ hẹn vi mẹ già thì niềm tiếc thương nào lớn lao hơn điều đó nữa. Thầy ra đi nơi đất khách quê người, khi còn hăng say và tràn đầy nhựa sống, tài năng của Thầy còn muốn đóng góp cho Đạo pháp, cho dân tc, phụng sự cho chúng sinh nhưng bởi vô thường nên cánh nhạn đã tung cánh giữa tri cao. Thầy đã đi xa nhưng Thầy vẫn còn trong vòng tay của thầy tổ, của mái chùa yêu dấu, vẫn còn đó quê hương luôn vẫy gọi, đó là một sự an ủi vĩnh cửu.
Như một đại duyên lành, thông qua Hi thảo khoa học, tham luận này chúng tôi muốn được thay Thầy gửi gắm một chút đồng vọng quê hương trong tâm thức của Thầy. Thông qua đây, chúng tôi rất mong tìm được lại đầy đủ chi tiết tiểu sử của Thầy, tìm được quê hương, họ tc, tìm về m phần của song thân Thầy để thp nén 
tâm hương, có thể thay thế Thầy hoàn thành ước nguyện lúc còn sinh tiền - Được một ln trở về thăm lại quê hương đất mẹ./.

Tài liu tham khảo:

  1. Thích Hải Ấn, Thích Trung Hậu (2011), Chư Tôn Thiền Đức và Cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hoá, tập 1,2,3, Nxb Tổng hợp TP.HCM.
  2. Thiền sư Thích Nhất Hạnh (1974), Lá thư “Trả về cho non sông”, Pháp Quốc. (Tư liệu do quý Thầy Làng Mai - Thái Lan cung cấp).
  3. Thiền sư Thích Nhất Hạnh (2014), Bây giờ mới thấy, Nxb Phương Nam Book.
  4. Đoàn Thanh Liêm (2011), “Chuyện vui buồn với anh chị em Thanh Niên phụng sự xã hội”, Hoa Kỳ.
  5. Chân Không, “Chùa và Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.”
  6. Sen Trắng – Hoa Kỳ, Tìm hiểu về “Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của Viện Đại Học Vạn Hạnh” thập niên 60 (Kỳ 1).
  7. Ngô Đồng, (2018), Truyện ngắn “Lỡ hẹn”, Tập san Liễu Quán– Huế số 15.
  8. Thích Thành Trí, (2019), Lịch sử chùa Trúc Lâm, Nxb Hồng Đức.
  9. Bi ký Hoà thượng Thích Châu Toàn, tại chùa Trúc Lâm, số 76/60 Nguyễn Thượng Hiền, phường 1, quận Gò Vấp, TP Sài Gòn.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây