15 - NNC. Nguyễn Ngọc Trai - PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH XƯA VÀ NAY

Thứ hai - 16/12/2019 03:14
PHT GIÁO QUẢNG BÌNH XƯA VÀ NAY
 

NNC. Nguyễn Ngọc Trai

 
  1. Đặt vấn đề
Quảng Bình vùng địa linh nhân kiệt có núi sông hùng vĩ, có biển rộng, bờ bin dài. Từ xa xưa, khi Quảng Bình tr về với Đại Việt năm 1069, Quảng Bình có tên Lâm Bình, rừng núi Quảng Bình chiếm 90 % diện tích, rừng ra ti biển, chỉ có một số đồng ruộng xen kẽ. Tạo hóa ra rừng Phong Nha K Bàng bao la hoang sơ đến kỳ lạ, trong hàng ngàn năm khu rừng bí hiển ẩn cha tâm linh, Theo thống kê chúng tôi có đến 99 ngọn núi trên 1000 m, có ngọn cao nhất gần 2000m ở huyện Minh Hóa. Hang động từ xa xưa rất linh thiêng. Các hang động là chùa như Hang Phong Nha, hang trên núi Thần Đinh, hang ở Áng Sơn, huyện Quảng Ninh, hang Đá Nhảy, hang Minh Cầm…
Con đường Phật giáo và Quảng Bình: rất nhiều con đường. Pht giáo Quảng Bình có từ rất sớm, rất đa dạng, phong phú được giao thoa với nhiều dòng phái Phật giáo trên vùng đất địa linh nhân kiệt.
Nằm ở giữa hai đầu đất nước, nơi đây từ xa xưa và mãi đến thời chống Pháp chng M luôn là nơi đụng đầu lch sử bởi vậy mà nó ảnh hưởng đến sự thịnh suy, thăng trầm cùng lịch sử quê hương trong đó có cả Pht giáo.
Trong suốt quá trình lịch sử, Phật giáo Quảng Bình hưng thịnh nhiều thi kỳ lch sử. Bởi mấy ngàn năm những cuộc đụng đầu trong các cuộc chiến tranh đều diễn ra trên vùng đất này. Chiến tranh giữa Chiêm Thành với Đại Việt kéo dài gần 4 thế k; cuộc nội chiến Trnh - Nguyễn kéo dài 200 năm, lấy sông Gianh làm ranh giới; cuc chiến tranh chng thực dân Pháp; cuộc chiến tranh bằng không quân, hải quân M. Bởi vậy nói Quảng Bình là vùng đất chứng kiến bao sự kin lch sử thăng trm qua mọi thời đại quả không sai.
Quảng Bình xưa có tên gọi Lâm Bình, Tân Bình, Tây Bình và Tiên Bình, và là cửa ngõ xứ Đàng Trong của Đại Việt, một thời thuộc Thun Hoá. T khi 3 châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh thuộc Chiêm Thành trở về với Đại Việt, tiếp quản vùng đất thi hồng hoang, từng đợt di dân của Đại Việt vào đây đã mang theo trong huyết qun của mình nền văn hoá đồng xanh với những biểu trưng cây đa, bến nước, sân đình, luỹ tre làng, “đất vua chùa làng” với 2 yếu tố nổi trội đó là tín ngưỡng và tôn giáo. Văn hoá Đại Việt vào đây chấp nhận hoà nhập vi những tín ngưỡng và tôn 
giáo bản địa, tạo nên một nền văn hoá phong phú, đa dạng, giao thoa giữa các nền văn hoá.
  1. Con đường Phật giáo vào Quảng Bình
Từ xa xưa từ Ấn Độ theo đường biển vào Quảng Bình, đây là con đường cổ nhất. Các ngôi chùa vùng biển ở Đức Trạch, Lý Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình, rồi khu vũng chùa Đảo Yến còn gọi vũng lành cũng còn in dấu. Con đường Phật giáo Ấn Độ qua Thái Lan, qua Lào đến miềm biên giới các huyện Minh Hóa, Bô Trạch. Thực ra dân các huyện hai bên biên giới Việt Lào, Pht giáo không có biên giới nên Phật giáo còn lưu giữ còn ở các xã miềm núi, nhật huyện Minh Hóa
Từ Ấn Độ bằng con đường biển: Từ xa xưa từ Ấn Độ theo đường biển vào Quảng Bình, đây là con đường cổ nhất. Các ngôi chùa vùng biển ở Đức Trạch, Lý Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình, rồi khu vũng chùa Đảo Yến còn gọi vũng lành cũng còn in dấu. Người truyền giáo Ấn Độ đã vượt biên gii phía Trung Ấn Độ sang vùng trù phú Myanmar (Miến Điện) rồi vào vùng Founan (Phù Nam). Trong truyn có nói rõ là hai vợ chồng gặp một đại thương gia dùng thuyền để đi buôn và nói với Tiên Dung: Quý nhân xuất ra một thoi vàng, năm nay cùng với người nhà buôn ra ngoài biển mua vật quí, sang năm sẽ lời được một thoi.
Ngoài biển có hòn đảo tên là Quỳnh Viên241. Nơi đây có một am và một vị Tăng sĩ tên là Phật Quang. Như vậy, núi Qunh Vi ở bờ biển nam Hà Tĩnh chắc hẳn có ảnh hưởng đến Phật giáo Quảng Bình. Các cư dân ven biển Vũng Chùa, xưa có tên vũng lành đến làng Cảnh Dương đi vào Đức Trạch huyện B Trạch, ảnh hưởng Phật giáo thi kỳ này.
Phật giáo từ Ấn Độ qua Thái Lan qua Lào đến Quảng Bình: Thi ti cổ là vùng đất thuộc ngôn ngữ Việt - Mường. Vì thế buổi đầu được tiếp nhận tín ngưỡng thờ Pụt (Bụt) và duy trì lâu dài ở đây ít nhất 500 - 600 năm từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ V, thời điểm mà nhóm người thuộc ngôn ng Vit - Mường tách ra. Tục thờ Pt ở Quảng Bình giống như tục thờ Pt của người Mường hiện nay ở các tỉnh miền núi phía Bắc giống thờ Pht.
Ở vùng núi huyện Minh Hoá, trong văn hoá người Nguồn có tín ngưỡng thờ Pt t lâu đời, họ xem ông Pụt như một vị phúc thần luôn luôn quan tâm nguyện vọng che chở phù hộ con người, sẵn sàng cứu giúp khi con người gặp hoạn nạn cầu cứu. Chuyện xưa truyền tụng lại: Pụt vốn ở trên trời, luôn nghe tiếng cầu xin thường x
uyên của con người nên quyết địnhli cõi trần cho gần gũi tiện bề cứu giúp. Sau đó Pụt hoá thành tượng đá ở lèn Gieo thuộc Kim Linh.
Tộc người Nguồn ngày xưa thờ đa thần. Trong đó, vị thần đứng đầu linh thiêng đặc biệt được thờ cúng là ông Pụt (Bụt), vị Thánh tổ ở lèn Ông Ngoi thờ ti Thác Pt. Theo tâm linh nguyên thuỷ của người Nguồn thì ông Pụt ở trong trời đất cho sinh ra con người và muôn loài, rồi hoá thành 12 tượng đá của 4 phương 8 hướng trời đất ngồi trên đỉnh lèn Ông Ngoi.
Trong các con đường truyền Phật giáo vào Quảng Bình đáng lưu ý là con đường t Trung Ấn qua Lào rồi vào các huyện Tuyên Minh, Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Con đường đó ngoài đường thuỷ còn có đường bộ. Đây là con đường Phật giáo Nguyên Thủy đã có từ xa xưa. Trước đây con đường này có ít sử sách nghiên cứu, nay Phật giáo đi theo con đường này bi vậy mà nó càng rõ ràng, với đầy đủ tư liệu phi vt th và vật thể.
Như vậy, các con đường du nhập Phật giáo Quảng Bình cũng một trong những nguyên nhân góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hoá Phật giáo nơi đây.
Từ Chiêm Thành phát triển ra: Như chúng ta đã biết nước Chiêm Thành được thành lập từ năm 192 (đầu thế kỷ th III). T lúc lập nước Chiêm Thành, các triều vua luôn có mưu đồ đánh chiếm m rộng đất quận Nhật Nam của Đại Việt. Các cuộc ln chiếm mở rộng biên giới kéo dài đến 4 thế kỷ, tuy nhiên cho đến đầu thế kỷ VII, Chiêm Thành mới mở rộng biên gii tới Đèo Ngang. Đến năm 1069, các châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính mi trở về với Đại Việt sau đó Chiêm Thành cũng nhiều lần đánh ra Đại Việt, nhất là vùng đất Quảng Bình. Đến thế kỷ VIII – IX. Phật giáo Chiêm Thành phát triển mạnh ở vùng đất Quảng Bình, 800 năm đến 900 năm để lại nhiềusở Pht giáo ở khắp mọi vùng quê. Điều đó được thể kiện qua những biểu hin sau:
  • Người ta đã tìm thấy thân tượng Phật ở Quảng Khê, Bố Trạch và tượng Phật khc y che kín cả hai vai nhưng hai tay lại để trn; những tượng bằng đá cứng phía sau có gắn hào quang. Thân tượng Phật Qung Khê gần kiểu tượng Ấn Độ thế kỷ thứ IV VI ở Bagh và Ajantax242.
  • Tấm bia Roòn ở Quảng Bình minh văn xa nhất ở phía bắc Chămpa của vua IndravarmanII, bắt đầu những lời tôn kính dành cho Lokesvara. Như vậy, sự hưng thnh của đạo Phật ở Chămpa vào thời Vương triều Indrapura không phải là sự đột khi kết quả của cả mt quá trình thâm nhập và phát triển khá lâu dài, từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên. Thế nhưng, đến vương triều Indrapura, Phật giáo mới thực sv trí lớn trong đời sống tinh thần của Triều đại Chămpa.
Sau tấm bia Roòn thng kê là những lãnh địa dâng cúng cho một tu viện. Bia ký Bằng An của Vua Bhadravarman II bắt đầu bằng những lời tôn kính Lokesvara để rồi nói ti việc dựng một Linga Paramesvara243. Cũng tại Roòn, đã phát hiện tấm bia đá sa thạch viết bằng văn tự Sanskrits, nhắc đến điện thờ Pht (Buddhist Vihara). Tấm bia vỡ ch sót lại 4 dòng chữ F.Huber khi nghiên cứ văn tự ở hin vật này đã cho rằng: Dạng chữ khắc ở bia nằm trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ th X dưới triều đại Indrpura .
Sách Lịch sử Chămpa còn viết: … Xin được bắt đầu với địa bàn cc Bắc, tỉnh Quảng Bình ngày nay. Ở đây, trên sông Kiến Giang… đã có mấy cụm di tích Trung Quán ở b Bắc, Đại Hu ở bờ Nam, cách nhau 5km và không xa đó Mỹ Đức.
Trung Quán ở huyện Quảng Ninh có 1 tháp, mỗi cạnh đáy dài 7,1m, dưới đáy si ma có một con rùa vàng dài 4cm, 2 mảnh vàng hình hoa sen và 10 viên đá quý. Đại Hữu và Mỹ Đức gần giống nhau, một nơi là một cụm 3 tháp nhỏ, cạnh đáy 5,5m, tường bao quanh.Bia M Đức: Tại thánh đường Phật giáo Mỹ Đức, xã Sơn Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tấm bia không có niên đại nhưng lại mang tư tưởng Phật giáo Đại thừa thế kỷ th IV244.
Tại Mỹ Đức người ta phát hiện 1 tượng Phật bằng đồng thau, cao 0,44m, áo cà sa phủ kín hai vai, thân áo un nếp làn sóng245, đoán định niên đại khoảng thế kỷ IX. Một tượng Lokesvara (Quan Âm) cao 0,33m (c đế), 1 tô có chân có quai bằng đồng để thờ; 1 tượng Lokesvara bằng đồng mạ vàng, trông thô xấu, 1 mảnh thân (bị gãy mất 1 phần đầu, tay) cũng cho thấy tư thế đứng lệch hông, khoác tm choàng, nhẵn bóng.
Cụm đền Mỹ Đức có quy mô nhỏ. Ở đây phát hiện 2 tượng Quan Âm, nhiều tượng Phật cỡ nhỏ, bằng kim loại và 1 mảnh đá khắc 2 dòng chữ Phạn là Jagadgura và Abhayada (Người Bảo hộ, Người giữ gìn yên thế giới, tức là Đức Pht).
Gần đây, chúng tôi rất ngạc nhiên về tượng Bồ Tát ở Đại Hữu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đây được xem là tượng Bồ Tát Avalokitesvara huyền bí. Ở Bảo tàng Lịch sử Vit Nam, ti thành ph Hồ Chí Minh trong kho báu vt tồn tại hàng ngàn năm có pho tượng Bồ Tát Avalokitesvara cổ xưa với vẻ đẹp trầm mặc,



243 Hu be ro. E. E tudes Indochinoises BE FEO. XI. tr.267
244 Văn hoá cổ Chămpa, tr.424
245 Phạm Xuân Sơn, Việt sử tân biên, quyển 2, tr.16 - 18
 




huyền bí. Tượng Bồ Tát Avalokitesvara (Quán T Tại, Quán Thế Âm) còn được gọi là tượng Avalokitesvara Đại Hữu được Henry de Pirey phát hiện tại tu viện nhỏ vùng Đại Hữu, xã An Ninh, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) vào những năm đầu thế kỷ XX. Đây là một trong những hiện vật thể hin nghệ thut tạo hình độc đáo của nền văn hoá Chămpa. Pho tượng bằng đồng, nng 35 kg này có niên đại thế kỷ th X. Mt số nhà nghiên cứu khác cho rằng tượng có niên đại vào khoảng thế kỷ VII - VIII, cho đến nay vẫn còn gi được tính nguyên vẹn.
Yếu tố đồ tượng học xác định tượng Avalokitesvara Đại Hữu cũng chính là tượng Bồ Tát Quan Thế Âm. Về phần cánh tay, được cho là điểm nổi bật, nằm ở ý nghĩa của các tùy vt trên bốn bàn tay tượng: “Tay phải trên cầm quyển sách, tay trái trên cầm chuỗi hạt, hai tay dưới đưa ra phía trước, tay phải cầm nụ sen và tay trái cầm bình nước cam lộ”.
Tìm thấy thân tượng Phật ở Quảng Khê, Bố Trạch và tượng Phật khắc y che kín cả hai vai nhưng hai tay lại để trn; những tượng bằng đá cứng phía sau có gắn hào quang Tượng gần kiểu tượng Ấn Độ thế kỷ thứ IV - VI ở Bagh và Ajantax246 Làng Lý Hòa, huyện B Trạch có giếng nước Chiêm Thành cách đây 800 năm, cổng chùa làng 3 chữ Phạn ghi “Vĩnh Sơn tự”.
Động Phong Nha thời Chămpa còn gọi là chùa Hang, thuộc làng Phong Nha, xã Cao Lao (nay xã Xuân Sơn), huyện Bố Trạch. Tại động này người ta đã thu thập được tất cả 97 bia ký. Hầu hết các bia ký ở đây đều mang nội dung Phật giáo được phát hiện từ đầu thế kỷ XX qua những bệ thPht bằng gạch, những tượng Phật bằng đất nung có kích thước rất nhỏ để đeo tay, hoặc mang theo bên mình, có niên đại khong từ thế kỷ IX - X. Động Phong Nha nơi ban phát những ngẫu tượng nhỏ cho các tín đồ Chămpa đến hành hương tại nơi đây247 .
Từ cuối thế kỷ trước, c đạo Cadiere đã tìm thấy dấu tích của 1 bàn thờ và một s chữ Chăm trên vách hang động Phong Nha. Tháng 7/1995, đoàn công tác hỗn hp do GS. Trần Quốc Vượng dẫn đầu đã tìm được trong khu vực chùa Hang - “động Phong Nha” dưới mt lớp xi măng vôi (dày 26cm) ba nền xây gạch Chăm, nhiều tảng đá lớn (granits) có rất nhiều mảnh gốm Chăm đỏ nâu, rất giống gốm Trà Kiu, Hội An... nằm lẫn với đồ bát sứ và sứ Đường Tống (thế kỷ IX - X). Phía Bắc sông Di Luân (sông Roòn) có bia Bắc Hà (xã Quảng Phú, Quảng Trạch), trước đây có miếu Chăm (đã bị máy bay đánh sập, bia bị vùi dưới hố bom), đặc biệt bia có 4 chữ Phn, nội dung nói về việc cúng nhường đất đai của vua Chăm cho một Pht viện.


246 Ngô Văn Doanh, Văn hoá cổ Chămpa, tr.354
247 Trần Kỳ Phương, Di tích Phật giáo Chămpa tại Quảng Bình, tr.7
 




Đặc biệt theo các nhà nghiên cu cho biết trong động Phong Nha còn để li dòng chữ Phạn ghi: “Nam mô Carada Ana hát quy kính bậc trưởng lão Alahán Carada” (Carada là đệ t ngài Xá Lợi Phất 2557. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ hơn về tư liệu quý giá này.
  • Bia ký Lạc Sơn: Bia ký Lạc Sơn ở động Lạc Sơn, thuộc làng Lạc Sơn, xã Thuận Lê, huyện Tuyên Chánh (Nam huyn Quảng Trạch và xã Phúc Lâm Xuân, huyện Bố Trạch hiện nay). Xưa kia người Chăm đã biến động thành điện thờ Phật. Trên các vách đá khắc nhiều bi ký (40 bi ký) được viết bằng bút lông với mực, có thể mực Tàu. Cho đến nay vẫn chưa đọc được bi ký ở Lạc Sơn.
  • Bia ký Bắc Hà thuộc xã Thuần Hoà, huyện Quảng Trạch. Đây là bi ký xa nhất của người Chămpa ở phía Bắc mà hiện nay được biết. Bi ký có 4 dòng làm thành một bề mt dài 0,75m cao 0,20m, 41 bia chính248
Tại xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch, chùa Quan Âm có tượng Phật Quan Âm của người Chămpa. Theo đánh giá của các nhà kho cổ học, chùa có từ thế kỷ VIII - IX.
Trung tâm 1: Ở Đại Hữu, Trung Quán, M Đức;
Trung tâm 2: Vùng Nam Đèo Ngang, Roòn Di Luân, Quảng Lưu… kéo dài đến Thành cổ Khu Túc, Lý Hòa; đặc biệt vùng hang động Phong Nha - Kẻ Bàng
Phật giáo từ Đại Việt vào: Văn hoá Phật giáo thời Lý - Trần: Thi Lý, từ khi cư dân Đại Việt di cư vào, cùng với ảnh hưởng của Phật giáo Chiêm Thành, tín ngưỡng của người Đại Việt, người bản địa, Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Khi 3 châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh đã trở về vi cội nguồn Đại Việt, thi kỳ này nơi đây vẫn còn hoang lạnh, chưa thuần, dân cư thưa thớt. Gần đây, qua nghiên cứu từ nguồn tài liệu gia phả, cho thấy một số dòng h ngoài Bắc di cư vào khoảng từ thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII. Trong đó, dòng họ Nguyễn từ Sơn Tây vào làng Pháp Kệ cách đây 920 năm, làng mang tên Phật giáo - Pháp Kệ (Pht pháp kinh kệ). H Nguyễn ở Nam Lý và một số dòng họ khác cũng đã vào thời kỳ này. Mang dòng máu Đại Việt, người dân nơi đây đã có trong huyết quản của mình tín ngưỡng Phật giáo. Ông nhận thấy không có học thuyết tôn giáo nào hội đủ các yếu t đất nước cần, bởi vậy ông chủ trương tam giáo đồng nguyên hay tôn giáo đồng quy. Dịch nghĩa: ông chấp nhận lấy cái tinh túy 3 đạo ấy làm nền triết xuất lấy tính chất của mỗi nền đạo để làm biện pháp vận hành đất nước ở thi kỳ đầu dựng nước. Đó là một xã hội Nho, mt tâm linh Phật, một thiên nhiên Đạo; Thi Trần, Phật giáo Trúc Lâm Yên T thực sự là một t chức G
iáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên trong lịch sử Pht giáo Việt Nam, dung hợp các dòng thiền hình thành trước đó cũng như đương thời.
Pht giáo thiền Tông Trúc Lâm Yên T tuy rất, vào Quảng Bình từ những ngày đầu. Các tài liệu trước đây và bây giờ đều chép: Đức vua - Phật Hoàng Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, một nhà hiền triết, một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà chiến lược kiêm một vị tướng cầm quân kiệt xuất, người anh hùng dân tộc. Hơn hết ngài bậc hùng tâm, hùng trí và đại lực, đại giác. Bởi có đủ t chất trên nên Triều Trần mi lãnh đạo được nước Đại Việt dám đương đầu và đánh giặc Nguyên Mông (lúc đó giặc Nguyên Mông đã thống trị gần hết Châu Á, quá nữa Châu Âu, kéo dài t bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương). S kiện đặc biệt đối với người dân phủ Tân Bình, xứ Thun Hoá xưa là Đức vua - Pht hoàng Trần Nhân Tông đã vân du vào vùng này. Ánh sáng Pht hoàng Trần Nhân Tông chiếu sáng nơi đây. Đạo và Đời, Đời và Đạo của Trần Nhân Tông đã để lại nhiều dấu ấn ở Quảng Bình xưa và nay, rất đậm nét.
Đức vua - Pht hoàng Trần Nhân Tông kinh lý và du thuyết Phật pháp phương Nam. Nhiu chính sử xưa nay đều ghi chép rất đậm nét sự kiện Đức vua - Pht hoàng Trần Nhân Tông vào Quảng Bình (phủ Tân Bình xứ Thuận Hoá xưa), biên địa cực Nam của Đại Việt. Gần đây nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo đã nghiên cứu khá sâu về s kin quan trọng này. S cũ chép:
  • Tháng 3 năm 1301 (Tân Sửu), Phật hoàng Trần Nhân Tông vân du vào Qung Bình lập am Tri Kiến (cũng có sách chép ở am Tri Kiến) rồi sang thăm Chiêm Thành. Tri Kiến cũng là tên huyện Tri Kiến thi bấy giờ.
  • Tháng 11 năm đó Trần Nhân Tông từ Chiêm Thành tr về.
Thánh Đăng Ngữ Lục cho biết, am Tri Kiến trước ngày Thượng hoàng Trần Nhân Tông vân du đến phía Bắc xứ Thuận Hoá (tức Quảng Bình ngày nay) vào năm 1301. Sách Tam Tổ Thực Lục cũng ghi sự kiện này.
Vic vua Trần Nhân Tông vào Quảng Bình năm 1301 nhiều sách đều chép nhưng Phật Hoàng vào đây ở để thuyết phát hay xây am Tri Kiến ( chùa Hoằng Phúc hin nay co 2 lọi ý kiến trên. Năm 2006 đến năm 2010, tôi bắt đầu nghien cứu chùa Hong Phúc và tôi viết liền 5 tạp chí tập san: Tạp chí Văn hóa Quảng Bình, Tạp chí Văn hóa Phật giáo Việt Nm, Tạp chí Liễu Quán, Thừa Thiên Huế, tp chí Nhật Lệ, Qung Bình, tập san H Trần Việt Nam. Sự tranh luận các nhà nghiên cu nhiều tác gi đều cho rằng: Phật hoàng vào du Pháp. Riêng tôi lúc đầu chưa khẳng định, sau tiếp tc nghiên cứu đủ tưu liệu khẳng định: Phật Hong lập Am Tri Kiến.
Ngài lập chùa chiền cất tnh xá thuyết pháp độ Tăng…sau đó,Ngài đến chùaPhổ Minh ở Phủ Thiên Trường đón chư tăng về đây lập hội giảng pháp tri mấy năm.Kế, 
Ngài lại đi vân du thong thả, đến trại Bố Chính (Quảng Bình thời ấy) lập an Tri Kiến ở lại đây
Hin nay sau khi tiến hành đại trùng tu tôn to chùa Hoằng Phúc các học giả, chuyên gia hàng đầu v Hán học và tâm linh đều khẳng định Hoàng đế Trần Nhân Tông đi kinh lý và du thuyết Phật pháp phương Nam đã khởi nguyên ra chùa này vi cái tên Tri Kiến am (Giáo sư Vũ Khiêu, nhà văn hoá Nguyễn Hùng Vĩ, Đại học quốc gia Hà Nội; Tiến sĩ Trần Trọng Dương, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, biên tập biên son, thẩm định, kiểm duyệt đã khẳng định như vậy)
Ảnh hưởng Đạo và Đời của vPhật hoàng Trần Nhân Tông: Qua tìm hiểu, chúng ta thấy rằng ảnh hưởng Đời và Đạo, Đạo và Đời của Trần Nhân Tông là rất lớn. Pht giáo ở Qung Bình giữa Đạo và Đời; Đời và Đạo luôn luôn hòa quyn vào nhau, gnvi nhau vì hạnh phúc của muôn dân, vì s phát triển của đất nước. Những người dân theo Phật ở Quảng Bình xưa nay khi có giặc đều động viên con em của mình lên đường đi chiến đấu. Trong chiến đấu thì kiên cường, dũng cảm điều đó đã thể hin rất rõ ở cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Các ngôi chùa tr thành nơi che giấu cán bộ hoạt động trong lòng địch như chùa An Thuỷ, Minh Đức, Ph Minh. Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chùa được tháo dỡ lấp h bom cho xe đi ra tiền tuyến.
Phật giáo thời Nam - Bắc phân tranh và dưới thời Vua Quang Trung: chiến tranh Trịnh Nguyễn 200 năm, sông Giang ranh giữa Trịnh - Nguyễn. Bắc sông Gianh phát triển Phật giáo ca Trnh.Bc sông Gianh ảnh hưởng lớn đến Thiền phái Trúc Lâm Đàng Ngoài. Các ngôi chùa như chùa Linh Sơn xã Tiến Hoá, chùa Phúc Sơn xã Quảng Phú, chùa Thọ Sơn xã Quảng Đông, chùa Hòa Lạc xã Quảng Châu… chùa Quan ÂmB Trạch theo lối kiến trúc đơn sơ… đang còn tồn tại, vi cửa vòm khá đặc trưng, chùa nhỏ, thấp có vẻ u tịch thanh tịnh.
Đến thi nhà Nguyễn, có phát triển nhưng không nhiều Thi kháng chiến chống Pháp, chống M chùa Quảng Bình, Phật từ các chùa đều tham gia kháng chiến.Chiến tranh phá hoại máy bay tàu chiến Mỹ từ năm 1965 đến 1073 phá hủy 63 ngôi chùa. Gần như các chùa từ huyện Lệ Thủy Quảng Ninh, Thành ph Đồng Hới phá hủy sạch.Gần đây chúng tôi đi nghiên cứu các huyện Bắc Quảng Bình Quảng Trạch, Thị xã Ba Đồn, Tuyên Hóa bất ngờ còn tồn tại ở như các chùa Thọ Sơn,Vĩnh Sơn xã Quảng Đông, chùa Phúc Sơn Quảng Phú, chùa An Quốc, chùa Linh Sơn huyện Tuyên Hóa. Chùa Tu Vĩnh thị xã Ba Đồn.
Phật giáo Quảng Bình phát triển mạnh: Từ khi giáo hội Phật giáo tỉnh thành lập đến nay đã 10 năm từ con số 0 đến nay đang phát triển mạnh đúng chánh pháp. Giáo 
hi Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Bình đã có báo cáo đầy đủ rồi, tôi xin phát biểu thêm mấy vấn đề sau đây: Pht giáo Quảng Bình đi lên từ con số 0, gần 60 năm vắng bóng Phật giáo, chỉ 10 Phật giáo phát triển như hiện nay là thành quả lớn. Văn phòng giáo hội, chùa Đại Giác xây trên vùng đất trũng sâu từ 2,8 đến 3, 5m, tiền bạc thiếu, Pht tử chỉ vào chục người mà xây thành ngôi chùa lớn như hiện nay là sự nỗ lực của Pht giáo Quảng Bình; Giáo hội Phật giáo các huyện thành lập như huyện Lệ Thủy, Huyn Quảng Ninh, huyện Bố Trạch; Phật t quy y tại chùa Đại Giác các chùa rất đông nói lên sự Phát triển Pht giáo Quảng Bình.
Pht giáo Quảng Bình đang đi đúng chánh pháp: Giáo hội Phật giáo tnh, huyện quan tâm đến thiền, quan tâm cầu siêu, quan tâm đến thế hệ tr ở các trường,... Các ngôi chùa quan tâm về sinh thái. Ngôi chùa Quảng Xá sẻ là trung tâm du lịch tâm linh sinh thái lý tưởng trên diện tích có th lên 6 ha có rừng bần 13 ha, rt nhiều cây xanh, mới 4 năm mà ngôi chùa phủ trùm cây xanh bên dòng sông và nhánh sông Kiến Giang.
Quảng Bình hiện nay có 70 ngôi chùa và nền móng chùa đang còn. Ngôi chùa được tôn tạo lại chưa nhiều, ngôi chùa c đang có nguy cơ bị phá hủy nếu không được bảo vệ trùng tu tôn tạo.
Những ngôn chùa móng chùa còn là di sản văn hóa, tâm linh cần bảo vệ theo lut Di sản.
1 Huyện Lệ Thủy: Chùa Hoằng Phúc, chùa Đại Phúc, Quán Bt, chùa Vĩnh Phước, chùa An Xá, chùa Bân, chùa Thạch Xá Hạ, chùa Tâm Thủy
  1. Huyện Quảng Ninh: Chùa Hóa, chùa Kim Phong, chùa Hang Áng Sơn, chùa Linh Sơn Vạn Ninh, chùa Kim Ni, chùa Quảng Xá, chùa Bình Thôn, chùa Nguyệt Áng, chùa Thế Lộc, chùa Cổ Hiền, chùa Trần Xá, chùa Phúc Sơn, chùa Văn La, chùa Phước Hu, chùa Bảo Thiên, chùa Linh Quang
  2. Thành phố Đồng Hới: Chùa Đại Giác, chùa Phổ Minh, chùa Minh Đức, chùa Ông, chùa Phật Học, chùa Linh Quang, chùa Linh Sơn, chùa Phước Sơn, chùa Quang Lc, chùa Thắng Phước, chùa Quang Lộc, chùa Thắng Phước, chùa Vạn Phúc, chùa Hà Thanh
  3. Huyện Bố Trạch: Chùa Quan Âm (Thanh Trạch), chùa Đức Quang, chùa Vĩnh Phước, chùa Quan Âm (Đức Trạch), chùa Thanh Quang, chùa hang Phong Nha, chùa hang Đá Nhảy, chùa Phúc tự, chùa Linh Quang
  4. Huyện Quảng Trạch: Chùa Linh Tiên, chùa Cảnh Phúc, chùa Thọ Sơn, chùa Vĩnh Sơn, chùa Phật Bà, chùa Phúc Sơn, chùa Hòa Lạc
 
  1. Thị xã Ba Đồn: Chùa Cành Tiên, chùa Tu Vĩnh, chùa Thanh Động, chùa Xuân Thủy, chùa làng Vân Lôi
  2. Huyện Tuyên Hóa: Chùa Yên Quốc (An Quốc), chùa Ngọa Cương, chùa Lâm Lang, chùa Vĩnh Phúc, chùa Linh Sơn, chùa hang Minh Cầm, chùa Lèn Bụt
  3. Huyện Minh Hóa: Chùa Yên Đức, chùa Lèn Bụt
Kính đề nghị các cấp thẩm quyền:
  • Các ngôi chùa trên chùa đã trùng tu tôn tạo tương đối hoàn chỉnh tiếp tục hoàn chnh.
  • Những chùa có chùa c chưa được trùng tu tôn tạo, cần có kế hoạch trùng tu tôn tạo, những chùa này đang hư hỏng nghiêm trọng.
  • Những chùa còn khuân viên chùa cần có kế hoạch trùng tu tôn tạo
  • Có 2 ngôi chùa cổ xưa có đến 600 năm 400 năm như chùa Cảnh Tiên Quảng Thuận, thị Ba Đồn khi xây thủ tục nhà Văn hóa nhưng tôn trí là ngôi chùa nên trả về cho Phật giáo quản và chùa Ông ở thành phố Đồng Hới th tục xây nhà Văn hóa cần giao cho Phạt giáo quản ý
  • Có một số chùa tôn trí trong chùa không theo quy định của chùa cần hướng dẫn tôn trí lại
  • Có 3 ngôi chủa Quốc tự t xưa như chùa Hoằng Phúc, huyện Lệ Thủy; chùa Cảnh Tiên huyện Quảng Ninh; chùa Linh Quảng huyện Bố Trạch. Chùa Hoằng Phúc đã được đại trùng tu tôn tạo tương đối hoàn chỉnh, còn 2 ngôi chùa Cảnh Tiên, Linh Quang những ngôi chùa cần tiến hành xây dựng lại. Những ngôi chùa này là Di tích Lch s quan trọng nhất các ngôi chùa xưa.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây