11 - PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương - PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH QUA CỔ TỰ, HÀNH TRẠNG CAO TĂNG VÀ CƯ SĨ HỮU CÔNG

Thứ hai - 16/12/2019 03:06
 
PHT GIÁO QUẢNG BÌNH
QUA C TỰ, HÀNH TRẠNG CAO TĂNG VÀ CƯ SĨ HỮU CÔNG
 
 

Đặt vấn đề

PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương*
 
Thuc vào dải đất hẹp miền Trung, là cầu nối hai miền đất nước về địa lý, Quảng Bình còn là Pht giáo Bắc - Nam. Trong cơ tầng của nó, Phật giáo Qung Bình chứa đựng giá trị Pht giáo của nhà nước Chămpa, nổi lên là Trung tâm Phật giáo Đồng Dương (Quảng Nam ngày nay) rc rỡ vào cuối thế kỷ IX. Khi trở thành một bộ phn của quốc gia Đại Việt dưới thời vua Lý Thánh Tông (năm 1069), ba châu Địa Lý, Ma Linh, B Chính (vùng đất Quảng Bình và một phần đất Quảng Trị ngày nay và dưới thời vua Trần Nhân Tông (1301) là Châu Ô, Châu Lý (Rí), Pht giáo Quảng Bình được tiếp thêm giá tr của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần. Năm 1307, nhà Trần đổi hai Châu Ô, Châu Lý làm Châu Thuận và Châu Hóa, Phật giáo Quảng Bình từ đây được bồi trúc thêm giá tr Pht giáo Thuận Hóa về sau thường được gi là Phật giáo x Huế vi trung tâm chùa Thiên M còn tồn tại đến ngày nay.
Một vùng đất luôn chịu chiến tranh tàn khốc, thiên nhiên khắc nghiệt đã khiến cho Phật giáo Quảng Bình luôn gặp phải “pháp nạn”. Có biết bao cổ t vốn sầm uất một thi nay chỉ còn vang bóng thm chí dấu xưa, nền cũ cũng không còn bởi binh lửa của min chiến địa. Thời gian qua đi không ít hành trạng của các cao tăng, thạc đức vốn là thạch trụ của Phật giáo Quảng Bình một thời được ghi tạc ở bảng đồng, bia đá bị thất lạc. Không ít cư sĩ hữu công cũng chỉ được lưu truyền trong nhân gian.
Dựa trên một số nguồn tư liệu ít ỏi, bài viết “dựng” lại một phần nh bức tranh của Phật giáo Quảng Bình qua các ngôi chùa cổ, qua hành trạng của một số cao tăng và cư sĩ hữu công.
Từ khóa: Phật giáo Quảng Bình. Cổ tự. Cao tăng. Cư sĩ hữu công.
  1. Pht giáo Quảng Bình – những cổ tự
Trước khi sáp nhập vào Đại Việt trở thành trại Bố Chính, vùng đất Quảng Bình ngày nay thuộc về nhà nước Chămpa/Chiêm Thành. Đó là vùng đất thuộc châu Địa Lý và châu Bố Chinh. Phật giáo ở vùng đất này ra sao hiện vẫn chưa có lời giải đáp. Tuy nhiên có thể đoán rằng cư dân châu Địa Lý châu Bố Chính hẳn chu ảnh hưởng ca Phật giáo Chămpa với trung tâm Phật giáo Đồng Dương (thuộc vào tnh Quảng Nam ngày nay).

  • Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
 




Theo Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: “Nằm trong khoảng thế kỷ th III đến thế kỷ th IV, các nhà khảo cổ Pháp còn tìm được ở Quảng Khê, tỉnh Quảng Bình nhiều tượng Phật khoác y che kín c hai vai. Nhưng hai tay lại để trần. Tượng bằng đá cứng. Bên trong có gắn vầng hào quang”(185). Cũng theo Thích Hải n và Hà Xuân Liêm dưới thời vua Chămpa, Indravarman II, một tấm bia dựng ở phía Bắc vương quốc. Đó là bia roòm nằm ở phía Nam dãy Hoành Sơn tỉnh Quảng Bình hiện nay. Khi đề cập đến tấm bia, hai tác giả đặt câu hỏi. “Có lẽ bia này nằm ở địa giới Chămpa - Đại Việt vào thời Nhà Lý chăng?. Niên đại dựng bia này là năm 889 STL”(186). Một s tài liệu đương thời (thế kỷ VII) cho rằng “Chămpa là một quốc gia theo Phật giáo nhit thành” và “Ở đây có nhiều người xuất gia theo Phật giáo”. Ngoài ra các nhà kho cổ học còn đưa ra khỏi lòng đất Quảng Bình một số tượng Phật có niên đại vi tượng Phật Đồng Dương. Dựa vào các minh văn, Thích Hải Ấn Hà Xuân Liêm cho rằng, Phật giáo Chămpa giáo lý thuộc Đại Thừa (Mahayana) nhưng lại đi xa hơn, là đạt tới Kim Cương thừa (Vajrayana). Kim Cương thừa thờ Đức Phật Tỳ nô giá na, và niệm câu “Om Manipadmehum” của Avalokitésvara làm chân ngôn h mênh. Ở đây ta thấy Phật giáo Chămpa đã tới Kim Cương thừa và mật tông, và văn bia đã nói đến huyền lực của Quán thế âm B tát rất nhiều”(187).
Khi trung tâm Phật giáo Đồng Dương sụp đổ cũng là khi châu Địa Lý và Bố Chính sáp nhập vào Nhà Lý trở thành Trại B Chinh. Nhằm giữ yên miền biên viễn mi thu nạp, nhà Lý sau này là nhà Trần cử quan lại cầm quân vào tr nhậm. Theo đó là cư dân vùng đất Hoan, Ái (Nghệ - Tĩnh ngày nay) và một phần cư dân Kinh Bắc. Ở vùng “Ô Châu ác địa”, ngoài việc phủ dụ dân chúng, khai hoang lập làng, yên ổn đời sng, hẳn các quan nhà Lý, Trần còn chăm lo việc xây dựng chùa chiền phục vụ đời sống tâm linh cư dân lấy chùa làm nơi quy tâm cộng đồng làng mới lập. Chùa Phật giáo Quảng Bình nói riêng và chùa Phật giáo xứ Huế thế nào?. Khi nghiên cứu đến chùa Phật giáo xứ Huế các thế kỷ XIX, XX ta thấy được Phật giáo Huế có truyền thng kế tc Phật giáo Đại Việt ở thế kỷ XIII, XIV. Mà Phật giáo Đại Việt thi này, tiêu biểu như ngôi chùa Linh Xứng (Thanh Hóa) “Chùa ở phía nam núi. Trai phòng ở hai bên. Tượng Đức Phật Như Lai sơn vàng, ngồi cao trên tòa sen nổi lên trên mặt nước, trên tường chung quanh vẽ mười sáu La Hán và các biến tướng, thiên hình vạn trng không kể xiết”. Trước chùa có cổng cơi lầu để làm tháp chuông, bên trên treođại hồng chung. Điện thờ độc tôn chính gian giữa, đông liêu, tây liêu và trai


185 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr 29.
186 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 32.
187 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 34 - 35.
 




phòng. Nhưng tháp xây ở sau. Cao hơn ngôi chùa. Sau văn bia lại có bài “minh” rất hay.
Tất cả hình ảnh ngôi chùa Linh Xứng đều có ít nhiều vang bóng để to truyền thng kế thừa nơi chùa chiền xứ Huế vào các thế kỷ sau(188).
Pht giáo Quảng Bình từ nửa cuối thế kỷ XVI được Tiến Sùng Nham Hầu Dương Văn An ghi lại trong tác phẩm Ô châu cận lục. Đây là công trình khảo cứu công phu, chứa đựng những điều thiết yếu trong đó có Phật giáo. Dương Văn An là người xã Phúc Tuy, huyện Lệ Thủy nay thuộc huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình, trú quán xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, này là thôn Phú Din xã Phù Minh, huyện Từ Liêm (Hà Nội). Khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Tuyên Tông, ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Sinh thời ông sống và làm việc chủ yếu ở nơi trú quán, nhưng ông lại dành tình cảm cho quê cha đất tổ để rồi từ đó ông viết nên cuốn Ô châu cận lục. Sách được viết vào năm Quý Sửu 1553, Dương Văn An ở nhà chịu tang, nhân đó biên dịch lại tác phẩm(189). Trong Ô châu cận lục, Tiến sĩ Dương Văn An dành một phần của Quyển 3 viết về chùa cảnh ở Quảng Bình. Trước khi ghi chép về lch sử một s cổ tự, Tiến sĩ khắc họa toàn cảnh Phật giáo vùng đất Quảng Bình qua những vần thờ giu cảm xúc mang hơi hướng Thiền thi. (xin được trích nguyên bản dch).
Thổ ngõa rừng thưa chùa cổ Chim kêu mấy tiếng tránh sương

Chùa Di Phúc tượng vàng nghiêm chnh Kính Thiên chẳng khác gì tinh giới
Hoa cỏ hướng về phía mặt tri Tiu Phúc rừng thiền ngời ngi Lâu đài gần nước
Bch Thiểm núi non
Kim Linh mối lợi hãy còn Am c ở núi và biển H
Vượn già dắt con dâng quả nghe kinh Chùa nhỏ ở sông núi Tân Sài
Hươu gọi bạn ngậm hoa cúng Phật



188 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 49 - 50.
189 Bài tựa viết sau, dành cho sách Ô châu cận lục. trong sánh: Tiến Sùng Nham Hầu Dương Văn An: Ô châu cận lục Nguyễn Khắc Thuần (dịch, hiệu đính và chú giải), Nxb Giáo dục, 2009.
 




Tùng Thị ở bên bỗng thấy hoa rơi Sm Tự phía ngoài chỉ nghe chim hót Pháp kệ vang tiếng chuông ngân Tụng thánh chân ngôn văng vẳng
Bi Dương rộng tiếng khua Giác ngộ nên người gii nim Lai Cách Phật thường giáng hạ C Nẫm sư chăm tu hành Trung Sơn u tịch
Chùa nhỏ hư vô C Din cao vững Lặng l im lìm
Xóm An Thái bình yên Nhà Thnh Lạc vui vẻ
Thọ Phúc tự nhiên sư ở(190).
Ở quyển 5, Ô châu cận lục dành một số trang ghi chép về một số ngôi chùa c trên vùng đất Quảng Bình ngày nay.
Chùa Kính Thiên: ở huyện Lệ Thủy gn trạm dịch Bình Giang. Nước biếc bao quanh, phía sau có núi xanh. Chùa núi thanh u, mt thế gii của các bậc tu hành. Thôn hoa, lều cổ gần kề, không hề có tiếng gà gáy hay chó sủa, thật ngôi chùa ln ca Tân Bình vậy.
Chùa có quả chuông lớn nặng đến cả ngàn quân, có tăng quan, tảo phu, hng năm lo phụng sự, nhưng cảnh hoa rơi, chim hót thì nay chỉ còn sót lại chút tâm tình nữa thôi(191).
Căn cứ vào sự ghi chép của Dương Văn An, rõ ràng Kính Thiên một ngôi c t lớn. Chùa có tăng quan là chức quan do nhà nước ban cho người tu hành và những người phục dịch trong chùa (tảo phu). Tuy nhiên đến thời điểm tác giả viết Ô châu cận lục 1553 chùa chỉ còn là phế tích.
Mt cổ t khác được ghi chép trong Ô châu cận lục đó là chùa Đại Phúc: Chùa ở hai xã Đại Phúc và Tuy Lộc huyện Lệ Thủy. Phía trước có sông lớn bao bọc, bên phi là suối nhỏ chảy quanh, có cây cu bắc qua hướng nam. Ch Hội rất đông đúc. Bên trong yên ả có ca vòm to lớn. Có cung Sùng Lâm tráng l. Hoa cỏ hướng mặt trời, lâu đài gần bến nước , thật là nơi thanh tĩnh vậy. Đến tiết là li dâng cúng. Lễ


190 Ô châu cận lục, Sđd, tr 61 - 62.
191 Ô châu cận lục, Sđd, tr 93 - 94.
 




nhạc như sao, áo mão như tranh thật đúng là danh lam của Tân Bình vậy. Đã vậy mỗi ln cầu phúc, cầu mưa đều hin linh ứng nghiệm cả(192).
Nếu Kính Thiên là ngôi chùa lớn, chuông to, với tăng quan, tảo phu thì chùa Đại Phúc lại được Ô châu cận lục ghi chép nhiều hơn về đời sống tôn giáo của chùa với tun tiết cúng lễ, lễ nhạc, áo mão. Đặc biệt Ô châu cận lục còn cho biết công năng của chùa việc cầu phúc đầu năm cho cộng đồng làng và cầu mưa đều ứng nghiệm. Cần lưu ý, thời Lý, Trần mi khi có thiên tai tai d, nhất là hạn hán hoặc mưa lụt, một s nhà Vua thường đến chùa cầu mưa, cầu tạnh. Nơi cung đình là thế, nơi thôn ổ thần dân cũng làm theo. Về sau khoảng từ thế kỷ XVI - XVII trở đi khi đình làng giữ vai trò cầu đảo thì ở nhiều làng quê, chùa vẫn là nơi cộng đồng làng cầu mưa, cầu tạnh, cầu mát. Có thể thy yếu tố thin - tnh - mật đan quyện vào nhau của Phật giáo Quảng Bình, nhìn từ chùa Đại Phúc. Và một điểm lưu ý nếu như chùa Kính Thiên chỉ còn là phế tích thì Đại Phúc tự vào thời điểm 1553 vẫn đang hiện tn.
Ô châu cận lục còn ghi chép về một ngôi chùa được gọi là “chùa Hóa”. Chùa ở gần xã Hữu Bố, huyện Khang Lộc. Ở phía ngoài chùa bốn mặt là đầm nước, giữa mênh mông nổi lên một gò đất, cây cối âm u, nhưng chỉ mi nghe tiếng chứ chưa từng thấy. Tục truyền chùa này biến hóa bất thường, khi nhàn hạ đi du ngoạn thì thấy dấu tích nền chùa vẫn còn nguyên, lúc c ý đi tìm lại không thấy, nhân đó mới gọi là chùa Hóa(193).
Phải chăng Ô châu/Quảng Bình thi Mạc chỉ có 3 cổ tự. Phải chăng Tiến sĩ Sùng Nham Hầu Dương Văn An chỉ tuyển chn ba ngôi chùa tiêu biu ở đất Ô châu. Song chỉ cần ngần ấy liệu của tác giả để lại cũng đủ để hậu thế biết được phần nào Pht giáo ở Ô châu. Và còn bởi ít lâu sau, năm 1558 chúa Nguyễn nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiểm “Hoành Sơn nhất đái. Vạn đại dung thân” chọn vùng đất Thuận Hóa với Hoành Sơn làm điểm tựa để bắt đầu một cơ đồ của một triều đại mới. Phật giáo Quảng Bình bước sang một giai đoạn mi, một giai đoạn bi hùng gn bó với số phận của Ô châu. Ô châu giờ đây không chỉ là “Ô châu ác địa” mà còn là “Ô châu chiến địa”.
Nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài (1600 - 1774) cùng với thiên nạn đã tàn hủy biết bao danh lam c tự.
Vào khoảng năm 1632, thiền sư Chuyết Chuyết - Hòa thượng Chuyết Công, một thiền sư thuộc Thiền phái Lâm Tế, Trung Hoa thế hệ th 31 sau một thi gian vân du hoằng hóa ở Đàng Trong, trở ra Đàng Ngoài hẳn là đã đi qua miền đất Quảng Bình.


192 Ô châu cận lục, Sđd, tr 94.
193 Ô châu cận lục, Sđd, tr 95.
 




Song sử sách không thấy ghi lại những hoạt động hoằng hóa của thiền sư ở nơi đây mà chỉ ghi ông dừng chân ở chùa Thiên Tượng thuộc trấn Nghệ An và chùa Trạch Lâm thuộc trấn Thanh Hóa để rồi năm 1633, thiền sư và đệ t ra đến Đông Đô (kinh thành Thăng Long), mở đầu cho một hoạt động mới xương long thiền phái Lâm Tế ở Đàng Ngoài.
Pht giáo Quảng Bình thi Chúa Nguyễn cho đến khi vương triều Nguyễn bước lên vũ đài chính trị với niên hiệu Gia Long (1802) bị ảnh hưởng sâu đậm bởi Phật giáo Thuận Hóa (Phật giáo xứ Huế) vi Trung tâm chùa Thiên Mụ (Linh Mụ). Trước đó Phật giáo vùng Thun Hóa chủ yếu là chùa làng như Dương Văn An ghi lại trong Ô châu cn lục. Chùa Thiên Mụ thời chúa Nguyễn tr thành quốc tự.
Vào thi chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) có một nhân vt có vai trò rất lớn đối vi Phật giáo Thuận Hóa đó là Đào Duy Từ (1572 - 1634). Ông “không những là nhà thiên tài quân s chính trị mà còn là mt Phật tử thuần thành đầu tiên ở Thuận Hóa đã sáng tác ra những điệu múa khúc ca Phật giáo, tạo nền tảng cho nền lễ nhc Phật giáo Huế ta biết ngày hôm nay”(194). Qua thơ văn của ông đã giúp cho vic nghiên cứu Phật giáo Thuận Hóa nhận diện được một số ngôi chùa cổ, đến một s vị thin sư và đời sống Pht giáo Thuận Hóa đương thời.
Vùng đất Thuận Hóa lúc này ở đây không những chỉ có cảnh chùa trang nghiêm, các v thiền đức độ mà người dân vùng Thuận Hóa cũng là người dân thun thành vi những hội làng, những l hội Phật giáo tưng bừng rộn rã.
“Nghiêm thay tướng pháp Như Lai Cao giơ tuệ kiếm, sáng ngi thủy tinh Thi lành cả m hội lành
Reo đưa gió Phật, quét thanh bụi Vầy đoàn yến múa oanh ca,
Vượn xanh dâng trái, hc già nghe kinh Phật đình nào khác vương đình
Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại tường”(195).
Dưới thi chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) một vị chúa được gọi là Bồ tát
- B tát Nguyễn Phúc Chu một Phật tử thuần thành, vị chúa “cư Nho, mộ Thích” có vai trò trong việc xương long Phật giáo Thun Hóa. Nổi lên là hai s Pht sự: thứ nht, mời được ngài Thạch Liêm (1633 - 1702) sang Thuận Hóa, m giới đàn tại chùa



194 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 86.
195 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 89.
 




Thiền Lâm, truyền giới cho hơn 4.000 giới tử (1695), thứ hai, làm lại chùa Thiên Mụ (1714).
Pht giáo Thuận Hóa cho đến thế kỷ XVII “vẫn mang đậm sắc thái của học thut Pht giáo Việt Nam do những triều đại trước đó để lại”(196).
Tuy nhiên cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII “Về truyn thừa thì đã có hai dòng Tào Động và Lâm Tế. Chư tổ thì có hai Ngài là Nguyên Thiu và Liễu Quán. Cho nên, đây chính là thời đại hưng thịnh và phát triển của Phật giáo Huế đề làm cho đạo mạch Phật giáo Việt Nam tiếp nối các dòng thiền Bắc Hà và hoằng truyền vào Nam Hà đến tận ngày nay”(197).
Thi chúa Trịnh chiếm đóng Phú Xuân tiếp theo là thời Tây Sơn, nhìn một cách tng quát Phật giáo Thuận Hóa luôn gặp phải “pháp nạn”. Nhiều chùa làng bị phá hủy, chuông chùa b đập phá. Ở kinh thành ty Tăng lục cùng các ty Nội pháp, ty Huyền pháp, ty Đạo lục của Đạo giáo bị giải tán. Đời sống Phật giáo bị xáo trộn, nhiều chùa hoang lạnh hương khói bởi nhà sư hoàn tục hay bỏ trốn.
Pht giáo Quảng Bình thời Nguyễn (1802 - 1945) đặc biệt dưới thời của một số vị vua đầu thi Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Tr, Tự Đức), có điều kiện phục hi. Ở giai đoạn này sử liu ghi nhận hai ngôi chùa. Đó là chùa Kim Phụng - chùa vốn là một thảo am do Hòa thượng Tiên Ngộ (1786 - 1829) dựng trên núi Thần Đinh năm Minh Mạng thứ 6 (1825), nơi có một nền chùa cũ. Đến năm Minh Mạng th 10 (1829) thiện nam, tín n đóng góp công của trùng tu chùa tr thành tự vin khang trang(198).
Trong tác phẩm: Chư tôn thiền đức và cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa, Tập 3 do Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn biên soạn, Nxb Hồng Đức (2016), tr 29 còn cho biết, tại làng Đức Phổ, Phong Lộc, Quảng Bình còn có chùa Cảnh Tiên nơi mà Hòa thượng Tiên Ngộ (1786 - 1829) xuất gia tu hành từ nhỏ. Nhưng chùa Cảnh Tiên ra sao đã không đượct.
Thi kỳ Pháp thuộc, nhất là giai đoạn dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược, Quảng Bình thuộc chiến khu “Bình Trị Thiên khói lửa”, một số chùa trở thành cơ sở cách mạng, nuôi giấu b đội như chùa Quan Âm, chùa nằm cạnh cửa sông Lý Hòa, sát bờ biển.
Thi Pháp thuộc, qua nguồn tư liệu lch sử cho thấy có chùa Hải Quang ở Hải Thành (nay là phường Hải Thành) thuộc thành phố Đồng Hới. Chùa Phổ Minh -



196 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 89.
197 Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Sđd, tr 102.
198 Hành trạng của Hòa thượng Tiên Ngộ sẽ được bài viết trình bày kỹphần sau.
 




Trụ s Hội Phật hc tỉnh Quảng Bình. Năm 1952 tại đây trở thành trường hạ và Đại giới đàn. Một trong những người thọ giới c túc tại đây Hòa thượng Lệ Hương (1902 - 1985). Tại Đại giới đàn này Hòa thượng Hồng Tuyên Chánh Giác làm Đường đầu Hòa thượng.
Cũng theo tư liệu của Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn biên soạn cuốn: Chư tôn thiền đức và sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa, Tập 2, Nxb Hồng Đức 2011, tr 457 thời k này có chùa Vĩnh Phước (xã Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), chùa là nơi Hòa thượng Minh Tuệ (1931 - 2008) xuất gia năm 14 tuổi. Năm 18 tuổi, Ngài được bổn cho thọ giới Sadi và sau đó gửi vào học tại Phật đường Báo Quc.
Những tư liệu ít i trên cho thấy, nơi “khói lửa” nhưng Phật giáo Quảng Bình vẫn duy trì đạo pháp. Trường hạ vẫn mở, Đại giới đàn vẫn được lập để hành giả thọ gii. Một số cao tăng như Hòa thượng Tiên Ngộ tu tập ở chùa Thiên Mụ, đầu sư với Hòa thượng Tổ Ấn Mật Hoàng, được Ngài cho thọ gii cụ túc, sau đó trở về quê Quảng Bình (làng Đức Phổ, Phương Lộc, Quảng Bình) hoằng pháp. Hẳn những tư tưởng của Phật giáo xứ Huế thi kỳ này như Lâm Tế, Liễu Quán đã được Hòa thượng hong truyền.
Cuc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược kết thúc với chiến thắng lch s Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ (20 - 7 - 1954), nhưng chỉ có nửa nước/miền Bắc được hưởng hòa bình. Sông Bến Hải được lấy làm giới tuyến chia cắt Bắc - Nam. Quảng Bình nằm áp miền giới tuyến. Người dân Quảng Bình chỉ được hưởng hòa bình 10 năm để ri phải gánh chu chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Nơi tuyến đầu, nhân dân Quảng Bình nói chung và Pht giáo Quảng Bình nói riêng luôn hứng chịu cảnh “bom xới trên bom, đạn cày trên đạn”. Hầu hết chùa chiền thi kỳ này đều bị phá hủy.
Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, Quảng Bình, Quảng Tr, Thừa Thiên Huế sáp nhập thành tnh Bình Tr Thiên. Từ đây, Phật giáo Quảng Bình li trở về vi ngôi nhà Phật giáo Thuận Hóa/xứ Huế. Tuy nhiên sau gii phóng, ở mt vùng đất vốn chiến tranh ác liệt, đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, Phật giáo Quảng Bình trong ngôi nhà Phật giáo Thuận Hóa/xứ Huế chưa có điều kiện phục hi, phát triển. Sau khi tái lập tnh Quảng Bình, từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 10 năm 2009 Phật giáo Quảng Bình tiến hành đại hội, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tnh Quảng Bình. Phật giáo tnh Quảng Bình có điều kiện mới để phát triển. Tháng 12/2019, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tnh Quảng Bình kỷ niệm 10 năm thành lập, tiến hành t chức hội thảo khoa học “Phật giáo Quảng Bình xưa và nay”.
 



 
  1. Pht giáo Quảng Bình – những cao tăng
Binh lửa chiến tranh không chỉ tiêu hủy chùa chiền ở Quảng Bình mà còn thiêu đốt nhiều trước tác cũng như những ghi chép về hành trạng của các cao tăng Quảng Bình. Nghiên cứu về các cao tăng của Phật giáo Quảng Bình vì vậy gặp nhiều khó khăn.
Quảng Bình không chỉ là vùng đất “ác địa”, “chiến địa” mà còn là “linh địa” với nhiều anh hùng, hào kiệt, vi Phật giáo là các cao tăng, thạc đức. Có thể kmột số vị cao tăng tiêu biểu như.
Hòa thượng Tiên Ngộ (1786 - 1829). Ngài người làng Đức Phổ, Phong Lộc, Quảng Bình. Hòa thượng xuất gia từ nhỏ ti chùa Cảnh Tiên, vào Huế đầu sư với Hòa thượng Tổ Ấn Mật Hoàng, trụ trì chùa Thiên Mụ và thụ giới cụ túc với pháp danh Tiên Ng, t là Gia Hội Đại sư.
Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), ngài về quê Quảng Bình lập thảo am trên núi Thần Đinh - Ngài là người gii luật tinh nghiêm, không ưa chốn thị thành, ai biết đến đều tôn là bậc thin hữu trí thức.
Đến năm Minh Mệnh th 10 (1829), thiện nam, tín nữ đóng góp công của trùng tu chùa trở thành tự viện khang trang. Đến mùa xuân tháng giêng năm 1829, Hòa thượng qua đời ở tuổi 44(199).
Hòa thượng Lệ Hương (1902 - 1985). Hòa thượng họ Trần, húy Đình Phúc, sinh năm 1902, tại thôn Trung Đức, xã Quy Đức (nay là xã Đức Trạch) huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Trước chiến tranh chống Pháp, ngài từng giữ chức Chánh tổng, tổng Hà Bạc (huyện Bố Trạch). Sau đó ngài từ chức, xuất gia, thế phát, thọ giáo với ngài Nhật Trường tại chùa Hải Quang ở xã Hải Thành (nay là phường Hải Thành, thành phố Đồng Hới).
Năm 40 tuổi ngài được bổn sư cho thụ giới đàn cụ túc tại Đại giới đàn tổ chức ngày rằm tháng bảy năm Nhân Thìn (1952) nhân dịp mãn hạ của chư tăng tại trường hạ chùa Phổ Minh - tr sở Hội Phật học tỉnh Quảng Bình thời bấy giờ do Hòa thượng Hồng Tuyên Chánh Giác làm Đường đầu Hòa thượng. Ngài được bổn sư ban pháp danh là Lệ Hương, tự Quảng Thọ.
Khong những năm 1957 - 1958, ngài trở li quê nhà kiến lập Phạm Vũ, hoằng pháp lợi sinh. Ngôi chùa do ngài sáng lập là Đức Quang Tự, tọa lạc tại thôn Trung Hậu, xã Đức Trạch (B Trạch). Ngài qua đời năm 1985, thọ 83 tuổi, 43 hạ lp.


199 Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn): Chư tôn thiền đức & cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa,
tập 3, Nxb Hồng Đức, 2016, tr 29 - 31.
 




Sinh thời ngài để li một số kinh điển và thư tịch chữ Hán, đáng chú ý là bộ kinh Thủy Sám do ngài chép tay. Ngoài ra có th còn những tư liệu khác đã thất truyền(200).
Hòa thượng Thuyền Ấn (1927 - 2010). Hòa thượng thế danh Hoằng Không Uẩn, sinh năm 1927 tại Quảng Bình. Năm lên 3 tuổi ngài vào chùa, xuất gia với Đại lão Hòa thượng Hồng Tuyên khai sơn và trụ trì chùa Phổ Minh (Quảng Bình). Ngài được Hòa thượng bổn sư cho pháp danh là Nhật Liên, pháp tự: Thiện Giải và pháp hiệu Thuyn Ấn. Ngài là mt trong những tăng sĩ được đào tạo tại Phật học đường Báo Quc - Huế thp niên 1945 - 1955. Hòa thượng được Tổng hội Phật giáo Trung phần cử làm Hội trưởng Hi Phật giáo Thừa Thiên Huế, giảng dạy tại Phật học đường Nha Trang và Phật học Viện Hải Đức, Nha Trang và là Giảngcủa Tỉnh hội Phật giáo Buôn Ma Thuột. Ngài tốt nghiệp văn bằng cao học tại Đại học Wis Consin, Hoa Kỳ. V nước, trụ trì chùa Ấn Quang. Vào đầu thập niên 1970, Hòa thượng dạy tại Phân khoa Pht học (cp Cử nhân) và cao học Phật học thuộc Đại học Vạn Hạnh.
Tháng 1/1977 Hòa thượng được suy cử làm Tổng vụ trưởng Tng vụ Hoằng pháp. Đầu thập niên 1990, Hòa thượng sang Mỹ trú tại chùa Việt Nam, Los Angeles, California. Dù tuổi cao, Hòa thượng vẫn hoàn tất học vị Tiếntại Đại học Hawaii, Honolulu, Hoa Kỳ. Ngài qua đời năm 2010(201).
Hòa thượng Minh Tuệ (1931 - 2008). Hòa thượng thế danh là Nguyễn Hữu Lý, tên khai sinh là Nguyễn Minh Tuyền, sinh 19/02/1931 tại làng Duyên Hạ, Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy. Năm 14 tuổi ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Thiền Hòa tại chùa Vĩnh Phước (Thanh Thủy, L Thủy). Sau khi th giới sa di ngài được bổn sư gửi vào học tại Phật học đường Báo Quốc - Huế. Năm 1955, ngài được bổn sư cho thụ Đại giới t kheo và ban cho hiệu là Minh Tuệ. Từ năm 1956 ngài lần lượt giữ nhiu chức vụ trong giáo hội như, năm 1962 đảm nhiệm chức vụ giảng sư tỉnh hội Phật giáo Tuyên Đức Đà Lạt; năm 1964 - 1974 đảm nhiệm chức vụ Chánh đại diện Giáo hội Pht giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Tuyên Đức (Lâm Đồng), kiêm Hiệu trưởng trường trung học tư thục Bồ đề Đà Lạt; Năm 1965 - 1967 gi chức vụ Hiu trưởng Trường Trung - Tiu học tư thục Bồ đề Nha Trang; Năm 1974 giữ chức Phó tổng thư ký Viện Hóa đạo; Năm 1976 làm giáo thụ tại trường Cao Trung Phật học tại Thành ph Hồ Chí Minh và phụ trách giảng dạy cho đến năm 1998.



200 Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn): Chư tôn thiền đức & cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa,
tập 3, Sđd, tr 113 - 116.
201 Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn): Chư tôn thiền đức & cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa,
tập 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr 499 - 500.
 




Trong cuộc đời tu hành, Hòa thượng để li mt s công trình nghiên cứu được biên tp qua các bài giảng cho tăng, ni sinh như: Lược s các t Thin tông n - Hoa; Phật đà Mười v đệ tử; Chư tổ thin n - Hoa; Lược s Pht giáo Vit Nam.
Hòa thượng qua đời ngày 30/7/2008,tr thế 77 năm, 53 năm Hoằng đạo(202).
Những cao tăng thạc đức xut thân t Qung Bình sau thi gian tu hc buổi đầu thườngHuế th tr v quê hương hoằng hóa, xương minh Phật giáoquê nhà, th tiếp tc tu hccác cp học cao hơn như cao học, tiến nhưng đều chung mt s đặc điểm sau: Các v đều những cao tăng đạo cao, đức trng, trang nghiêm thc hành gii lut; đều nhng thch tr không ch ca Pht giáo Qung Bình v còn gi vai trò ca giáo hội Trung ương; các vị dưới các hình thức khác nhau đều để lại các trước tác, các công trình nghiên cu phc v cho vic nghiên cu, ging dạy tăng, ni sinh đương thời cũng như sau này.
  1. Pht giáo Quảng Bình – những cư sĩ hữu công
Thật khó có thể thống kê cũng như đề cập toàn cảnh bức tranh cư sĩ hữu công trên đất Quảng Bình. Qua một số tài liệu hạn hẹp, bài viết đề cập đến một số nhân vật được ghi trong cuốn “Chư tôn thiền đức & sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa” do Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn).
Cư sĩ Nguyễn Hữu Dật (1603 - 1680). Ông không sinh trưởng ở Quảng Bình nhưng có nhiều đóng góp cho Phật giáo nơi đây. Là một nhà Nho nhưng Nguyễn Hữu Dật sống vi tinh thần “cư Nho, mộ Thích”, khi được chúa Nguyễn giao cho trấn trị ở miền đất Quảng Bình ông cho xây dựng chùa Cảnh Tiên tại ấp Tráng Tiệp, huyện Khang Lộc làm nơi cúng tế cầu siêu độ cho nhân dân, tử của hai niềm Nam Bắc. Ông mất ngày mồng 3 tháng ba năm Canh Thân (1680). Nghe tin ông mất người dân Quảng Bình đau xót như mất một người thân và tôn xưng ông là vị B tác hóa thân, dựng miếu thờ ở xã Thạch Xá bốn mùa hương khói tưởng niệm công đức.
Cư sĩ Nguyễn Hữu Hào (1642 - 1714). Ông sinh ở ấp Tráng Tiệp, tổng Trung Quán, huyện Khang Lộc (nay là thôn Dinh Mười, Gia Ninh, Quảng Ninh) là con cư sĩ Nguyễn Hữu Dật. Khi cha mất, cư sĩ nối nghiệp cha tu sửa chùa Cảnh Tiên để nhân dân trong vùng có nơi thờ tự, cầu an, cầu siêu và tu tập. Sau khi ông mất, con ông là Nguyễn Hữu Thuyên giữ gìn cho nhân dân trong vùng có nơi thờ tự, được nhân dân Quảng Bình gìn giữ và nhiều ln trùng tu.
Cư sĩ Nguyễn Đăng Giai (? - 1854). Ông nguyên quán ở làng Phù Chánh, huyện Lệ Thủy. Ông đỗ cử nhân năm 1825, làm quan dưới ba triều vua (Minh Mệnh, Thiệu

202 Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn): Chư tôn thiền đức & cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa,
tập 2, tr 457 - 459.
 




Tr, Trị Đức), nổi tiếng “Liêm - Bình - Cần - Cán”. Là Nho sĩ thành đạt nhưng ông ngưỡng mộ đạo Phật, quy y tam bảo, phát tâm thụ gii tại gia Bồ tát, được ban pháp danh Đại Phương, tự Toàn Phu. Cư sĩ chủ trương chấn hưng Phật giáo. Tại miền Bắc ông yểm trợ Hòa thượng Phúc Điền, trụ trì chùa Báo Thiên, hoạt động các Phật sự nhm bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống tam giáo.
Tại Kinh đô Huế, khi đang giữ chức Thượng thư Bộ Hình năm 1848, vào dịp khánh thành ngôi chùa T Hiếu, ông được thỉnh cầu viết bài văn “sắc tứ Từ Hiếu tự bi ký” khắc vào bia đá lưu truyền cho đời sau.
Tại Bắc kỳ, những nơi ông đến trọng nhậm, nếu thấy danh lam, thng cảnh hư phế ông đều vận động tôn tạo, phục hồi như chùa Bồ Sơn Đại Giác 1840 ở Bc Ninh, chùa Đại Quang 1843 ở Sơn Tây, chùa Liên Trì ở Hà Nội 1847, chùa Liên Phái 1854 ở Hà Nội, chùa Thiên Quang ở Phú Thọ. Đặc biệt cư sĩ đứng ra thiết kế xây dựng chùa Báo Ân tại trung tâm Hà Ni, quy mô, m thut nhất dưới thời Nguyễn. Chùa đã bị thực dân Pháp phá hủy cùng với di tích Báo Thiên để xây dựng nhà thờ chánh tòa Hà Ni.
Cư sĩ Nguyễn Văn Đẳng (1916 - 2002). Ông quê ở xã Hữu Hùng, phủ Quảng Minh, Ông là người có công đức độc đáo trong pháp nạn Phật giáo năm 1963 khi ấy ông làm Tỉnh trưởng Thừa Thiên Huế. Ông quy y với Hòa thượng Mật Nguyện vi pháp danh Nguyên Bình.
Cư sĩ Võ Tấn Vương (1927 - 2010). Cư sĩ sinh ngày 17/9/1927 tại thôn Hòa Đông, xã Hưng Thủy, huyện Lệ Thủy. Năm 1945 cư sĩ xuất gia tại chùa Đặng Lộc (Cam Thủy, L Thủy) được Hòa thượng Thích Định Tuệ nhận làm đệ tử, cho pháp danh là Lệ Thật. Sau đó cư sĩ chuyển v tu học tại chùa Đồng Hi (thị xã Đồng Hi). Năm 1947, cư sĩ theo học tại Phật học đường Báo Quốc do Hòa thượng Thích Trí Th làm Giám đốc kiêm Đốc giáo. Năm 1949 tại Giới đàn Hộ quốc ở chùa Báo Quốc (Huế) cư sĩ thọ cụ túc gii do Ngài Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu hòa thượng, được bổn sư cho pháp hiệu Thiện Đức. Năm 1956 cư sĩ học xong chương trình đào tạo tại Pht học đường Báo Quốc, Huế và tốt nghiệp ra trường. Cùng năm, sĩ được cử vào Pht học viện Nha Trang dạy kinh, luật cho chúng sa di. Và th B tát gii tại gii đàn lần đầu tiên tổ chức ti Pht học vin Nha Trang.
Từ năm 1958 - 1960, sĩ được cử làm giảng sư đi hoằng pháp và xây dựng các khuôn hội tại các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị trvào Bình Thuận. Năm 1961, cư sĩ được b nhiệm làm giảng sư kiêm chánh đại diện Pht giáo Pleiku.
 




Năm 1963, cư sĩ kiêm nhiệm chức vụ Trụ trì chùa hội Phật giáo Pleiku. Ngày 20/8/1963 cư bị chế độ Ngô Đình Diệm bắt ngồi tù ở Kon Tum, trong thời gian Phật giáo đấu tranh bảo vệ Đạo pháp.
Năm 1964, cư sĩ hoàn tục về li Nha Trang sinh sống cùng gia đình và tham gia hoạt động in ấn kinh sách. Năm 1990 cư sĩ được mi giảng dạy kinh, luật cho các khóa Tăng sinh từ khóa II cho đến khoán V, thời gian từ 1994 - 2010.
Cũng như các cao tăng, một số cư sĩ hữu công quê Quảng Bình đã không chỉ đóng góp cho Phật giáo tỉnh nhà mà còn có vai trò đối với Phật giáo cả nước. Trong khuôn khổ bài viết không thể đề cập đầy đủ hành trạng cũng như đóng góp của họ. Vì vậy cần phi có một công trình nghiên cứu sâu, rộng hơn.
  1. Kết lun
Quảng Bình không ch là nơi “ác địa”, “chiến địa” mà còn là nơi “linh địa”. Là vùng đất nối hai miền đất nước, Phật giáo Quảng Bình là nơi giao thoa Phật giáo Bắc Nam, nơi hội tụ các dòng thiền Phật giáo, nơi dung hợp văn hóa Phật giáo Chămpa xưa với Phật giáo Đại Việt. Vì vậy mà Phật giáo Quảng Bình trở nên đa dạng, phong phú về đời sống tôn giáo.
Thời gian qua đi, có biết bao cổ t hưng rồi phế, có hàng chục cao tăng cũng như cư sĩ hữu công đã nhẹ bước liên đài đã làm cho việc phục dựng lại bức tranh toàn cảnh Phật giáo nơi đây trở nên khó khăn. Những gì mà nội dung bài viết đề cập mới chỉ là những mảnh ghép. Song ở đó vẫn là những điểm sáng chói từ lch sử chiếu rọi vào hiện tại.
 
 

Tài liu tham khảo


Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2019
 
  1. Tiến sĩ Sùng Nham Hầu Dương Văn An: Ô châu cận lục, Nguyễn Khắc Thuần dch (hiệu đính và chú giải), Nxb Giáo dục, 2009.
  2. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
  3. Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn): Chư tôn thiền đức & cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa, tập 2, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
  4. Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn (biên soạn): Chư tôn thiền đức & cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa, tập 3, Nxb Hồng Đức, 2016.
  5. Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Phương Đông, 2012.
  6. Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1. Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
  7. Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2. Từ Lý Nam Đế đến thời Lý Thái Tông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
  8. Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3. Từ Lý Thái Tông (1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây